MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài............................................................................1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................1
3. Phương pháp nghiên cứu................................................................1
5. Cấu trúc của đề tài..........................................................................2
B. NỘI DUNG..................................................................................................3
II. TÌNH HÌNH KINH TẾ, XÃ HỘI........................................................6
C. KẾT LUẬN................................................................................................25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................26
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND – Hội đồng nhân dân
UBND – Uỷ ban nhân dân
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ly hôn là hiện tượng xã hội phổ biến và phức tạp đặc biệt trong tình hình
hiện nay khi nó ảnh hưởng của cơ chế kinh tế thị trường. Không chỉ ảnh hưởng
đến lợi ích của các đương sự mà ly hôn còn ảnh hưởng đến lợi ích của con họ, của
gia đình và xã hội. Cùng với sự pháp triển về kinh tế các án kiện ly hôn cũng như
các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong các án kiện ly hôn ngày càng
tăng. Đồng thời sự phức tạp về tranh chấp cũng theo đó mà tăng lên. Các tranh
chấp chủ yếu về xác định tài sản chung, thanh toán nghĩa vụ tài sản, về quyền sử
dụng đất và nhà ở, về xác định công sức của vợ chồng sống chung với gia đình.
Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn việc xét xử các vụ án ly hôn nói chung là
việc phân chia tài sản (tài sản xảy ra tranh chấp) nên em đã chọn đề tài: “Tranh
chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại Huyện Sốp Cộp, Tỉnh Sơn La,
Thực trạng và giải pháp” để làm chuyên đề báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT VỀ UBND XÃ PÚNG BÁNH, HUYỆN SỐP CỘP,
TỈNH SƠN LA.
I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
1. Vị trí địa lý
Xã Púng Bánh là xã vùng III của huyện Sốp Cộp, tổng diện tích tự nhiên
toàn xã là 15.069,89 ha, cách trung tâm huyện Sốp Cộp 15 km về phía Tây Bắc.
Với các vị trí giáp ranh như sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Sông Mã.
+ Phía Đông Bắc giáp huyện Sông Mã.
+ Phía Nam giáp xã Dồm Cang.
+ Phía Tây và Tây Nam giáp xã Mường Lèo, Sam Kha
Xã Púng Bánh nằm ở khu vực đá trầm tích được nâng lên, phía Bắc của xã
là các đá trầm tích, cuội kết hệ tầng Đồng Trần xen lẫn đá xit, riolit… Nhìn chung
trầm tích ở đây có thành phần hạt thô, tuy nhiên địa hình không dốc lắm. Ở phía
Nam của xã là hệ tầng N 2-Q. Cuội kết, sạn kết hạt thô, cát kết. Tuy thành phần vật
liệu tương đối thô, nhưng do có mặt bằng tương đối bằng phẳng nên thung lũng
này là mặt bằng sản xuất chính của xã. Các suối ở đây không chảy theo các đứt
gãy mà phần lớn chảy cắt ngang từ Nam lên Bắc, từ các dãy núi cao biên giới Việt
Lào đổ ra sông Mã.
2. Đặc điểm khí hậu.
Nằm trong vùng Tây Bắc, nên xã Púng Bánh có khí hậu nhiệt đới gió mùa
vùng núi có mùa đông lạnh, suốt mùa đông lạnh và khô hanh, còn mùa hè mưa
nhiều. Khí hậu phân hóa theo địa hình và theo mùa
3. Tài nguyên, thiên nhiên
* Đặc điểm thảm thực vật.
♦ Thảm thực vật tự nhiên: Thảm thực vật của xã Púng Bánh có sự phân hóa
theo hai đai cao rất rõ, đó là đai độ cao dưới 700 m và đai độ cao từ 700 m trở lên.
4
- Nước mặt: Đây là nguồn nước chính phục vụ sản xuất và sinh hoạt của
nhân dân. Nguồn nước mặt chủ yếu là nước mưa được lưu giữ trong các ao, ruộng
và hệ thống sông, suối. Chất lượng nguồn nước tương đối sạch.
- Nước ngầm: Nguồn nước ngầm hiện tại chưa khảo sát đầy đủ, song trong
thực tế nhiều khu vực có thể khai thác được nước ngầm (phần lớn là những vùng
bản thấp), để đưa vào phục vụ cho đời sống của nhân dân trong vùng (đào giếng
lấy nước). Tuy nhiên còn một số bản vùng cao do địa hình đồi núi có độ dốc lớn,
nguồn nước ngầm thường rất sâu nên việc đầu tư khai thác nguồn nước ngầm sẽ
rất tốn kém.
