BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÒ THỊ THU HOA
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: CHLK1TB1004
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Cừ
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hỗ trợ
của giáo viên hướng dẫn. Các kết quả, số liệu, ví dụ nêu trong Luận văn này là
trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác. Tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về luận văn này nếu có sự tranh chấp
NGƯỜI CAM ĐOAN
Lò Thị Thu Hoa
GCNQSDĐ
HN&GĐ
TAND
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Hôn nhân và gia đình
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
VKSND
Viện Kiêm sát nhân dân
UBND
MNLHVDS
Nghị định số
126/2014/NĐ-CP
Ủy ban nhân dân
Mất năng lực hành vi dân sự
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân
và gia đình
Thông tư liên tịch số
Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06 tháng 01 năm 2016 của
VKSNDTC-BTP
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CHIA TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TỈNH SƠN LA................................ 33
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, dân số và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội
đối với chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La. ............. 33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................................. 33
2.1.2. Dân số và sự phân bố dân cư ........................................................................... 34
2.1.3. Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội ................................................................. 34
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La ............................................................ 36
2.2.1. Những kết quả đã đạt được trong việc áp dụng pháp luật giải quyết chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La .......................................................... 36
2.2.2. Một số hạn chế trong áp dụng pháp luật giải quyết chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La ................................................................................. 44
2.3. Những khó khăn, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân trong thực
tiễn áp dụng pháp luật giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn tại tỉnh Sơn La ................................................................................ 46
2.3.1. Những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải
quyết chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La ............................ 46
2.3.2. Những nguyên nhân trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại tỉnh Sơn La ........................................... 57
Kết luận chương 2 .......................................................................................... 62
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP ĐIỀU
CHỈNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CHIA TÀI
SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TẠI TỈNH SƠN LA ............ 63
những quyền và nghĩa vụ giữa người vợ và người chồng như phải yêu thương, chung
thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau… vợ và chồng còn hình thành chế độ tài
sản mà trong đó có sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Tuy nhiên, trong nhiều
trường hợp, quan hệ hôn nhân chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách
quan khác nhau, đã không giữ được ý nghĩa cũng như giá trị ban đầu, cuộc sống hôn
nhân không còn hạnh phúc, để giải phóng cho người trong cuộc, họ có quyền chấm
dứt quan hệ hôn nhân đó bằng ly hôn. Khi ly hôn, hậu quả pháp lý của ly hôn sẽ được
giải quyết, đặc biệt là về chia tài sản chung của vợ chồng.
Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, một số văn bản Luật của nhà
nước ta cũng đã kịp sửa đổi, bổ sung và ban hành để phù hợp với tinh thần của
Hiến pháp mới và tình hình thay đổi của đất nước, trong đó có Luật HN&GĐ năm
2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Luật HN&GĐ năm 2014 đã có nhiều quy
định mới tương đối cụ thể về chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó đặc biệt là quy
định về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, đã phát huy được hiệu quả trong việc
điều chỉnh các quan hệ pháp luật về HN&GĐ, góp phần xây dựng và phát triển chế
2
độ HN&GĐ, tạo cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ,
chồng và các thành viên khác trong gia đình.
Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của xã hội, số lượng các vụ án ly hôn có
tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có xu hướng gia tăng, tính chất
phức tạp cũng như giá trị của tài sản lớn đã gây rất nhiều khó khăn, áp lực cho cơ
quan xét xử. Pháp luật HN&GĐ đã có những quy định tương đối đầy đủ, có các văn
bản hướng dẫn nhằm áp dụng có hiệu quả trong công tác xét xử của tòa án về chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Vì vậy, để làm sáng tỏ các quy định để áp dụng
pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và phát hiện những vướng
mắc, bất cập để từ đó nêu các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn, cụ thể là trên địa bàn tỉnh Sơn La, tôi đã lựa
Nhóm các công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên báo, tạp chí chuyên
ngành pháp luật:
- Thu Hương – Duy Kiên (2013), Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung
của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ - Thực tiễn giải quyết, tạp chí TAND,
Số 5/2013.
- Bùi Minh Hồng (2009), Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng trong
pháp luật Cộng hòa Pháp và pháp luật Việt Nam, tạp chí Luật học số 11/2009.
