Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn Luận văn ths luật - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ MINH MẪN
GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP
VÒ CHIA TµI S¶N CHUNG CñA Vî CHåNG KHI LY H¤N Chuyên ngành: Luật dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. HÀ THỊ MAI HIÊN HÀ NỘI - 2014


Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA
VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 7
1.1. Cơ sở lý luận của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn 7
1.1.1. Khái niệm và nội hàm tài sản chung của vợ chồng 7
1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn 9
1.1.3. Đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp về chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn 11
1.2. Cơ sở và căn cứ pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 12
1.2.1. Pháp luật về nội dung: Các nguyên tắc và các nội dung cụ thể 14
1.2.2. Pháp luật về tố tụng: Quyền hạn, nghĩa vụ, thẩm quyền của các
chủ thể và trình tự, thủ tục trong giải quyết tranh chấp chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn 26
1.3. Các điều kiện và các yếu tố đảm bảo hiệu quả của việc giải
quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 43
Kết luận chương 1 45

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 46
2.1. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung

HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
UBND: Ủy ban nhân dân
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1:

Thống kê giải quyết các vụ việc hôn nhân 48
Bảng 2.2:

Công tác hòa giải các vụ án lao động 49
Bảng 2.3:

Công tác hòa giải các vụ án hôn nhân và gia đình 49

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, gia đình luôn là tế bào của xã hội, là nơi những người
có quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng cùng chung sống. Gia đình
hòa thuận và hạnh phúc sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững và phồn thịnh
chung của xã hội. Nhận thức được vị thế quan trọng của gia đình, Đảng và

Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc
nghiên cứu về các tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được
quan tâm và chú ý, được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập.
Một số tài liệu chuyên khảo về hôn nhân và gia đình như: Giáo trình
Luật HN&GĐ Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật
HN&GĐ của khoa luật, Trường Đại học Cần Thơ… các giáo trình này đều đề
cập đến các kiến thức pháp lý cơ bản và khái quát về tài sản chung vợ chồng.
Bên cạnh đó, các bài viết liên quan đến tài sản chung của vợ chồng như “Chế
độ tài sản chung vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Văn Cừ; tác giả Đoàn Thị Phương Diệp với “Nguyên tắc suy
đoán tài sản chung trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và Luật dân sự
Pháp”; tác giả Nguyễn Văn Cừ- Ngô Thị Hường với “Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Các bài viết này đã đề
cập một cách khái quát về các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng.
Bên cạnh đó, phải kể đến một số công trình nghiên cứu như “Chia tài
sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000”
của tác giả Nguyễn Thị Lan “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng

3
trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Nguyễn Hồng Hải; “Một số vấn đề chia
tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000” của tác giả
Nguyễn Thị Bích Vân, các công trình này đã nghiên cứu một cách tương đối
toàn diện các nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng.
Mặc dù vậy, với xu hướng các vụ án ly hôn và chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn hiện nay ngày càng tăng và việc Luật HN&GĐ năm 2014
mới được ban hành và bước đầu đi vào áp dụng trong thực tiễn xét xử thì việc
nghiên cứu các quy định của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp về chia
tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là điều rất quan trọng, qua nghiên cứu
sẽ thấy được những tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014 và những hạn chế,
bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh

sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
- Báo cáo tổng kết công tác xét xử của ngành toà án.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự, Luật HN&GĐ năm 2014 và một số văn bản khác có liên quan về
quy trình, thủ tục tố tụng giải quyết cá tranh chấp về chia tài sản chung của
vợ, chồng; các căn cứ pháp luật về nội dung để giải quyết tranh chấp về chia
tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng
pháp luật giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn qua thực tiễn xét xử tại toà án thông qua các vụ án cụ thể trong thời gian
từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực đến nay. Đề tài chỉ nghiên cứu
giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn, còn
những tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc

5
các tranh chấp về tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi ly hôn không được
nghiên cứu trong đề tài này. Đề tài nghiên cứu về thủ tục tố tụng và các quy
định về nội dung của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn.
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều
chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử
dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, mô hình hoá và
đồng thời nghiên cứu những báo cáo công tác xét xử của toà án, các bản án
của toà án giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn,
các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn đề nghiên cứu.
7. Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài
Đây là một đề tài có tính chuyên sâu đồng thời có tính thực tiễn sâu sắc


7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT
CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1. Cơ sở lý luận của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn
1.1.1. Khái niệm và nội hàm tài sản chung của vợ chồng
Trong quá trình vợ chồng chung sống, ngoài tình cảm thì giữa vợ
chồng còn cần có tài sản chung, tài sản chung được coi là một điều kiện
không thể thiếu để duy trì mối quan hệ vợ, chồng.
Tài sản theo nghĩa Từ điển tiếng việt là của cải, vật chất dùng vào mục
đích sản xuất và tiêu dùng, theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 thì “Tài
sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” [21, Điều 163].
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng, là
hình thức sở hữu chung đặc biệt. Xuất phát từ quan hệ hôn nhân, sự tồn tại
của chế độ tài sản chung vợ chồng phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn
nhân và chấm dứt khi một trong hai vợ chồng chết hoặc có bản án, quyết định
của Tòa án cho vợ chồng ly hôn.

tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ
hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của
Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng
cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là
tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được
thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao
dịch bằng tài sản riêng.

9
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất,
được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ
chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản
mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài
sản đó được coi là tài sản chung [23, Điều 33].
Từ những phân tích trên, có thể hiểu rằng “Tài sản chung vợ chồng là
những tài sản được hình thành hoặc tạo ra phù hợp với những căn cứ xác lập
tài sản chung vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ”.
1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn
Ly hôn là sự kiện làm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ,
đồng thời với sự chấm dứt quan hệ hôn nhân thì chế độ tài sản chung của vợ
chồng cũng chấm dứt kể từ thời điểm ly hôn. Khi ly hôn do có sự mâu thuẫn
về quan hệ tình cảm nên vợ chồng khó tìm được tiếng nói chung trong việc
phân chia tài sản chung từ đó dễ xảy ra tranh chấp chia tài sản chung.
Theo Từ điển tiếng Việt thì tranh chấp được hiểu là sự tranh giành nhau
một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào.
Tranh chấp về tài sản vợ chồng thường xảy ra chủ yếu và gần như đồng
thời cùng với việc ly hôn, điều này là hợp lý bởi lẽ khi ly hôn thì vợ chồng đã

chồng. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì việc giải quyết ly hôn và
chia tài sản chung của vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Khi
vợ, chồng có đơn gửi đến Tòa án yêu cầu giải quyết ly hôn và cùng với việc
giải quyết ly hôn họ yêu cầu giải quyết về tài sản thì Tòa án sẽ tiến hành thụ
lý vụ án, thực hiện các thủ tục, quy trình tố tụng đã được pháp luật quy định
cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự như lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa
giải, định giá, mở phiên tòa (nếu hòa giải không thành) Các bước tố tụng này

11

giúp Tòa án có thể xem xét, đánh giá chứng cứ, cân nhắc kỹ, quyết định về
tính hợp pháp, hợp lý trong lời khai, chứng cứ do các bên đưa ra. Nếu đủ cơ
sở pháp lý xác định tài sản tranh chấp là tài sản chung của vợ chồng thì Tòa
án căn cứ vào quy định của Luật HN&GĐ hiện hành để giải quyết chia tài sản
chung của vợ chồng.
Như vậy, có thể hiểu “Giải quyết tranh chấp chia tài sản chung vợ,
chồng khi ly hôn là tổng hợp các hành vi tố tụng của Tòa án, đương sự và các
chủ thể khác theo trình tự, thủ tục do luật định, được tính từ giai đoạn đương
sự có đơn khởi kiện, Tòa án tiếp nhận và thụ lý đơn khởi kiện của đương sự
cho đến các bước tố tụng khác như hòa giải, thu thập, nghiên cứu, đánh giá
chứng cứ và đưa ra phán quyết cuối cùng dựa trên cơ sở các quy định của
pháp luật về việc xác định tài sản chung và các nguyên tắc chia tài sản chung
khi ly hôn nhằm đảm bảo sự công bằng, hợp tình, hợp lý cho vợ, chồng khi họ
không thỏa thuận được việc phân chia tài sản chung”.
1.1.3. Đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp về chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Bản chất việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là một hình
thức phân chia nhằm chuyển những tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng
thành tài sản riêng của vợ, chồng gắn liền với sự kiện ly hôn.
Do đặc thù của quan hệ hôn nhân và gia đình nên giải quyết tranh

