Pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn - Pdf 57

LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi đến quý Thầy, Cô, Ban lãnh đạo khoa Luật trường Đại học Công
nghệ Tp. Hồ Chí Minh (HUTECH) lời chào trân trọng nhất, kính chúc quý Thầy Cô
sức khỏe và lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất!
Với sự quan tâm, dạy dỗ, chỉ bảo tận tình từ quý Thầy Cô đến nay em đã hoàn
thành chương trình học tập của mình với Khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật về giải
quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn”.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ
của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân. Với tình cảm sâu sắc, chân thành, cho phép em
xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tạo điều
kiện giúp đỡ em trong thời gian qua.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô ThS. Lê Thị Minh Thư –
Giảng viên trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài này. Cô đã quan tâm, tận tình
giúp đỡ, không quãng ngại thời gian, công sức để giúp đỡ em hoàn thành khóa luận
này.
Với trình độ kinh nghiệm còn hạn chế, điều kiện khách quan khác ảnh hưởng
nên trong khóa luận tốt nghiệp này không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong
nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến từ quý Thầy Cô để em có điều kiện bổ sung,
nâng cao khả năng của mình ngày càng tốt hơn, phục vụ cho công tác thực tế sau này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên

Trần Thị Ngọc Diệu


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên – Trần Thị Ngọc Diệu, MSSV: 1511270023
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp
này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và
theo đúng quy định).
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.


Hội đồng thẩm phán

4

HĐXX

Hội đồng xét xử

5

HN&GĐ

Hôn nhân và gia đình

6

TAND

Tòa án nhân dân

7

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

8

VKS



Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN ...... 22
2.1 Nội dung của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn .......... 22
2.1.1 Phương thức, nguyên tắc phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn....... 22
2.1.2 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ............... 25
2.1.3Một số trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ........................... 27
2.2 Nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng
khi ly hôn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 ..................................... 29
2.2.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ........................................................... 29
2.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ......... 31
2.2.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
....................................................................................................................................... 34

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN ................................................................... 38
3.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn .......................................................................................................... 38
3.1.1 Bất cập trong việc xác định thẩm quyền của Tòa án, trình tự thủ tục tố tụng trong
giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ...................................... 38
3.1.2 Bất cập trong việc định giá tài sản, xác định lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng .............................................................................................. 41


3.1.3 Bất cập trong việc xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng, xác định
công sức đóng góp của vợ chồng trong việc tạo lập duy trì và phát triển tài sản chung
khi ly hôn ...................................................................................................................... 46

gia đình để giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng là điều cần thiết để đảm
bảo quyền và lợi ích mỗi bên.
Trong những năm gần đây, vấn đề ly hôn ở nước ta ngày càng nhiều và theo đó
phát sinh nhiều vấn đề khác như: tài sản, quyền nuôi con,… Trong đó, việc tranh chấp
chia tài sản chung vợ chồng ngày càng nhiều vì tài sản là thứ quan trọng và mật thiết
đối với mỗi con người. Những tranh chấp này thường kéo dài gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến tình cảm giữa các thành viên trong gia đình. Qua nghiên cứu việc giải quyết
các vụ án về ly hôn có tranh chấp về tài sản chung, có thể thấy việc áp dụng đúng đắn
các quy định của pháp luật của Tòa án đã góp phần nâng cao chất lượng giải quyết
tranh chấp, hạn chế những bất cập khi giải quyết các vụ án ly hôn có tranh chấp về tài
sản chung.
Theo số liệu thống kê của cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, từ
ngày 01/01/2017 đến ngày 01/01/2019, tổng số vụ án được giải quyết tại TAND cấp
huyện là: Hình sự - 33942 vụ án, Dân sự - 27892 vụ án, Hôn nhân và gia đình –
1


107991 vụ án, Kinh doan thương mại – 3020 vụ án, Hành chính – 422 vụ án, Lao động
– 607 vụ án, Quyết định tuyên bố phá sản – 17 quyết định, Quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính – 14516 quyết định.[1] Ví dụ như trong những năm trở lại đây,
tình hình ly hôn tại TAND huyện Chơn Thành ngày càng tăng cao, đặc biệt là khi ly
hôn vợ chồng có tranh chấp về tài sản chung. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân
chưa nắm bắt được quy định của pháp luật dẫn đến việc khi ly hôn luôn muốn giành
quyền tài sản đó thuộc về mình, không có được sự thỏa thuận hay thống nhất với nhau.
Theo thống kê của TAND huyện Chơn Thành, tính từ đầu năm 2017 đến tháng 5 năm
2019 có gần khoảng 2759 đơn xin ly hôn được nộp tại Tòa án chiếm khoảng 61,7% số
đơn khởi kiện tại Tòa án. Trong đó, thuận tình ly hôn là 874 vụ chiếm 31,7%, ly hôn có
tranh chấp về quyền nuôi con là 618 vụ chiếm 22,4%, ly hôn có tranh chấp về tài sản
chung là 1062 vụ chiếm 38,5%, ly hôn có tranh chấp khác là 205 vụ chiếm 7,4%.[2]
Tình trạng gia tăng các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn cho