- TS. Nguyễn Phương Lan (2008), Tài sản vợ chồng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Đại học Luật Hà Nội.
- Nguyễn Văn Cừ (2015), Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong
pháp luật HN&GĐ Việt Nam, Tạp chí luật học số 4/2015.
- Nguyễn Văn Cừ (2014), Một số nội dung cơ bản về chế độ tài sản của vợ
chồng theo pháp luật Việt Nam – Được kế thừa và phát triển trong dự thảo luật
HN&GĐ (sửa đổi) (Kỳ 1), Tạp chí TAND, tháng 4/2014 (số 8).
- Nguyễn Văn Cừ (2014), Một số nội dung cơ bản về chế độ tài sản của vợ
chồng theo pháp luật Việt Nam – Được kế thừa và phát triển trong dự thảo luật
HN&GĐ (sửa đổi) (Kỳ 2), Tạp chí TAND, tháng 5/2014 (số 9).
- Nguyễn Hoàng Long (2015), Bàn về công sức trong vụ án HN&GĐ, tạp chí
TAND, tháng 5/2015.
Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu, đề cập đến nhiều khía cạnh của
vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng hoặc chỉ để cập một vấn đề nhỏ của chia tài
sản chung của vợ chồng, chưa đi sâu vào nghiên cứu việc áp dụng các quy định của
pháp luật để chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại một khoảng thời gian và
địa điểm cụ thể. Để thấy được những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng các căn cứ
pháp luật này trên thực tế, giải quyết cụ thể các trường hợp chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn, từ đó có những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
4
5
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Cơ sở nghiên cứu của luận văn là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác
– Lênin và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ
HN&GĐ với các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp lịch sử: Sử dụng khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có trước khi Luật HN&GĐ năm 2014
ban hành.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích về trường hợp
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; khái quát được những nội dung cơ bảo
của từng vấn đề trong luận văn.
- Phương pháp so sánh được thực hiện khi đối chiếu các quy định của pháp
luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 so
với các quy định của pháp luật trước đây.
- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn hoạt
động xét xử của Tòa án, từ các số liệu cụ thể giải quyết tranh chấp về chia tài sản
chung của vợ chồng. Tìm ra mối liên hệ giữa các quy định của pháp luật với thực tiễn
áp dụng đã phù hợp hay chưa? Các lý do? Từ đó xem xét nội dung quy định của pháp
luật về chia tài sản chung của vợ chồng, với thực tiễn của đời sống xã hội nhằm nâng
cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cơ cấu luận văn
gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về áp dụng pháp luật chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật chia tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn trên địa bàn tỉnh Sơn La.
bảo vệ các quan hệ xã hội đã và đang được thiết lập. ADPL là hoạt động diễn ra
hằng ngày trong các cơ quan nhà nước và chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực hiện, Trong hoạt động tư pháp, ADPL thường được Điều tra viên, Kiểm sát
viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân… tiến hành theo một thủ tục tố tụng nhất
định để thu thập chứng cứ, xác minh, điều tra làm rõ các tình tiết của vụ án nhằm
xác định sự thật khách quan; truy cứu trách nhiệm pháp lý; xác định quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể quan hệ pháp luật.
7
ADPL vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là cách thức Nhà nước tổ
chức cho các chủ thể thực hiện pháp luật.
ADPL thường được thực hiện trong các trường hợp sau:
- Khi cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế bằng những chế tài thích hợp đối
với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật.
- Khi quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không tự phát sinh nếu không
có sự tác động của Nhà nước.
- Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia
các quan hệ pháp luật mà họ không tự giải quyết được.
- Trong trường hợp Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám
sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc Nhà nước xác nhận sự tồn tại
hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế.
Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà
Nội thì: ADPL được hiểu là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông
qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ
thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các
quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ
hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể.