chế trong lĩnh vực hôn nhân gia đình vừa hạn chế được những mâu thuẫn, bất
đồng giữa những con người đã từng có những mối quan hệ thiêng liêng về
huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng.
1.2. Cơ sở và căn cứ pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Khi vợ chồng có tranh chấp về chia tài sản chung thì họ có quyền
thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản, nếu không thỏa thuận được

13

họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung, việc yêu cầu Tòa
án giải quyết có thể đồng thời cùng với việc giải quyết ly hôn hoặc sau khi
họ đã ly hôn.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Tòa án là cơ quan có thẩm
quyền xét xử các vụ án tranh chấp trong đó có các tranh chấp về hôn nhân và
gia đình. Hiến pháp 2013 quy định:
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân gồm
Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định. Tòa án nhân
dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [22, Điều 102].
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự thì những tranh chấp sau về
hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Tòa án xem xét, giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ
chồng khi vợ, chồng hoặc của cả hai vợ chồng có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết, đây là điều kiện cần để Tòa án xem xét, thụ lý vụ án và giải
quyết yêu cầu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật.
Việc khởi kiện phải đáp ứng đủ các điều kiện về quyền khởi kiện, phạm
vi khởi kiện, hình thức, nội dung đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo,

theo quyết định của Tòa án [21, Điều 219].
Cụ thể hóa quy định của Hiến Pháp và BLDS, Luật HN&GĐ, ngành
luật chuyên ngành điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản trong quan
hệ hôn nhân và gia đình đã có quy định cụ thể về tài sản chung của vợ chồng.
Trải qua các thời kỳ xây dựng và áp dụng, Luật HN&GĐ đã từng bước
hoàn thiện về sự phù hợp và tính khả thi trong thực tế. Luật HN&GĐ năm

15

1959 bước đầu xác lập sự bình đẳng trong việc xác lập, sử dụng tài sản chung
vợ chồng, theo đó “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng
ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới” [15, Điều 15]. Kế thừa
quan điểm trên, Luật HN & GĐ năm 1986 đã quy định “Tài sản chung của vợ
chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp về nghề
nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng được thừa kế chung
hoặc tặng cho chung” [16, Điều 14].
Các quy định của Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986
còn thiếu tính rõ ràng và hợp lý, chưa bao trùm được các căn cứ xác lập tài
sản chung của vợ chồng trong đó quan trọng nhất là chưa quy định được căn
cứ xác lập tài sản chung dựa vào thời kỳ hôn nhân.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc và phát huy, Luật HN&GĐ năm 2000
đã có những quy định hợp lý hơn về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ
chồng, trong đó điểm tiến bộ nhất là đưa ra căn cứ xác lập tài sản chung dựa
vào thời kỳ hôn nhân và nguyên tắc suy đoán “Nếu không chứng minh được
tài sản riêng thì là tài sản chung” [18, Điều 27]. Quy định về nguyên tắc suy
đoán “có ý nghĩa như một nguyên tắc có tính chất định hướng trong việc giải
quyết các tranh chấp giữa vợ chồng với nhau về nguồn gốc tài sản” [42].
trong việc xác định tài sản chung vợ chồng đã góp phần bảo vệ
quyền lợi của những người vợ, người chồng có thế yếu trong gia đình,
những người sống phụ thuộc không có thu nhập hoặc làm những người chỉ

những trường hợp này thì dù họ đăng ký kết hôn hay không đăng ký kết hôn
thì thời kỳ hôn nhân của họ vẫn được tính từ thời điểm họ chung sống với
nhau, tài sản chung của họ cũng đồng thời được xác lập cùng thời điểm họ
sống chung. Đối với trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng
sau ngày 03/01/1987 đến trước ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, có
đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn thì họ có nghĩa vụ đi đăng