nghiên cứu vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có yếu tố nước ngoài.
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn luôn được xã hội
quan tâm cũng như trong giới nghiên cứu học thuật. Thời gian qua, đã có rất nhiều các
công trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân, tranh chấp tài sản chung vợ chồng khi ly hôn. Ở cấp độ luận văn, có một số
công trình như:
- Nguyễn Thị Hạnh (2012), “ Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật
Việt Nam, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Học
viện khoa học xã hội;
- Đinh Thị Minh Mẫn (2014), “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của
vợ chồng khi ly hôn”, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội.
Dưới dạng tài liệu chuyên khảo, bài báo trên các tạp chí cũng đề cập đến vấn đề
tranh chấp tài sản chung vợ chồng khi ly hôn như:
- Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường Đại học Luật thành
phố Hồ Chí Minh, NXB Hồng Đức, 2018);
- Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam – tập 2: Các quan hệ
tài sản giữa vợ chồng (Nguyễn Ngọc Điện, NXB Trẻ, 2018);
- Bình luận Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Nguyễn Thị Chi, NXB Lao
động, 2018).
Các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành có thể kể đến như:
3


- Đoàn Thị Phương Diệp (2006), “Về nguyên tắc suy đoán tài sản chung trong
pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam và Luật dân sự Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu
Khoa học 2006:6, tr.182-185.
- Trần Công Thịnh (2015), Hòa giải trong việc giải quyết vụ việc về hôn nhân
và gia đình theo quy định của Bộ luật TTDS Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN:
Luật học, tập 31-số 1, tr.23-29.

hoặc người chồng tạo lập trước thời kỳ hôn nhân, khối tài sản được vợ chồng tạo lập
trong thời kỳ hôn nhân, khối tài sản được tặng cho riêng, được tặng cho chung và các
hoa lợi lợi tức phát sinh từ các khối tài sản này.
Khác với Luật HN&GĐ năm 2000, mặc dù thừa nhận chế độ tài sản vợ chồng
theo thỏa thuận là cần thiết và đem lại nhiều lợi ích nhưng chỉ quy định duy nhất một
chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật. Luật HN&GĐ năm 2014 quy định hai cách
thức xác lập chế độ tài sản vợ chồng: Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài
sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. [3]
Chế độ tài sản theo thỏa thuận: là chế độ tài sản do vợ chồng tự thoản thuận với
nhau về các loại tài sản như: tài sản giữa vợ và chồng bao gồm cả tài sản chung và
riêng; giữa vợ và chồng không có tài sản riêng mà tất cả tài sản vợ chồng có được
trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung; giữa vợ và
chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi kết hôn
và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó; xác
định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.[4]
Trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, ý thức tự chủ và độc lập
của mỗi cá nhân ngày càng cao, đặc biệt là đối với phụ nữ, họ muốn khẳng định mình
cũng có thể tham gia vào các mối quan hệ xã hội, tự mình làm việc và tìm kiếm tài sản
3

Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2014.
Điều 15 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
HN&GĐ năm 2014.
4

5


do chính mình tạo ra, họ không còn phụ thuộc vào gia đình hay chồng giống như trong
xã hội cũ. Khi quan hệ hôn nhân được xác lập, để rõ ràng trong các quan hệ tài sản của

Nguyễn Thị Hạnh (2012), Chia tài sản chung vợ chồng theo pháp luật Việt Nam – Thực tiễn áp dụng và hướng
hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