Theo cuốn tài liệu Học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về Nhà
thẩm quyền, mỗi cá nhân chỉ được giao một số hoạt động nhất định trong phạm vi
thẩm quyền của mình. Hoạt động ADPL được tiến hành chủ yếu theo ý chí đơn
phương của các cơ quan nhà nước hay những người có thẩm quyền không phụ
thuộc vào ý chí của những chủ thể có liên quan. Trong trường hợp cần thiết áp
dụng pháp luật được thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước. Trong quá trình áp dụng
pháp luật các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền phải xem xét cân
nhắc thận trọng và dựa trên những quy phạm pháp luật đã được xác định để ra văn
bản áp dụng pháp luật cụ thể. Văn bản ADPL là hình thức thể hiện chính thức hoạt
động áp dụng pháp luật, là văn bản pháp lý cá biệt mang tính quyền lực nhà nước,
người có thẩm quyền xây dựng, được nhà nước trao quyền ban hành trên cơ sở
những quy phạm pháp luật nhằm xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của cá
nhân tổ chức hoặc xác định những biện pháp, trách nhiệm pháp lý đối với những
chủ thể vi phạm pháp luật.
1
T.S Nguyễn Thi Hồi (chủ biên) (2009) “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay”, NXB Tư pháp, Hà Nội.
9
Thứ hai, ADPL là hoạt động được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do
pháp luật quy định. Quyền và nghĩa vụ của các các bên tham gia quan hệ pháp luật
được pháp luật quy định rõ ràng nên các cơ quan nhà nước và những người có thẩm
quyền khi ADPL phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định để tránh sự tùy tiện có thể
dẫn đến việc ADPL không đúng, thiếu chính xác, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật. Hình thức thể hiện của áp dụng
pháp luật là văn bản ADPL được thể hiện bằng các bản án, quyết định… các loại
văn bản trên phải phù hợp với pháp luật, được dựa trên những quy phạm pháp luật
cụ thể. Văn bản ADPL có hai loại là văn bản xác định quyền và nghĩa vụ của các
luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định
của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm
dứt các quan hệ pháp luật cụ thể. Các quy phạm pháp luật rất phong phú, đa dạng
nên thực hiện pháp luật cũng rất đa dạng và phong phú. Căn cứ vào tính chất của
hoạt động thực hiện các quy phạm pháp luật, khoa học pháp lý hiện nay chia thực
hiện pháp luật thành bốn hình thức sau: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử
dụng pháp luật và áp dụng pháp luật. Như vậy, ADPL là một trong những hình thức
thực hiện pháp luật và là hình thức có sự can thiệp của Nhà nước. Tuy nhiên, sự
can thiệp của Nhà nước không chỉ thông qua các cơ quan nhà nước, nhà chức trách
mà một trong số trường hợp đặc biệt một tổ chức xã hội cũng có thể thực hiện hoạt
động này. Nhưng dù chủ thể của ADPL có là ai đi nữa thì cũng phải tuân thủ những
hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng
được xác lập sau khi kết hôn”. Do đó, nếu như nam nữ có đủ các điều kiện kết hôn
được quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 và không vi phạm các
điều cấm tại điểm a, b, c và d tại khoản 2 Điều 5 Luật này mà có thực hiện việc
đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận
kết hôn thì họ trở thành vợ chồng. Đây là hình thức ADPL của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, cụ thể là công chức tư pháp xã thực hiện việc đăng ký kết hôn cho
nam và nữ. Pháp luật quy định khi nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau thì
sẽ làm phát sinh chế độ tài sản chung hợp nhất của vợ chồng kể từ thời điểm kết
hôn. Theo đó, những tài sản sau đó mà mỗi bên có được có thể sẽ là tài sản chung
hoặc tài sản riêng của vợ, chồng căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc của tài
sản đó. Vì vậy, khi vợ chồng có mâu thuẫn xảy ra, một trong hai bên yêu cầu hoặc
cả hai bên yêu cầu ly hôn, Tòa án cũng ADPL để giải quyết hậu quả pháp lý của ly
hôn, trong đó có ADPL chia tài sản chung của vợ và chồng.
11
12
chứng cứ mà các bên đưa ra và căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản để
xác định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng. Người nào cho rằng đó là tài sản
riêng của mình thì phải chứng minh, trường hợp không có căn cứ chúng minh tài sản
mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó sẽ được
coi là tài sản chung (khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014). Việc xem xét các tài
liệu, chứng cứ phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng quy
định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
Thứ ba, ADPL trong giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng là hoạt động
mang tính cá biệt nhằm cụ thể hóa những quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng.
Khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng hoặc cha, mẹ, người thân thích theo
quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 có đơn yêu cầu ly hôn thì
“Tòa án sẽ thụ lý đơn yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật về tố tụng”
(Khoản 1 Điều 53 Luật HN&GĐ năm 2014). Như vậy, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết
vụ việc HN&GĐ khi có đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi
đơn yêu cầu. Vì, trong quan hệ dân sự nói chung, Tòa án tôn trọng sự thỏa thuận
của các đương sự, nếu sự thỏa thuận đó đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên,
đặc biệt là của vợ và con thì Tòa án sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó.
Nếu như các bên đã thỏa thuận nhưng chưa thỏa thuận được hết hoặc không thỏa
thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa án sẽ chỉ giải quyết trong
phạm vi đương sự yêu cầu. Sau đó, Tòa án“căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản
án, ... quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân. Bản án, quyết
định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn
trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”(Khoản
2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án năm 2014). Vì vậy, các phán quyết của Tòa án về
chia tài sản chung của vợ chồng là hoạt động mang tính cá biệt nhằm cụ thể hóa
những quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng trong các quyết định, bản án.
độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ tài
sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản
giữa vợ và chồng. Tài sản được phân loại gồm: tài sản chung và tài sản riêng. Với
quan hệ tài sản chung, vợ chồng cùng tham gia vào việc tạo lập, duy trì và phát
triển khối tài sản mà họ có quyền sở hữu chung. Trong khi quan hệ tài sản riêng
bảo tồn sự độc lập của mỗi người trong việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu đối
với tài sản”3. Định nghĩa này đã cho thấy những nội dung cơ bản của chế độ tài sản
2
ThS. Lê Mạnh Hùng, Áp dụng án lệ trong giải quyết vu việc dân sự tại Tòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số 4/2016
3
Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, tập 2, Khoa Luật Đại học Cần Thơ
14
của vợ chồng, tuy nhiên còn có điểm chưa chính xác khi cho rằng chế độ tài sản
của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh “quan hệ tài sản” của
vợ chồng. Theo tinh thần của Luật HN&GĐ thì quan hệ tài sản của vợ chồng bao
gồm ba vấn đề: quyền sở hữu tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng
giữa vợ và chồng, quyền thừa kế tài sản; trong khi đó, nói đến chế độ tài sản của vợ
chồng thường là chỉ bao gồm các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu tài sản của vợ
và chồng mà thôi.
Theo PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ “Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các
quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy
định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản
chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng
theo luật định”4. PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ cũng định nghĩa về chế độ tài sản của
lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các quy
định về điều kiện kết hôn và được đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền theo quy định trong pháp luật HN&GĐ.
Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình đối với sự tồn tại
và phát triển của xã hội, nhà nước bằng pháp luật quy định chế độ tài sản của vợ
chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi
của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng, sau đó là lợi ích của các
thành viên trong gia đình. Những quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ
chồng là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của mình đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế độ tài sản này phụ thuộc vào sự phát
sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác, chế độ tài sản của vợ
chồng thường chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân. Khi hôn nhân chấm dứt chế độ tài
sản mà vợ chồng thỏa thuận, sở hữu chung hợp nhất cũng chấm dứt.
Chế độ tài sản của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật hôn
nhân và gia đình được nhà nước quy định dựa trên sự phát triển của điều kiện kinh
tế - xã hội. Nó thể hiện tính giai cấp, bản chất của chế độ chính trị - xã hội cụ thể.
Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ
chồng được liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng lực chọn
chế độ tài sản nào luôn được pháp luật quy định rõ. Việc phân định các loại tài sản
trong quan hệ giữa vợ và chồng của chế độ tài sản còn nhằm xác định các quyền và
nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng và cơ sở giải
quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau hoặc với những người khác
trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các bên vợ
chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.
