Phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện ba tơ, tỉnh quảng ngãi - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THÚY AN

PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THÚY AN

PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
KHI LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH NĂM 2014 TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 838.01.07


hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi .......................................................64
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi ..................................65
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi ...................................................69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt

Nguyên văn

01

BLDS

: Bộ luật Dân sự

02

BLTTDS

: Bộ luật Tố tụng Dân sự

03

HĐXX


: Tòa án nhân dân tối cao

09

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

STT


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng

Tên bảng

Trang

2.1.

Công tác giải quyết các vụ việc HN&GĐ tại huyện Ba Tơ

47

2.2.

Lý do của các vụ án ly hôn tại huyện Ba Tơ

48


1


luật liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn, giúp cho
các bên thực hiện quyền của mình góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật,
tạo ra cách hiểu thống nhất, giúp cho việc giải quyết phân chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn kịp thời và hiệu quả, nhất là gắn với một địa phương cụ thể là
huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, nơi hàng năm có khoảng 42,7% án ly hôn được giải
quyết trong tổng số án thụ lý.
Chính vì vậy, học viên chọn đề tài: “Phân chia tài sản chung của vợ chồng
khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh
Quảng Ngãi” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật học của mình là việc làm có tính
cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xoay quanh đề tài nghiên cứu đã có nhiều công trình khoa học như luận án
tiến sĩ, thạc sĩ, giáo trình, tài liệu chuyên khảo và các bài báo, tạp chí, chuyên đề
nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan về pháp luật hôn
nhân và gia đình nói chung, về tài sản của vợ chồng khi ly hôn nói riêng, cụ thể
như:
Sách chuyên khảo: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật HN&GĐ năm
2000” của Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2002;“Bình luận khoa học Luật HN&GĐ Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Điện, NXB
trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002;“Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật
HN&GĐ Việt Nam” của Nguyễn Văn Cừ, NXB Tư Pháp, Hà Nội, 2008.
Bên cạnh đó, một số đề tài nghiên cứu khoa học như:“Chế độ tài sản của vợ
chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn
Văn Cừ, Đại học Luật Hà Nội, 2005; “Cơ sở lý luận và thực tiễn điều chỉnh quan
hệ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Luận văn thạc
sĩ của Nguyễn Thanh Mai, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012; “Chia tài

vấn đề lý luận và thực tiễn về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi;
trên cơ sở đó xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật và đưa ra một số quan điểm,
phương hướng hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật trong việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn góp phần bảo
về quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng cũng như các cá nhân có liên quan.

3


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận pháp lý và cơ sở thực tiễn về phân chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn.
Phân tích, đánh giá thực trạng việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn; tìm ra được những ưu điểm, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập trong
quá trình áp dụng pháp luật tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua.
Xác định nhu cầu hoàn thiện pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện
pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định trong Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2014. Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng pháp luật để giải quyết các
vụ, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ,
tỉnh Quảng Ngãi. Trong phạm vi của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu giải quyết việc
phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, còn đối với việc phân chia tài sản

Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho
các cặp vợ chồng tìm hiểu các quy định và nguyên tắc về phân chia tài sản chung
của vợ chồng khi ly hôn. Từ đó góp phần thực hiện pháp luật công bằng, dân chủ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phân chia tài sản chung của vợ chồng
khi ly hôn.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về phân chia
tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phân chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1. Khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn
Để làm rõ nội hàm khái niệm, đặc điểm phân chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn cần thiết phải làm rõ một số khái niệm có liên quan:
Tài sản chung của vợ chồng là gì?
Hiện nay, trong khoa học pháp lý tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về tài
sản, tuỳ thuộc vào góc độ và mục đích tiếp cận mà tài sản được định nghĩa và quy
định. Theo quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ
có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản”. Theo Tiêu
chuẩn Thẩm định giá Việt Nam số 12: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và
các quyền tài sản”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Tài sản là

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho
riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để
bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản
chung.”
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tài sản chung của vợ chồng là tài sản
thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ, chồng có quyền,
nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung đó, bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và
và những của cải vật chất có giá trị trong việc sản xuất hoặc tiêu dùng. Tài sản
chung của vợ chồng có thể bao gồm bất động sản và động sản.
Vợ, chồng với tư cách là chủ thể của quan hệ hôn nhân và gia đình và cũng là
chủ thể của sử dụng tài sản chung vợ chồng khi tham gia quan hệ dân sự. Như vậy,
để xác định tài sản chung của vợ chồng theo luật định thì căn cứ vào các yếu tố sau:

