BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI TIẾN BÌNH
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC CHIA TÀI SẢN
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI TIẾN BÌNH
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC CHIA TÀI SẢN
CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
cứu của Luận văn là trung thực.
HỌC VIÊN
Bùi Tiến Bình
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ luật dân sự
BLDS
Hôn nhân và gia đình
HN&GĐ
Quyền sử dụng đất
QSDĐ
Thời kỳ hôn nhân
TKHN
Tòa án nhân dân
TAND
Xã hội chủ nghĩa
2.5. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHIA
TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN .................................. 57
2.6. NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
KHI LY HÔN .................................................................................................. 61
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 66
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bên cạnh việc điều chỉnh quan hệ nhân thân, pháp luật cũng dành nhiều
quy định điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa gia đình và các chủ thể khác
trong xã hội, giữa các thành viên trong gia đình và đặc biệt là giữa vợ chồng.
Những quy định pháp luật về tài sản của vợ chồng cũng thƣờng xuyên đƣợc
rà soát, sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh.
Tuy nhiên thực tiễn phát triển nhanh, đa dạng của đời sống kinh tế - xã
hội đã và đang làm bộc lộ nhiều điểm chƣa hợp lý của pháp luật hiện hành.
Trong đó, chia tài sản chung của vợ chồng nổi lên nhƣ là vấn đề bức thiết bởi
những năm gần đây, các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng, đặc
biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn gia tăng nhanh chóng. Hơn
nữa, những tranh chấp này thƣờng là những tranh chấp phức tạp và kéo dài,
gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến tình cảm giữa các thành viên trong gia đình
và sự ổn định của xã hội. Nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên một phần do
tính chất đa dạng, phức tạp của các quan hệ tài sản của vợ chồng. Mặt khác,
tình trạng gia tăng các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng cũng
cho thấy những bất cập, điểm khuyết của pháp luật về chia tài sản chung của
vợ chồng. Các quy định này đã bộc lộ nhiều hạn chế, vƣớng mắc gây khó
về việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về chia tài sản chung của vợ
chồng mà chƣa soi chiếu sự phản ánh của toàn bộ các quy định pháp luật đó
vào thực tiễn cuộc sống. Một số tác giả, trong các công trình nghiên cứu kể
trên, cũng đã có dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng một số quy định pháp
luật, tuy nhiên, sự liên hệ, phân tích đó chỉ có tính chất minh họa cho một số
trƣờng hợp cụ thể mà chƣa có sự soi chiếu một cách tổng thể, toàn diện tất cả
các khía cạnh của chế định chia tài sản chung của vợ chồng vào thực
tiễn. Nhƣ vậy, mặc dù đã có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn
đề chia tài sản chung của vợ chồng nhƣng những công trình này chủ
yếu nghiên cứu, phân tích chế độ tài sản của vợ chồng dƣới góc độ lý luận,
mà chƣa chuyên sâu, tập trung vào thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản
chung của vợ chồng, nhất là việc áp dụng tại một địa phƣơng (trừ đề tài luận
4
văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Việt Anh nhƣ đã nêu ra ở trên). Do vậy, việc thực
hiện đề tài "Thực tiễn giải quyết các vụ việc chia tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn trên địa bàn thành phố Sơn La" là hoàn toàn mới,
không có sự trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận cũng
nhƣ nội dung, ý nghĩa các quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản
chung của vợ chồng khi ly hôn. Đồng thời, thông qua quá trình làm việc, tìm
hiểu thực trạng giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn trên địa bàn thành phố Sơn La, phát hiện những bất cập và đƣa ra kiến
nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Để đạt đƣợc mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra đối với luận văn
Để giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu đƣợc đặt ra, tác giả nghiên
cứu đề tài dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng một số phƣơng
pháp nhƣ:
- Phƣơng pháp lịch sử: Sử dụng khi nghiên cứu các quy định của pháp
luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có trƣớc khi Luật HN&GĐ
năm 2014 ban hành.
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp đƣợc sử dụng khi phân tích về
trƣờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; khái quát đƣợc những
nội dung cơ bản của từng vấn đề trong luận văn.
- Phƣơng pháp so sánh đƣợc thực hiện khi đối chiếu các quy định của
pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ
năm 2014 so với các quy định của pháp luật trƣớc đây.
- Phƣơng pháp thống kê đƣợc thực hiện trong quá trình khảo sát thực
tiễn công tác giải quyết án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, từ
các số liệu cụ thể giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng;
6
qua đó chỉ ra những điểm chƣa phù hợp của pháp luật hiện hành về chia tài
sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng pháp luật về
chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại một địa phƣơng có nhiều đồng
bào dân tộc thiểu số sinh sống. Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần
xây dựng các giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật về sở hữu chung của vợ
chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng, xây dựng cơ chế thực thi pháp
luật về vấn đề này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giải quyết các
tranh chấp có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.
thể của phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự, đƣợc quy định chung trong
BLDS.