6


bằng tài sản chung. Vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với bất động sản có trước khi
kết hôn và bất động sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong
thời kỳ hôn nhân. Chế độ cộng đồng toàn sản không thừa nhận quyền sở hữu riêng của
vợ, chồng mà chỉ thừa nhận quyền sở hữu chung, theo đó toàn bộ tài sản vợ, chồng có
trước và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung. Quy định đó xuất phát từ
quan niệm nhu cầu chung, lợi ích chung của gia đình là tối cao, tài sản của vợ chồng
được pháp luật thừa nhận và bảo vệ là vì mục đích đó, nên tất cả tài sản vợ, chồng có
trước và trong thời kỳ hôn nhân phải thuộc khối tài sản chung, quyền có tài sản riêng
không được thừa nhận vì mâu thuẫn với lợi ích của gia đình. Với đặc điểm trên, chế độ
cộng đồng toàn sản chỉ phù hợp với quan hệ hôn nhân gia đình trong xã hội truyền
thống. Trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội hiện nay, khi quyền tự do cá nhân
luôn được đề cao, chế độ cộng đồng toàn sản đã bộc lộ những hạn chế cơ bản, vì không
đảm bảo quyền tự định đoạt của người có tài sản, đặc biệt khi tài sản đó do vợ, chồng
làm ra trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng; nó cũng
không đảm bảo được sự độc lập của vợ, chồng do họ không có tài sản riêng để tham
gia các quan hệ xã hội khác ngoài quan hệ gia đình; mặt khác, việc chế độ cộng
đồng toàn sản được áp dụng trong giai đoạn hiện nay có thể khuyến khích cho các quan
hệ hôn nhân thực dụng.
Thứ hai, chế độ tài sản của vợ chồng theo tiêu chuẩn không có cộng đồng tài sản
hay còn gọi là chế độ phân sản. Chế độ phân sản là một hình thức của chế độ tài sản
pháp định, trong đó giữa vợ chồng không tồn tại chế độ tài sản chung, mà mỗi bên vợ,
chồng có quyền sở hữu riêng đối với những tài sản do mình làm ra trước và trong thời
kỳ hôn nhân, pháp luật chỉ qui định nghĩa vụ của vợ, chồng về đóng góp vào chi tiêu
chung của gia đình. Ngoài ra, chế độ phân sản còn có cách gọi khác là chế độ hồi môn.

có được trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung; Giữa
vợ và chồng không có tài sản chung mà tất cả tài sản do vợ, chồng có được trước khi
kết hôn và trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc sở hữu riêng của người có được tài sản đó;
Xác định theo thỏa thuận khác của vợ chồng.
1.1.2 Các loại tài sản chung của vợ chồng
Thông thường việc xác định tài sản chung vợ chồng chỉ áp dụng khi vợ chồng
có tranh chấp về tài sản và vợ, chồng không có áp dụng chế độ tài sản thỏa thuận. Tài
sản là một trong những yếu tố quan trọng duy trì cuộc sống gia đình. Căn cứ xác định
tài sản chung vợ chồng là “thời kỳ hôn nhân” và “nguồn gốc tài sản”.
Theo Khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “thời kỳ hôn nhân là
khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày
8


chấm dứt hôn nhân”. Nghĩa là việc kết hôn từ khi được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền công nhận (thời điểm quan hệ hôn nhân có hiệu lực) cho đến ngày Tòa án tuyên
bố vợ, chồng ly hôn, vợ, chồng chết thì quan hệ hôn nhân kết thúc. Mặc dù không có
căn cứ xác định việc đóng góp vào tài sản chung vợ, chồng ai nhiều hơn ai nhưng đối
với sở hữu chung vợ, chồng thì vợ, chồng có quyền ngang nhau về sử dụng, định đoạt
khối tài sản này. Khắc phục những bất cập của Luật HN&GĐ năm 1959 và năm 1986
về tình trạng “hôn nhân thực tế”, Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014
quy định quan hệ hôn nhân gia đình xác lập trước ngày luật này có hiệu lực thì áp dụng
pháp luật về hôn nhân gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết, nhằm hạn chế tình
trạng nam, nữ kết hôn, có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống nhưng chưa
đăng ký kết hôn. Quy định này phần nào giúp được Tòa án giải quyết các tranh chấp về
tài sản vợ, chồng. Trong quá trình thực tiễn xét xử, TANDTC đã ban hành một số văn
bản hướng dẫn giải quyết các vấn đề này như: Thông tư số 112-NCPL ngày 19/8/1972
TANDTC hướng dẫn xử lý về dân sự những tranh chấp về việc kết hôn vi phạm điều
kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 1959; Thông tư số 81-DS ngày 27/4/1981
TANDTC hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế, đã công nhận “hôn nhân