7


Một là, thời kỳ hôn nhân – căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định trên ta thấy, căn cứ quan trọng nhất khi xác định tài sản là tài
sản chung của vợ chồng hay không là sự ra đời và tồn tại quan hệ vợ chồng - thời
kỳ hôn nhân. “Thời kỳ hôn nhân” là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng,
được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân [36, khoản 13,
Điều 3]. Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính kể từ khi hai bên nam, nữ đăng ký kết
hôn - thời điểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật; việc đăng ký kết hôn
phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và các
điều kiện luật định. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 131 Luật HN&GĐ
năm 2014 thì các quan hệ HN&GĐ xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp

Tất cả những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn
nhân là tài sản chủ yếu, cơ bản nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng. Tài sản
này có thể do vợ hoặc chồng trực tiếp tạo ra thể hiện dưới dạng vật chất cụ thể như
nhà cửa, vật dụng trong gia đình…hoặc gián tiếp làm ra dựa trên công việc, năng
lực. Trên thực tế, thu nhập chủ yếu của các cặp vợ chồng thường là tiền lương, tiền
công lao động, những thu nhập và tài sản do vợ chồng làm kinh tế gia đình hoặc lợi
nhuận thông qua việc sản xuất, kinh doanh.
Trong xã hội ngày nay, lao động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi
công dân. Chính vì vậy, vợ, chồng có thể tự do tham gia lao động, sản xuất kinh
doanh để tạo ra tài sản, nhưng đó phải là những lao động hợp pháp. Nhà nước luôn
khuyến khích, tạo điều kiện cho các cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất, kinh
doanh. Bởi nó một mặt vừa mang lại tài sản để duy trì ổn định và phát triển gia
đình, mặt khác góp phần làm giàu cho xã hội. Thu nhập của vợ chồng gồm nhiều
loại, nhưng thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh là loại thu nhập
ổn định, cơ bản và chủ yếu.
Bên cạnh đó, các thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn
nhân như: tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp; hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ
chồng. Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2014. Hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng là thu nhập quan trọng của vợ chồng, nhằm duy trì đời sống chung
của gia đình nên pháp luật quy định đây là tài sản chung của vợ chồng.

9


Ngoài ra, những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho
chung cũng được xem là tài sản chung của vợ chồng. Đây là tài sản có tính chất đặc
thù trong khối tài sản chung vợ chồng, bởi tài sản này hình thành trên cơ sở ý chí
định đoạt của người khác và phải tuân theo quy định của pháp luật thừa kế và pháp

Do tính chất của quan hệ tài sản trong quan hệ hôn nhân là không có sự phân
biệt rạch ròi nên trong nhiều trường hợp tài sản chung - tài sản riêng của vợ, chồng
có sự trộn lẫn. Do đó, để đảm bảo công bằng, hợp lý cho các bên thì khi phân chia
tài sản các bên có quyền đưa ra các bằng chứng để chứng minh đó là tài sản riêng
của mình, nếu có căn cứ Tòa án sẽ công nhận đó là tài sản riêng của họ, nếu họ
không chứng minh được đó là tài sản riêng của mỗi bên thì đó là tài sản chung. Đây
là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000 và được Luật HN&GĐ năm 2014 kế
thừa. Việc xác định tài sản chung căn cứ vào nguyên tắc suy đoán có ý nghĩa như
một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa
vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản. Tuy nhiên, tác dụng của nguyên tắc này
chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định chắc
chắn tất cả các tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng.
Các căn cứ xác lập tài sản chung tạo ra đường lối giải quyết việc phân chia
tài sản chung của vợ chồng. Khi xác định được tài sản nào là tài sản chung của vợ
chồng thì việc phân chia như thế nào cho hợp tình, hợp lý, phù hợp với điều kiện,
hoàn cảnh và nhu cầu thực tế sử dụng của vợ chồng là vấn đề quan trọng là khâu
quyết định đến hiệu quả giải quyết tranh chấp về tài sản, nhất là khi hai vợ chồng ly
hôn.
Ta có thể hiểu, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết
định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng khi mà tình trạng
mâu thuẫn gia đình trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
nhân không đạt được, từ đó vợ, chồng muốn hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và
trách nhiệm của hôn nhân cũng như các ràng buộc dân sự khác. Ly hôn có hai dạng
là thuận tình ly hôn (cả hai vợ chồng đều mong muốn và cùng ký vào đơn ly hôn)
và ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng, trong trường hợp này Tòa án
phải thụ lý để xem xét, giải quyết cho ly hôn. Cùng với sự chấm dứt về quan hệ hôn
nhân thì chế độ tài sản chung của vợ chồng cũng chấm dứt kể từ thời điểm ly hôn.