6. Đặc điểm tự nhiên.
Theo kết quả điều tra khảo sát và kết quả tổng hợp được từ bản đồ thổ nhưỡng
tỉnh Sơn La tỷ lệ 1: 100.000. Trên địa bàn xã Púng Bánh có các nhóm đất chính như
sau:
- Nhóm đất đỏ vàng trên đá phiến sét và biến chất.
- Nhóm đất màu feralit màu vàng nhạt trên núi đá.
- Nhóm đất đỏ vàng trên đá Macma axít.
- Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát.
- Nhóm đất màu nâu đỏ trên đá Macma Bazơ trung tính.
- Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ.
6.1. Mạng lưới suối
Xã Púng Bánh có nhiều con suối, khe suối như suối Nậm Ban, suối Huổi
Púa và hệ thống các con suối, khe suối nhỏ... Do địa hình bị chia cắt mạnh bởi các
dãy núi cao với độ dốc chênh lệch lớn đã tạo ra các khe suối nhỏ và ngắn, mùa khô
thì cạn kiệt, mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, đã tạo ra cho lưu lượng nước giữa
hai mùa chênh lệch lớn, vì vậy thường xảy ra những cơn lũ cục bộ, lũ quét làm ảnh
hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống của nhân dân trong xã.
- Bình quân lương thực đầu người:
442,9 kg/người/năm.
- Tổng giá trị thu nhập:
36.003,72 triệu đồng
- Thu nhập bình quân đầu người:
5,3 triệu đồng/người/năm.
- Tỷ lệ hộ nghèo:
60,7%.
Số hộ nghèo còn 854 hộ (chiếm 60,7%) tổng số hộ trong toàn xã. Thu nhập
bình quân đầu người toàn xã đạt 5,3 triệu đồng/người/năm, số hộ được xem truyền
hình đạt 80%, tỷ lệ hộ dùng nước sạch đạt 85%, tỷ lệ hộ được dùng điện lưới quốc
gia 85%.
6
- Cơ cấu kinh tế, tỷ trọng các ngành.
+ Nông nghiệp, lâm nghiệp
: chiếm 92,5%
+ Dịch vụ - Thương mại
+ Cây lạc: Gieo trồng 10ha, năng suất 12 tạ/ha, sản lượng 12 tấn;
7
+ Cây rau các loại: Gieo trồng 41,3 ha, năng suất 140 tạ /ha, sản lượng 578,2
tấn;
+ Cỏ chăn nuôi: Diện tích 10 ha, năng suất 180 tạ/ha, sản lượng 180 tấn.
+ Cây ăn quả các loại: Diện tích 32,2 ha, năng suất 35 tạ/ha, sản lượng 112,7
tấn.
+ Cây lâu năm khác: Diện tích 6,0 ha, năng suất 4 tạ/ha, sản lượng đật 2,4
tấn
2.3.2. Chăn nuôi.
Trên địa bàn xã ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm chưa được quan tâm đầu
tư lớn, mới dừng lại phát triển quy mô nhỏ ở các hộ gia đình. Tuy nhiên những
năm gần đây được sự quan tâm hướng dẫn về kỹ thuật chăn nuôi và sự hỗ trợ về
vốn, con nuôi do vậy nhiều hộ gia đình xây dựng được mô hình kết hợp giữa chăn
nuôi với trồng trọt. Năm 2014, toàn xã có:
+ Đàn trâu 2.781 con;
+ Đàn bò 1.385 con;
+ Đàn dê 255 con;
+ Đàn lợn 1.731 con;
+ Đàn gia cầm 14.903 con;
- Trong mấy năm gần đây ngành chăn nuôi của xã đã có bước phát triển rất
tốt, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc giống địa phương. Tuy nhiên hiện nay so với
yêu cầu chung vẫn phát triển chậm, hình thức chăn nuôi chủ yếu là tự phát ở các
hộ gia đình, chưa được tập trung phát triển thành quy mô lớn.