16
1.3.3. Các loại chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật
17
thực. Văn bản thỏa thuận về tài sản phải được lập trước khi kết hôn và phải có hiệu
lực kể từ thời điểm các bên đăng ký kết hôn. Văn bản thỏa thuận của các bên bao
gồm nội dung liên quan đến tài sản mà không liên quan đến quan hệ nhân thân của
vợ chồng. Nội dung thỏa thuận phải đáp ứng những nội dung cơ bản theo Khoản 1
Điều 48 và trong thời gian thực hiện vợ chồng có thể sửa đổi, bổ sung toàn bộ hoặc
một phần nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản (Điều 17 Nghị định số
126/2014/NĐ-CP). Bên cạnh việc tôn trọng quyền tự định đoạt đối với tài sản của
vợ chồng, pháp luật còn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và
các thành viên trong gia đình. Trong trường hợp sự thỏa thuận xâm phạm đến các
lợi ích được pháp luật bảo vệ thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên
quan, Tòa án có thể tuyên bố chế độ tài sản theo thỏa thuận bị vô hiệu khi vi phạm
Điều 50 Luật HN&GĐ năm 20145.
1.4. Tài sản chung của vợ chồng và chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
1.4.1. Tài sản chung của vợ chồng
1.4.1.1. Xác định tài sản chung hợp nhất của vợ chồng
Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu
nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1
Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho
chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ
chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc
có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo
đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
thời điểm phát sinh tài sản mà không có căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên
trong việc tạo dựng, phát triển khối tài sản đó. Có thể do điều kiện sức khỏe, đặc
điểm công việc và nghề nghiệp nên sự đóng góp công sức của vợ chồng vào xây
dựng khối tài sản chung là không bằng nhau, nhưng quyền sở hữu của họ đối với
tài sản chung vẫn ngang bằng nhau7. Hơn nữa, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng quy
định “Lao động của vợ, chồng trong gia đình được gọi là lao động có thu nhập”
(điểm b khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014) để đảm bảo cho quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng, đặc biệt là người vợ.
6
7
Điều 213, Bộ luật Dân sự năm 2015.
Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Đại học Luật HN, năm 2012, Nxb CAND, trang 146-147
19
1.4.1.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Căn cứ quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 thì về nguyên tắc, vợ chồng có
quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau đối với tài sản chung. Cụ thể là:
- Vợ chồng chồng bình đẳng trong việc xây dựng, phát triển khối tài sản
chung. Vợ chồng phải cùng nhau bàn bạc về phương hướng phát triển kinh tế của
gia đình. Mỗi bên vợ chồng phải có ý thức tham gia lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm làm tăng khối tài sản chung của vợ chồng.
- Vợ chồng bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Vợ
chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc nắm giữ, quản lý, bảo vệ tài sản
chung. Vợ chồng cũng bình đẳng trong việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng chi
dùng để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình. Theo Khoản 20 Điều 3 Luật HN&GĐ
năm 2014 thì: “Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học
tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu
khi một trong hai vợ hoặc chồng chết và chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Trong
đó, việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là một vấn đề rất phức tạp, thường có
nhiều tranh chấp giữa vợ và chồng gặp, nhiều khó khăn vướng mắc.
Nếu như kết hôn là sự kiện làm phát sinh quan hệ hôn nhân của vợ chồng thì
ly hôn là chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo
yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc của cả hai vợ chồng (khoản 1 Điều 51 Luật
HN&GĐ năm 2014). Khi tình cảm không còn, vợ chồng thực sự tự nguyện ly hôn
hoặc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc hành vi vi phạm nghiêm trọng
quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án
quyết định cho ly hôn. Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định một số trường hợp
hạn chế việc ly hôn theo khoản 3 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con.
1.4.2.1. Quy định chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo hệ thống
pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Sau khi kết hôn, buộc phải có một khối tài sản nhằm duy trì cuộc sống chung
của vợ chồng, cũng như các nhu cầu chi tiêu gia đình, chăm sóc con cái,... Điều đó
đòi hỏi phải có chế độ pháp lý điều chỉnh khối tài sản này: căn cứ xác lập, quyền và
nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung.... Với ý nghĩa đó, pháp luật Việt Nam
qua các thời kỳ đã có quy định về sở hữu chung tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, một
nhận xét chung nhất đó là các quy định của pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung
của vợ chồng khi ly hôn phụ thuộc vào pháp luật khi đó quy định như thế nào về