11



12


cá nhân vợ và chồng..
Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có thể diễn ra cùng với việc vợ,
chồng xin ly hôn hoặc có thể diễn ra khi vợ chồng đã ly hôn vì thời điểm ly hôn vợ,
chồng không yêu cầu giải quyết về tài sản chung mà tự thỏa thuận, nhưng sau đó họ
không tự thỏa thuận được. Việc vợ, chồng yêu cầu phân chia về tài sản đồng thời
với việc ly hôn hoặc sau khi ly hôn đều được coi là vụ việc phân chia tài sản chung
của vợ chồng khi ly hôn. Mặc dù pháp luật đã có những quy định điều chỉnh vấn đề
giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn nhưng thực tiễn giải quyết lại rất phức
tạp, tồn tại nhiều khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc giải quyết ly hôn và phân
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Tòa án cũng là cơ quan duy nhất có trách nhiệm ra phán quyết chấm dứt quan hệ
hôn nhân của vợ chồng; là cơ quan tài phán mang tính quyền lực nhà nước và được
tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ. Tòa án nhân dân là cơ quan thực
hiện quyền tư pháp, nhân danh Nhà nước giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia
đình nói chung cũng như việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
Ngoài ra, trong một số trường hợp, mặc dù thời kỳ hôn nhân chấm dứt, nhưng vợ
chồng lại không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề tài sản của họ, đây là quyền tự
định đoạt của chủ sở hữu nên Tòa án tôn trọng quyết định của họ. Sau đó, có thể
vì một số lý do, hai bên phát sinh tranh chấp. Mặc dù lúc này quan hệ giữa họ là
quan hệ giữa các đồng sở hữu tài sản với nhau, nhưng nguồn gốc tài sản chung
vẫn từ quan hệ vợ chồng trước đây, nên Tòa án sẽ căn cứ vào cơ chế chia tài sản
của vợ chồng khi ly hôn tương ứng với các quy định tại Luật HN&GĐ hiện hành
để giải quyết.
1.2. Ý nghĩa của việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật về

đều thực hiện vai trò nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng khi hôn nhân
chấm dứt, tạo điều kiện để vợ, chồng có những cách thức "xử sự" theo yêu cầu của
pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội;
Thứ hai, trong lĩnh vực HN&GĐ, Luật HN&GĐ điều chỉnh các quan hệ về
nhân thân và tài sản phát sinh giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành

14


viên khác trong gia đình; trong đó, Luật HN&GĐ điều chỉnh trước tiên và chủ yếu
nhóm các quan hệ nhân thân, nó quyết định tính chất và nội dung của nhóm quan hệ
tài sản (ví dụ, khi quan hệ vợ chồng được xác lập hay chấm dứt, lúc đó vợ, chồng
phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con).
Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành chính sách phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN; bên cạnh những thành tựu đã đạt
được, do ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường, đạo đức trong gia đình và
xã hội bị xuống cấp nghiêm trọng; đặc biệt đã nảy sinh các hành vi cha mẹ không
quan tâm, chăm sóc con cái do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về
kinh tế. Khi vợ, chồng ly hôn việc thực hiện và áp dụng việc phân chia tài sản
chung của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ
nhân thân giữa cha mẹ với các con.
Thứ ba, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn góp phần điều
tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại. Bởi, trong
suốt thời kỳ hôn nhân, nhằm đáp ứng lợi ích cá nhân vợ, chồng và quyền lợi của gia
đình; vợ chồng phải ký kết rất nhiều hợp đồng dân sự với những người khác. Nhờ có
quy định phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà các giao dịch đó vẫn
được bảo đảm thực hiện, quyền lợi của vợ, chồng, của người tham gia giao dịch liên
quan đến tài sản của vợ chồng được bảo vệ. Từ đó, khi vợ chồng thực hiện quyền sở
hữu của mình, vì lợi ích chung của gia đình, của cá nhân vợ, chồng hay vì lợi ích của
người khác được ổn định trong một trật tự pháp lý. Các kết ước liên quan đến tài sản

cặp vợ chồng, các Thẩm phán khi giải quyết phải thấu tình, đạt lý và phù hợp với
thực tiễn của đời sống xã hội.
Thứ hai, ưu tiên và tôn trọng việc tự thoả thuận: Vợ chồng khi ly hôn có
quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia
tài sản. Việc cho phép vợ chồng tự thỏa thuận với nhau về chia tài sản khi ly hôn
thể hiện sự thay đổi tư duy lập pháp của các nhà làm luật. Đây là quan điểm pháp lý
được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận.
Thứ ba, hoàn cảnh của của vợ chồng: Hoàn cảnh gia đình của vợ chồng là
yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phân chia tài sản chung của vợ, chồng khi ly
hôn. Hoàn cảnh gia đình ở đây có thể hiểu là tình trạng về năng lực pháp luật, năng