Điều 105, BLDS năm 2015 quy định: "Tài sản là vật, quyền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản"; "tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất
động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong
tương lai". Theo cách liệt kê trên, các đối tƣợng là tài sản đƣợc xác định nhƣ
sau:
Vật: Đƣợc coi là tài sản phải là một bộ phận của thế giới vật chất và
nằm trong sự kiểm soát của con ngƣời; hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: Những
vật đang thực tế tồn tại và những vật đang trong quá trình hình thành hoặc
những vật tuy chƣa bắt đầu hình thành nhƣng chắc chắn sẽ có trong tƣơng lai
- vật hình thành trong tƣơng lai. Hiểu theo nghĩa rộng nhƣ vậy sẽ giúp chúng
ta có một cái nhìn đa dạng về các loại tài sản, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
mở rộng quyền lựa chọn tài sản của các chủ thể trong các giao dịch dân sự.
Mặt khác, cách quy định này đã thể hiện đƣợc tinh thần của nguyên tắc "tự
do, tự nguyện cam kết" của luật dân sự.
Tiền: Theo kinh tế chính trị học là vật ngang giá chung đƣợc sử dụng
làm thƣớc đo giá trị của các loại tài sản khác. Tiền do Nhà nƣớc độc quyền
8
phát hành, việc phát hành tiền đƣợc coi là một trong những biểu hiện của chủ
quyền quốc gia. Vì thế, việc phát hành, đƣa tiền vào hay rút tiền khỏi lƣu
thông đều đƣợc Nhà nƣớc kiểm soát chặt chẽ.
Tiền thực hiện 3 chức năng chính là: Công cụ thanh toán đa năng, công
cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác.
Một số vấn đề còn nhiều tranh cãi đó là sự phân biệt giữa nội tệ và ngoại
tệ. Dƣới góc độ kinh tế thì nội tệ hay ngoại tệ cũng đều là tiền. Tuy nhiên, do
yêu cầu quản lý nhà nƣớc về tiền tệ, việc sử dụng ngoại tệ trong giao dịch dân
mà chúng chỉ đơn thuần là những "bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ", các
chủ thể không thể khai thác trực tiếp công năng của các loại giấy tờ này mà
thực tế họ chỉ khai thác quyền tài sản đƣợc ghi nhận trong các "giấy tờ có giá"
đó.
Quyền tài sản: Theo định nghĩa tại Điều 115 BLDS 2015, quyền tài sản
là quyền trị giá đƣợc bằng tiền, bao gồm: quyền tài sản đối với đối tƣợng
quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Hiện nay,
pháp luật nƣớc ta công nhận một số quyền tài sản nhƣ: QSDĐ, quyền khai
thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại đối với tài sản
bị xâm hại, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công
nghiệp, quyền đòi nợ…
1.1.1.2. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng
Theo khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 "tài sản do vợ, chồng
tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong TKHN,…". Theo
khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 "TKHN là khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ chồng tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn
nhân”. Thông thƣờng, TKHN bắt đầu từ khi kết hôn, tức là ngày Ủy ban nhân
dân xã, phƣờng, thị trấn nơi cƣ trú của vợ hoặc chồng vào sổ đăng ký kết hôn
và cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai vợ chồng và chấm dứt khi một bên
vợ, chồng chết; vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết hoặc vợ chồng ly hôn
(từ khi phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật). Đối với trƣờng
10
hợp nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng trƣớc ngày 03/01/1987 mà không đăng
ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng đƣợc tính từ ngày hai bên bắt đầu thực hiện
quan hệ chung sống vợ chồng1. Nhƣ vậy, những tài sản mà vợ, chồng có đƣợc
trong TKHN đều đƣợc coi là tài sản chung của vợ chồng (trừ những tài sản
chung một cách trọn vẹn. Đó chính là đặc trƣng mang tính cộng đồng của
cuộc sống vợ chồng.
Những tài sản mà "vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung" (khoản 1 Điều
33 Luật HN&GĐ năm 2014 ): Điều này có thể hiểu, có những tài sản của sở
hữu riêng của vợ hoặc chồng, cho vợ (chồng) có đƣợc trƣớc khi kết hôn, đƣợc
thừa kế, đƣợc tặng cho riêng về nguyên tắc là tài sản riêng. Tuy nhiên, những
tài sản đó sẽ là tài sản chung, nếu nhƣ trong TKHN vợ chồng có thỏa thuận
coi là tài sản chung của vợ chồng. Quyết định này hoàn toàn hợp lý và có cơ
sở, bởi vì, trong cuộc sống gia đình, nhiều tài sản riêng của vợ chồng đƣợc
đƣa vào sử dụng chung, phục vụ nhu cầu sinh hoạt chung thì đó là tài sản
chung của vợ chồng nếu cả hai bên vợ chồng đều có thỏa thuận và đồng ý
nhập vào khối tài sản chung, thì đó là tài sản chung của vợ chồng.