2.3.3. Thuỷ sản.
Diện tích nuôi trồng thủy sản 22,4 ha, nằm rải rác tại các bản trong xã. Hình
thức nuôi thả tận dụng kết hợp với bán thâm canh với các loài chủ yếu là Trắm, Trôi,
1. Chức năng của UBND xã Púng Bánh, Huyện Sốp Cộp, Tỉnh Sơn La.
Theo Điều 17 Luật tổ chức chính quyền địa phương:
UBND xã Púng Bánh chỉ đạo điều hành mọi hoạt động quản lý nhà nước ở
địa phương. Tuân thủ bảo đảm sự chỉ đạo quản lý điều hành thống nhất bộ máy
hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. UBND cấp trên chỉ đạo mọi
9
hoạt động của UBND cấp dưới trực tiếp chỉ đạo điều hành mọi hoạt động phát
triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã Púng Bánh, Huyện Sốp Cộp,
Tỉnh Sơn La.
Theo điều 31 Luật tổ chức chính quyền địa phương, UBND xã Púng Bánh
thực hiện các nhiệm vụ và quyên hạn trong từng lĩnh vực như sau:
- Trong lĩnh vực kinh tế
Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế hàng năm trình HĐND cùng cấp thông
qua để trình UBND cấp trên phê duyệt, tổ chức triển khai thực hiện đúng kế
hoạch.
Lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn và đề ra phương án
phân bổ ngân sách tại địa phương. Lập quyết toán ngân sách hàng năm trình
HĐND cùng cấp phê duyệt, báo cáo UBND và cơ quan tài chính cấp trên.
Quản lý ngân sach nhà nước trên địa bàn xã và báo cáo ngân sách nhà nước
theo quy định của pháp luật.
Huy động sự đóng góp của đoàn thể, cá nhân để đầu tư và xây dựng các kết
cấu hạ tầng xã trên nguyên tắc dân chủ tự nguyện, công bằng, công khai.
- Trong lĩnh vực nông – nghiệp:
Tổ chức hướng dẫn việc thực hiện các chương trình kế hoạch, đề án khuyến
khích phát triển kinh tế và ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ để phát triển sản
xuất. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi.
* Trình độ chuyên môn của cán bộ
- Trình độ dưới cấp II là 0 người.
- Trình độ văn hóa cấp II là 05 người.
- Trình độ văn hóa cấp III là 35 người.
- Trình độ chuyên môn trung cấp là 18 người.
- Trình độ chuyên môn Đại học 05 người
- Trình độ chuyên môn sơ cấp 08 người.
-Trình độ chuyên môn chưa qua đòa tạo là 09 người.
11
- Trình độ lý luận Trung cấp 18 người, sơ cấp 05 người, chưa qua lý luận 17
người.
* Cơ cấu tổ chức của UBND xã Púng Bánh bao gồm:
- Lãnh đạo UBND xã gồm: 1 chủ tịch và 2 phó chủ tịch
- Các bộ phận giúp việc của UBND xã, gồm:
+ Bộ phận địa chính
+ Văn phòng thống kê
+ Bộ phận văn hóa xã hội, giáo dục, y tế
+ Bộ phận lao động thương binh xã hội
+ Bộ phận tư pháp hộ tịch
+ Bộ phận công an
+ Văn phòng Uỷ ban nhân dân
+ Bộ phận kế toán
+ Bộ phận nông – lâm – nghiệp
12
công
an
Văn
phòng
ủy ban
nhân
dân xã
Bộ
phận
địa
chính
Văn
phòng
thống
kê
Bộ
phận
nông
lâm
nghiệp
Bộ
phận
kế
toán
không yêu cầu giải quyết về tài sản chung mà để họ tự thoả thuận nhưng sau đó họ
không thỏa thuận được.
- Tranh chấp về việc xác định tài sản chung hay riêng, đây là dạng tranh
chấp phổ biến nhất.
- Tranh chấp về việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng hay
của gia đình.
- Tranh chấp về việc phân chia hiện vật.
- Tranh chấp về việc thỏa thuận giá trị tranh chấp.
- Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với người thứ ba.
Khi vợ chồng tranh chấp về chia tài sản chung thì họ khó thỏa thuận thống
nhất trong việc phân chia tài sản chung nên cần có một cơ quan nhà nước có đủ
thẩm quyền tiến hành giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng.
14
Tài sản theo định nghĩa gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Tài sản chung của vợ, chồng là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, là hình
thức sở hữu chung đặc biệt. Xuất pháp từ quan hệ hôn nhân, sự tồn tại của chế độ
tài sản chung vợ chồng phụ thuộc vào quan hệ hôn nhân và chấm dứt khi một
trong hai vợ chồng chết hoặc có bản án, quyết định của tòa án cho vợ chồng ly
hôn. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra do lao động, hoạt
đông sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho và những tài
sản vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung, quyền sử dụng đất của vợ, chồng có
được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Khác với tài sản chung đơn
thuần, tài sản chung vợ, chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thể là
do vợ, chồng lao động tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thể là do vợ, chồng lao động
tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân.