17

ký kết hôn trong thời hạn hai năm kể từ ngày 01/01/2001 đến ngày
01/01/2003 theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/QH 10 của Quốc hội
ngày 9/6/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Toàn bộ tài sản do vợ chồng tạo ra được trong thời kỳ hôn nhân là tài
sản chủ yếu, cơ bản, ổn định nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng. Tài
sản này do vợ chồng trực tiếp hoặc gián tiếp làm ra dựa trên công việc, năng
lực, bàn tay, khối óc của vợ, chồng như làm việc, mua sắm đồ đạc, mua nhà
cửa, thuê nhân công sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận…
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ
hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Đây là một quy định mới của Luật
HN&GĐ năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000.
Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong nhiều trường hợp là một
loại hình thu nhập quan trọng của vợ chồng, nhằm duy trì đời sống chung của
gia đình nên pháp luật quy định đây là tài sản chung của vợ chồng. Các bên
trong quá trình chung sống vẫn có thể thỏa thuận đó là tài sản riêng, điều này
pháp luật không cấm vì pháp luật luôn tôn trọng nguyên tắc tự thỏa thuận và
quyền định đoạt tài sản riêng của mỗi người.
Thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ
chồng. Hiện nay chưa có nghị quyết hướng dẫn mới về thu nhập hợp pháp
nhưng theo quy định của Nghị quyết 02/2000/NĐ- CP ngày 23/12/2000 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy

thì giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này” [23, Điều 34]. Quy
định này đã khẳng định việc đứng tên trong GCNQSDĐ đối với quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân dù do một mình vợ
hoặc chồng đứng tên thì đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng nếu người đứng
tên trong GCNQSDĐ không chứng minh được đó là tài sản riêng. Mặc dù
trước đó Luật HN&GĐ năm 2000 đã có quy định về nguyên tắc suy đoán khi

19

xác định tài sản chung, nhưng việc Luật HN&GĐ năm 2014 quy định riêng,
cụ thể về vấn đề suy đoán khi xác định tài sản chung đối với quyền sử dụng
đất đã tạo ra một cách tiếp cận rõ ràng, cụ thể hơn cho các cặp vợ chồng khi
làm hồ sơ cấp GCNQSDĐ, bảo vệ được quyền lợi của những người vợ, người
chồng ít tham gia vào các công việc xã hội hoặc vì điều kiện nhất định mà khi
đăng ký kê khai cấp GCNQSDĐ họ không trực tiếp tham gia và không đứng
tên trong GCNQSDĐ, quy định này cũng giúp tránh khuynh hướng xấu của
một số bộ phận không nhỏ người vợ hoặc người chồng lợi dụng việc đứng tên
một mình trong GCNQSDĐ để khi ly hôn họ một mực cho rằng đó là tài sản
riêng của họ.
- Tài sản chung xác lập dựa trên ý chí của các bên: “Tài sản chung của
vợ chồng còn bao gồm cả những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản
chung” [23, Điều 33].
Những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung có nguồn gốc là
tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Tài sản riêng của vợ chồng bao gồm các tài
sản được quy định tại Điều 43 Luật HN&GĐ năm 2014. Việc nhập tài sản
riêng vào tài sản chung của vợ chồng phải tuân thủ theo đúng các quy định tại
Điều 46 Luật HN&GĐ năm 2014.
Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung là một trong
những căn cứ xác lập tài sản chung vợ, chồng. Việc vợ, chồng thỏa thuận
nhập tài sản riêng vào tài sản chung có thể là mặc nhiên hoặc bằng văn bản.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status