Nếu vợ chồng xảy ra tranh chấp, để xác định tài sản chung, riêng nhƣng
mỗi bên đều không có chứng cứ chứng minh đó là tài sản riêng của mình thì
coi đó là tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 33 Luật HN&GĐ năm
2014). Quy định này mang tính nguyên tắc suy đoán, đƣợc áp dụng trong
trƣờng hợp chia tài sản chung khi ly hôn hoặc trƣờng hợp khác khi có tranh
chấp về tài sản chung của vợ chồng.
"QSDĐ mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ,
chồng. QSDĐ mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế
riêng chỉ là tài sản chung khi thỏa thuận" (khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ
năm 2014). QSDĐ là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn. Trên thực tế, ngƣời
chồng thƣờng nắm giữ tài sản trong gia đình và thƣờng đứng tên trong các
giấy chứng nhận QSDĐ. Vì vậy, việc quy định QSDĐ có đƣợc sau khi kết
hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa bảo đảm sự bình đẳng của
vợ chồng (khoản 2 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014).
Quy định này hoàn toàn phù hợp với nội dung của BLDS về quyền sở
hữu. Theo quy định tại Điều 207, 210 BLDS năm 2015, "sở hữu chung là sở
không tồn tại trong các quy định của Luật HN&GĐ năm 1959.
Luật HN&GĐ năm 1986 đã sửa đổi quy định trên của Luật HN&GĐ
năm 1959 theo hƣớng vợ chồng có tài sản chung và mỗi bên có quyền có tài
sản riêng; nội dung này tiếp tục đƣợc kế thừa và phát triển trong Luật
HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014.
Khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về tài sản chung của
vợ chồng nhƣ sau: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
14
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức
phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong TKHN, trừ trường
hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng
được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng
thỏa thuận là tài sản chung. QSDĐ mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là
tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế
riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản
riêng”.
Từ quy định nói trên có thể thấy việc hình thành tài sản chung rất đa
dạng, gồm những loại tài sản sau:
1.1.2.1. Thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong TKHN
Theo từ điển tiếng Việt thì “thu nhập” đƣợc hiểu là “nhận đƣợc tiền bạc,
của cải vật chất từ một hoạt động nào đó”4. Thu nhập hợp pháp đƣợc hiểu là
thu nhập đƣợc tạo ra từ những hoạt động hợp pháp của vợ, chồng và đƣợc
Nhà nƣớc kiểm soát, bảo vệ. Đối với những thu nhập không chứng minh đƣợc
là bất hợp pháp thì cũng đƣợc coi là thu nhập hợp pháp.
Việc xác định thời điểm phát sinh quan hệ hôn nhân, theo nguyên tắc
chung phải dựa trên Giấy chứng nhận kết hôn. Vì sau khi kết hôn, vợ chồng
cùng chung sống với nhau, cùng tạo dựng tài sản nhằm đảm bảo cuộc sống
thể tạo ra tài sản bằng cách sử dụng tiền bạc thông qua các hợp đồng để mua
sắm tài sản nhƣ ti vi, tủ lạnh, xe máy, xe ô tô…hay chuyển quyền sở hữu tài
sản từ ngƣời khác sang quyền sở hữu của mình hoặc để đầu tƣ kinh doanh thu
lợi nhuận. Nhƣ vậy những tài sản tạo ra trong TKHN thuộc khối tài sản chung
của vợ chồng.
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng do lao động, hoạt động sản xuất kinh
doanh đƣợc coi là loại tài sản chủ yếu thuộc tài sản chung của vợ chồng. Thu
nhập của vợ chồng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng là những giá trị vật
chất mà vợ, chồng có đƣợc do tham gia lao động, hoạt động sản xuất kinh
doanh. Cụ thể theo tính chất nghề nghiệp, chuyên môn, công việc mà vợ
chồng thực hiện, vợ chồng đƣợc hƣởng thành quả lao động hoặc các lợi nhuận
do kinh doanh mang lại, hoa lợi, lợi tức thu đƣợc từ các loại tài sản của vợ
chồng do kinh doanh mang lại. Thu nhập của vợ chồng gồm nhiều loại nhƣng
16
thu nhập do lao động là loại thu nhập ổn định, cơ bản nhất. Theo điểm b
khoản 2 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 “lao động của vợ, chồng trong gia
đình được coi như là lao động có thu nhập”, vì thế trong cuộc sống gia đình
vì sức khoẻ, hoặc vì hoàn cảnh và khả năng lao động mà tài sản chỉ do một
ngƣời tạo ra thì vẫn coi nhƣ vợ, chồng cùng đóng góp công sức vào việc tạo
lập khối tài sản chung. Dù vợ, chồng làm việc ở những ngành, nghề khác
nhau với mức thu nhập khác nhau song mọi thu nhập từ lao động, hoạt động
sản xuất kinh doanh của vợ chồng đều là tài sản chung của vợ chồng. Điều
này phù hợp với điều kiện kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng XHCN ở nƣớc
ta hiện nay và cũng hoàn toàn phù hợp với quy định về quyền nhân thân của
vợ chồng là tự do lựa chọn việc làm. Chính công việc cũng nhƣ công sức lao
động của mỗi ngƣời đều góp phần vào khối tài sản chung của gia đình.