16


lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của
vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền,
nghĩa vụ về nhân thân và tài sản. Ví dụ trường hợp người vợ hoặc chồng có những
khó khăn nhất định trong cuộc sống như: chi trả nhiều cho bệnh tật, mất sức lao
động, nuôi cha mẹ già… sẽ được xem xét như một tình tiết ưu tiên khi phân chia tài
sản chung của vợ, chồng khi ly hôn. Đây là điểm thể hiện tính nhân đạo của luật
pháp cũng như tình nghĩa giữa những người từng là vợ chồng của nhau. Cụ thể, bên
gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia
hoặc được ưu tiên nhận lại tài sản để đảm bảo duy trì, ổn định cuộc sống của họ
nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng. Tuy
nhiên, để biết bên nào gặp khó khăn hơn thì người nào cho rằng mình khó khăn hơn
thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Đồng thời, trong quá trình giải quyết Tòa án cần
xác minh và thu thập chứng cứ đề việc phân chia thể hiện rõ nét việc bảo vệ quyền
và lợi ích của các bên.
Bên cạnh đó, hoàn cảnh gia đình của vợ chồng trước khi ly hôn cũng quyết
định đến khối lượng tài sản chung khi phân chia. Thông thường, các trường hợp

người chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Chẳng hạn, vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ôtô trị giá 400 triệu đồng do
người chồng đang kinh doanh taxi cùng một cửa hàng tạp hóa trị giá 200 triệu đồng
do vợ quản lý. Khi giải quyết ly hôn và tài sản chung, tòa án phải xem xét giao cửa
hàng cho người vợ, giao ôtô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu
nhập. Người chồng được nhận phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho vợ
thêm 100 triệu đồng.
1.4. Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật về phân chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn
Pháp luật là hệ thống các quy tắc hành vi, quy tắc xử sự do Nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Pháp luật thể hiện rõ tính
ý chí của nhà nước với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể
từ đó đáp ứng được nguyện vọng, mong muốn của nhân dân. Bên cạnh đó, pháp luật
được tạo bởi hệ thống các quy phạm pháp luật, là khuôn mẫu, là mô hình xử sự
chung. Trong xã hội, các hành vi xử sự của con người rất khác nhau, tuy nhiên nhờ

18


có tính quy phạm phổ biến mang tính bắt buộc chung của pháp luật mà mỗi cá nhân
đưa ra được các xử sự chung phù hợp với đa số. Ngoài ra, pháp luật có tính xác định
chặt chẽ về mặt hình thức, nó thể hiện nội dung pháp luật dưới những hình thức
nhất định, rõ ràng, chặt chẽ được khái quát trong các điều, khoản của các điều luật
trong một văn bản quy phạm pháp luật cũng như toàn bộ hệ thống pháp luật do nhà
nước ban hành. Pháp luật không chỉ do nhà nước ban hành mà nhà nước còn bảo
đảm cho pháp luật được thực hiện, có nghĩa là nhà nước trao cho các quy phạm
pháp luật có tính quyền lực bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Pháp
luật trở thành quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung nhờ vào sức mạnh quyền lực của
nhà nước. Tùy theo mức độ khác nhau mà nhà nước áp dụng các biện pháp về tư

Quản lý xã hội bằng pháp luật là dùng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã
hội nhằm thiết lập một trật tự, trong đó các quan hệ xã hội phát triển theo những
hướng xác định nhằm đạt được mục đích đề ra.
Điều chỉnh pháp luật là quá trình nhà nước dùng pháp luật (với tư cách là
công cụ điều chỉnh) tác động lên hành vi của các thành viên trong xã hội nhằm đạt
được những mục đích đề ra.
Ngày nay, sự phát triển của xã hội, sự phức tạp của các quan hệ xã hội nói
chung và quan hệ hôn nhân nói riêng thì nhu cầu trật tự hóa xã hội cũng như trật tự
hóa gia đình bởi một hệ thống quy phạm là rất cần thiết. Thực tiễn cho thấy, sự tác
động qua lại giữa pháp luật và các quan hệ hôn nhân và gia đình rất đa dạng, phức
tạp. Một mặt, các quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là quan hệ về tài sản của
vợ chồng khi ly hôn có vai trò to lớn đối với việc hình thành các quy định của pháp
luật; mặt khác, chính bản thân các quan hệ hôn nhân và gia đình lại là đối tượng tác
động có mục đích của pháp luật.
Đối với những cách thức phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
phù hợp, đáp ứng lợi ích của vợ, chồng, các con và người có nghĩa vụ liên quan thì
pháp luật bảo vệ, củng cố và tạo điều kiện cho chúng phát triển. Ví dụ: Khi ly hôn
nhưng vấn đề tài sản, con cái vợ chồng có thể tự thỏa thuận với nhau và phù hợp
với nguyện vọng của các bên thì đây là một trong những căn cứ để Tòa án công
nhận thuận tình ly hôn. Hoặc việc tự phân chia tài sản bằng hình thức thỏa thuận
cho tặng tài sản là nhà, xe… cho nhau trước khi ly hôn sẽ giúp cho vợ, chồng không
phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ theo quy định. Thời gian

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status