Tài sản do vợ, chồng tạo ra có thể là tài sản do tự tay vợ, chồng tạo ra để phục vụ cho
nhu cầu của mình như: xây nhà, trồng trọt, chăn nuôi,…hoặc cũng có thể là vợ, chồng
sử dụng tiền bạc của mình để mua tài sản, nhận chuyển quyền sở hữu của người khác
sang sỡ hữu chung vợ chồng như: chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sỡ hữu
nhà, mua sắn bàn ghế, tivi,…[7] Thu nhập của vợ, chồng được hiểu là thu nhập của vợ
chồng do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, theo tính chất nghề
nghiệp, công việc chuyên môn của vợ, chồng mội cách hợp pháp trực tiếp hoặc gián
tiếp. Thu nhập chủ yếu thường là tiền lương, tiền công, thu nhập thu được qua quá
trình sản xuất, chăn nuôi, lợi nhuận thu được thông quá quá trình sản xuất, kinh doanh.
Bên cạnh đó, pháp luật còn liệt kê những khoản thu nhập khác ngoài những khoản thu
nhập nêu trên vẫn được xem là thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân của vợ,
chồng. Tại Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 quy định: “Khoản
tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3
Điều 11 của Nghị định này. Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy
định của BLDS năm 2015 đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị
đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước. Thu nhập hợp
pháp khác theo quy định của pháp luật.” Như vậy, các khoản thu nhập hợp pháp khác
trong thời kỳ hôn nhân của vợ, chồng có thể là khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng số
6

Lã Thị Tuyền (2014), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Khoa luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
7
Trương Thị Lan (2016), Chế độ tài sản vợ chồng pháp định theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm
2014, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

10


xố, tiền trợ cấp; tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của



06/04/2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06/04/2016 của Chánh
án TANDTC.[8]
Ba là, tài sản là quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn. Đất
đai là một loại tài sản đặc biệt do Nhà nước thống nhất quản lý. Theo quy định tại
Khoản 2 Điều 54 Hiến pháp 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức,
cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất. Người
sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật. Quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ. Các loại quyền sử dụng
đất được sau khi kết hôn bao gồm: Quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc của
riêng vợ, chồng được Nhà nước giao trong trường hợp: Nhà nước giao đất nông nghiệp
để trồng cây lâu năm, trồng cây hằng năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, giao đất để
nuôi trồng thủy sản, đất làm muối,… Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà được Nhà
nước giao cho vợ, chồng hoặc một bên vợ và chồng cũng được xem là tài sản chung vợ
chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng được tặng cho, thừa kế chung hoặc có được
thông qua giao dịch từ tài sản chung của vợ chồng.
Bốn là, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ chồng thỏa
thuận là tài sản chung. Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 213 BLDS năm 2015
và được cụ thể hóa trong Luật HN&GĐ năm 2014. Một gia đình muốn hạnh phúc, bền
vững thì việc phát triển kinh tế, tạo lập tài sản sẽ được chú trọng. Khi cuộc sống gia
đình không xảy ra sự mâu thuẫn thì việc phân định tài sản chung hay riêng, do ai làm
ra nhiều hơn không được chú trọng, ở đây vợ và chồng chỉ cùng nhau cố gắng làm việc
để tích góp tài sản chung cho mình. Vì lẽ đó, sẽ có nhiều trường hợp vợ, chồng muốn
nhập chung tài sản riêng của mình vào tài sản chung của vợ chồng, và mặc nhiên tài
sản đó được xem là tài sản chung của vợ chồng có thể do thỏa thuận hoặc được lập
bằng văn bản. Việc này dẫn đến hậu quả đó là khó xác định tài sản này là tài sản riêng
của vợ chồng hay tài sản chung vợ chồng khi có tranh chấp.
Năm là, tài sản chung được xác định do nguyên tắc suy đoán. Khoản 3 Điều 33
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định trường hợp tài sản đang tranh chấp mà không có

có thu nhập nhằm thể hiện rõ hơn quan điểm của nhà nước bảo vệ những người vợ,
chồng không trực tiếp lao động tạo ra thu nhập cho gia đình mà thực hiện công việc nội
trợ, chăm sóc gia đình và con cái, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc
sống, đảm bảo sự công bằng giữa vợ và chồng, đây là điểm mới của Luật HN&GĐ
năm 2014 so với Luật HN&GĐ năm 2000. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như sau: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự
thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây: Bất động
9

Đoàn Thị Phương Diệp (2006), “Về nguyên tắc suy đoán tài sản chung trong pháp luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam và Luật dân sự Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học 2006:6, tr.182-185.
10
Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014.