Theo tính chất nghề nghiệp chuyên môn, công việc mà vợ chồng thực
chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt tài sản chung. Tài sản chung vủa vợ chồng có thể chia theo thỏa
thuận hoặc theo quyết định của Toà án.”
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm QSDĐ mà vợ chồng
có được sau khi kết hôn (khoản 1 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014).
Theo Điều 53 Hiến pháp năm 2013 và quy định trong BLDS năm 2005
về hình thức sở hữu thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nƣớc thống nhất
và quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật bảo đảm đúng mục đích và có
hiệu quả. BLDS và pháp luật đất đai có quy định QSDĐ là một loại tài sản có
tính chất đặc thù. Nhà nƣớc giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng lâu
dài (Điều 53, 54 Hiến pháp năm 2013). Cá nhân có quyền chuyển đổi, chuyển
nhƣợng, cho thuê, thế chấp, để lại QSDĐ. QSDĐ mà vợ chồng có đƣợc sau
khi kết hôn thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Trong thực tế khi xảy ra
vấn đề chia tài sản là QSDĐ khi ly hôn thì luật phải dự liệu để xác định rõ tài
sản chung của vợ chồng là QSDĐ có thuộc khối tài sản chung của vợ chồng
hay không hay thuộc tài sản riêng để căn cứ vào đó mà Toà án có thể giải
18
quyết các tranh chấp theo quy định pháp luật. Theo quy định tại Luật
HN&GĐ năm 2014:
+ QSDĐ mà cả vợ chồng hoặc mỗi bên vợ, chồng đƣợc Nhà nƣớc giao,
kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng (các QSDĐ đối với đất nông
nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất lâm
nghiệp trồng rừng….).
+ Sau khi kết hôn, QSDĐ mà cả vợ và chồng hay chỉ mỗi bên vợ hoặc
chồng đƣợc Nhà nƣớc cho thuê là tài sản chung của vợ chồng, cũng là tài sản
chung của vợ chồng đối với đất mà vợ chồng nhận thế chấp QSDĐ của ngƣời
khác.
thừa kế chung theo pháp luật của bố mẹ vợ hoặc bố mẹ chồng. Vợ và chồng
chỉ đƣợc thừa kế chung theo di chúc. Điều này đƣợc hiểu là trong di chúc chỉ
định vợ chồng cùng là ngƣời thừa kế chung phần di sản đƣợc định trong di
chúc của ngƣời để lại di sản. Việc xác định vợ chồng cùng đƣợc hƣởng thừa
kế chung theo di chúc là căn cứ xác lập quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng, nhằm phân biệt với trƣờng hợp vợ hoặc chồng đƣợc hƣởng thừa kế
riêng. Tuy nhiên, trong trƣờng hợp vợ hoặc chồng đều đƣợc thừa kế theo di
chúc của một ngƣời thì phần di sản mà mỗi ngƣời đƣợc hƣởng đã xác định
trong nội dung di chúc thì không đƣợc xem là căn cứ xác lập quyền sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng. Trong trƣờng hợp này thì vợ chồng đƣợc thừa
kế riêng, phần di sản của mỗi ngƣời đƣợc thừa kế là tài sản riêng. Tài sản này
chỉ đƣợc quy định là tài sản chung của vợ chồng khi hai ngƣời đồng ý sáp
nhập vào khối tài sản chung.
- Tài sản chung được hình thành từ việc được tặng cho chung
Đối với trƣờng hợp đƣợc tặng cho chung thì tài sản đó là tài sản chung
của vợ chồng. Vợ chồng có thể đƣợc tặng cho tài sản thông qua hợp đồng
bằng văn bản, và cũng có thể là hợp đồng miệng, hay còn gọi là tặng cho trên
thực tế.
Trong TKHN, vợ chồng có thể đƣợc ngƣời khác tặng cho chung một số
tài sản xác định, những tài sản này thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng. Trong thực tế, những loại tài sản này rất đa dạng, nhƣng phổ biến nhất