Từ xưa đến nay cha ông ta vẫn nói của chồng công vợ, tài sản chung của vợ
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ
chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi
ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia
theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
Điều 62. Chia quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn
1. Quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc
về bên đó.
2. Việc chia quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
được thực hiện như sau:
a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu cả
hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo
thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết
theo quy định tại Điều 59 của Luật này.
16
Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng
đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá
trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;
b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây
hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử
dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;
c) Đối với đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng,
đất ở thì được chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này;
d) Đối với loại đất khác thì được chia theo quy định của pháp luật về đất
đai.
3. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà không có quyền
sử dụng đất chung với hộ gia đình thì khi ly hôn quyền lợi của bên không có
quyền sử dụng đất và không tiếp tục sống chung với gia đình được giải quyết theo
đó tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn khá phổ biến. Tình trạng ly
hôn tại Huyện vài năm trở lại đây thấy rõ:
Năm 2010 xã đã thụ lý 72 vụ, giải quyết được 68 vụ, còn tồn 4 vụ.
Năm 2011 xã đã thụ lý 85 vụ, tăng 13 vụ so với năm 2010 trong đó án
chuyển sang là 4 vụ, án mới thụ lý là 81 vụ. Đã giải quyết được 78 vụ.
Hòa giải thành 16 vụ.
Hòa giải không thành 8 vụ.
Thuận tình ly hôn 19 vụ.
Tranh chấp tài sản 35 vụ.
Qua thu thập thông tin cụ thể án ly hôn từng năm của xã Púng Bánh, chúng
ta có thể nhận thấy số vụ ly hôn tăng nhanh chóng, gây nhiều khó khăn cho xã hội.
18
Cụ thể trong hai năm. Tổng thụ lý là:115 vụ. Trong đó án cũ được chuyển sang 18
vụ việc.
Án hôn nhân và gia đình xã thụ lý chủ yếu là ly hôn 11/115 vụ, trong đó
tranh chấp tài sản là 80/115 vụ, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 02/115, không công
nhận vợ chồng 02/115 vụ, thay đổi thành phần nuôi con chung 02/115 vụ.
Nguyên nhân ly hôn chủ yếu là do mâu thuẫn vợ chồng 36 vụ, đánh đập
ngược đãi 29 vụ, do tính tình không hợp 18 vụ, do ngoại tình 06 vụ, không có con
01 vụ, nhiều bên đi vắng lâu ngày không về 03 vụ, nghiện rượu 01 vụ, hủy hôn
trái phát luật 05 vụ, một bên mất tích 01 vụ. Như vậy năm 2013 xã đã giải quyết
95 vụ. Và trong đó 95 vụ xã đã giải quyết thì:
- Hòa giải thành 03 vụ.
- Thuận tình ly hôn 40 vụ.
- Đình chỉ 28 vụ.
- Xét xử 04 vụ.
- Tranh chấp tài sản 20 vụ.
ly hôn, từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015 đã giải quyết 402 vụ ly hôn. Số vụ án hôn
nhân và gia đình năm sau luôn cao hơn năm trước. Qua công tác kiểm sát các vụ
án ly hôn thì tỷ lệ người vợ đứng đơn ly hôn cao hơn so với người chồng. Những
vụ án ly hôn thường là những cặp vợ chồng trẻ ở nhóm tuổi từ 20 - 30 và hầu hết
là có con. Tình trạng ly hôn ngày càng tăng xuất phát từ một số thực trạng sau:
- Do sự phát triển về mọi mặt của đời sống, từ kinh tế đến thông tin, văn hóa
xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ của giới trẻ. Ngày nay giới trẻ thường yêu
nhanh, cưới vội nên họ vẫn chưa tìm hiểu kỹ về nhau cũng như chưa trang bị các
kỹ năng sống trước khi bước vào cuộc sống hôn nhân. Khi vợ chồng xảy ra mâu
thuẫn không biết cách xử lý, không tôn trọng và nhường nhịn nhau để giải quyết
dẫn đến bạo lực gia đình và hôn nhân đổ vỡ là điều không tránh khỏi. Hơn nữa
nhận thức của các cặp vợ chồng về xây dựng cuộc sống chung, xây dựng gia đình
hạnh phúc còn rất mơ hồ, thiếu chín chắn.