13


sản; Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; Tài sản
đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.” Như vậy, không thể một bên vợ
hoặc chồng có thể tự ý chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung mà phải có sự thỏa
thuận và bình đẳng giữa vợ và chồng. Trường hợp vợ hoặc chồng tự ý định đoạt tài sản
chung mà không có ý kiến của người còn lại thì người đó có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
Nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung. Tài sản chung của vợ chồng phải
bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng. Điều 37 Luật HN&GĐ 2014 quy
định: “Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ
bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách
nhiệm; Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia
đình; Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; Nghĩa

cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền,
nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống
chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.[12] Luật HN&GĐ
năm 2014 quy định căn cứ để xác định nguyên nhân giải quyết ly hôn tuy nhiên quy
định vẫn còn chung chung, chưa cụ thể trong thực tiễn dẫn đến việc xem xét và áp
dụng luật còn nhiều khó khăn và hạn chế. Theo quy định của của Luật HN&GĐ năm
2014, có hai căn cứ để xác định là căn cứ ly hôn:
Căn cứ thứ nhất, Tòa án sẽ xem xét yêu cầu cho ly hôn của vợ hoặc chồng nếu
xét thấy có hành vi bạo lực gia đình, hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống
hôn nhân không thể kéo dài. Hành vi bạo lực gia đình bao gồm các hành vi: hành hạ,
ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; Lăng
mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;Cô lập, xua đuổi hoặc gây
áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; Ngăn cản việc thực hiện
quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con;
giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; Cưỡng ép quan hệ tình dục; Cưỡng ép
tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Chiếm
đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành
viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; Cưỡng ép
thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm
soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

11
12

Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014.
Khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

15



trở lên dẫn đến việc mục đích trong quan hệ hôn nhân không đạt được, quy định này
giúp người còn lại giải thoát được tình trạng hôn nhân của mình.
13

Khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007.
Điều 17 Luật HN&GĐ năm 2014.
15
Khoản 2 Điều 68 BLDS năm 2015.
14

16


1.2.2 Các trường hợp ly hôn theo quy định của pháp luật
Trường hợp thuận tình ly hôn. Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn,
nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính
đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận
được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì
Tòa án giải quyết việc ly hôn.[16] Tự nguyện ly hôn là việc vợ và chồng đều có nguyện
vọng, không bị cưỡng ép yêu cầu Tòa án để giải quyết được thuận tình ly hôn. Điều
này được pháp luật cho phép và phù hợp với đạo đức xã hội. Khi bản thân vợ và chồng
xét thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, không còn hạnh phúc, mục đích của
hôn nhân không đạt được và nhận thấy ly hôn là cách giải quyết tốt nhất để giải thoát
thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Bên cạnh đồng thuận ly hôn thì vợ và
chồng phải có sự thỏa thuận về chia tài sản, nuôi dưỡng và chăm sóc con. Về vấn đề tài
sản: khi thuận tình ly hôn, vợ chồng sẽ tự thỏa thuận việc phân chia tài sản chung dựa
trên quy định của Luật HN&GĐ năm 2014. Về con chung: Việc ai là người nuôi con
sau khi ly hôn phải được ghi nhận trong quyết định thuận tình ly hôn của Tòa án. Sau
khi ly hôn mặc dù con sẽ do vợ hoặc chồng chăm sóc theo quyết định của Tòa, người

2000. Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 có những điểm mới phù hợp hơn với thực tế
hiện nay. Khi có yêu cầu ly hôn của một bên theo quy định, Tòa án phải xác minh tình
trạng thực tế của quan hệ hôn nhân, áp dụng căn cứ theo quy định của pháp luật để giải
quyết. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi
một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,
làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng,
vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của
họ. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một
bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm
chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ
của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của
họ.[19] Việc luật quy định cha, mẹ hoặc người thân thích khác có quyền yêu cầu giải
quyết ly hôn khi nhận thấy có căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ
năm 2014 là điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2014. Ta có thể nhận thấy ngoài vợ và
chồng thì những người thân thích của vợ và chồng có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
nếu quan hệ hôn nhân của vợ và chồng rơi vào quy định tại Khoản 2 Điều 51 Luật
HN&GĐ 2014. Ly hôn là quyền của cả hai vợ chồng. Tuy nhiên pháp luật dựa vào
thực tiễn cuộc sống đã đưa ra những trường hợp mở rộng quyền yêu cầu ly hôn cho
những người thân thích. Khoản 3 Điều 19 Luật HN&GĐ năm 2014 có giải thích
“Người thân thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu
về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.” Tuy nhiên, người thân thích chỉ được
yêu cầu ly hôn nếu một bên vợ chồng mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác dẫn đến
không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia
đình do chồng hoặc vợ họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức
18
19

Khoản 1 điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
Khoản 2 điều 51Luật HN&GĐ năm 2014.


thành niên nhưng bị tàn tật, bị mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao
động và không có tài sản để nuôi bản thân. Quan hệ của cha mẹ với con cái không mất
20

Khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status