- Do điều kiện kinh tế gia đình: Thường các cặp vợ chồng sau khi lập gia
đình phải tự lo cho mái ấm của mình, điều kiện kinh tế chưa bảo đảm cho cuộc
20
sống riêng hoặc chưa có nghề nghiệp ổn định cùng với việc sinh con sớm nên kinh
tế gia đình gặp nhiều khó khăn. Nhiều gia đình vợ hoặc chồng phải đi làm ăn xa,
thiếu sự quan tâm đến gia đình, con cái dẫn đến vợ chồng thiếu thốn tình cảm, sinh
ra nghi ngờ, ghen tuông và vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly hôn.
- Do bạo lực gia đình : Với nền kinh tế phát triển chủ yếu là nông nghiệp
nên trình độ nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bạo lực gia đình là hậu quả nghiêm
trọng cho con người nhất là đối với phụ nữ. Việc cam chịu là nguyên nhân dẫn
đến bệnh trầm cảm ở phụ nữ cũng như để lại những di chứng nặng nề cho con cái
họ trở nên mặc cảm, không thích giao tiếp, thiếu tự tin trong cuộc sống. Khi bạo
lực xảy ra sẽ gây ra nhiều sứt mẻ trong tình cảm, không tìm thấy sự hoà hợp mà
chỉ còn sự cam chịu, ức chế và sợ hãi đến lúc họ không chịu đựng nổi và dẫn đến
29 vụ, do tính tình không hợp 18 vụ, do ngoại tình 06 vụ, không có con 01 vụ,
một bên đi vắng lâu không trở về 03 vụ, do nghiện rượu 01 vụ, hủy hôn trái pháp
luật 05 vụ, một bên mất tích 01 vụ.
Năm 2015 tổng số 130 vụ ly hôn thì: nguyên nhân chủ yếu là do mâu thuẫn
gia đình, đánh đập ngược đãi 63 vụ, tính tình không hợp 30 vụ, do ngoại tình 10
vụ, không có con 03 vụ, một bên đi vắng không trở về 03 vụ, một bên bỏ đi 02 vụ.
Nhìn vào số liệu trên ta thấy rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ly hôn là do
mâu thuẫn gia đình, ngược đãi rất lớn, số vụ không hợp nhau dẫn đến ly hôn cũng
là một con số không nhỏ.(năm 2014 là 25 vụ, năm 2015 là 18 vụ, ly hôn do những
lý do khác mang lại, từ những điển hình này cho thấy đây là những vấn đề bức xúc
của huyện sốp cộp. Dựa trên kết quả này chúng ta có thể nhận thấy rằng số vụ án
đánh đập gia đình lại chiếm khá lớn mặc dù xã hội đang có chủ trương không có
bạo lực gia đình.
II. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ
1. Giải pháp
Các cặp vợ chồng cần nhận thức rõ vai trò, vị trí của mình trong xây dựng
gia đình, biết yêu thương, lắng nghe và chia sẻ, biết tôn trọng nhường nhịn nhau ‘‘
chồng bảo vợ nghe, vợ nói chồng đồng tình’’. Mỗi người nên tự điều chỉnh, bỏ cái
tôi của mình, sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội, sống thủy chung. Điều
22
quan trọng nhất là phải biết suy nghĩ về con cái, tôn trọng những giá trị truyền
thống việt nam. Tăng cường học hỏi, tham vấn về kiến thức hôn nhân, giao tiếp,
lối ứng xử trong gia đình....
Các nghành, các cấp, tổ chức đoàn thể đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền
về xây dựng gia đình, đặc biệt chú trọng đến truyền thông, giáo dục truyền thống
gia thông qua các nghi lễ tôn giáo, phong tục tập quán, gia phong, gia pháp, gia
đạo, gia lễ…nhằm cung cấp cho các thành viên trong gia đình những kiến thức,
án còn phải thành lập hội đồng định giá tài sản và tiến hành định giá khối tài sản
trên việc này sẽ khiến cho tòa án bị động trong quá trình giải quyết các vụ án, do
phải phụ thuộc vào các cơ quan khác. Chính vì vậy nên có những quy định phù
hợp hơn để tòa án có thể tự giải quyết một cách nhanh chóng hiệu quả hơn, giảm
được chi phí cho các đương sự.
24