VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC DIỆP
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN NGỌC DIỆP
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ
TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 834 0402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN CHIẾN THẮNG
Nguyễn Ngọc Diệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT
VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ......................................................... 8
1.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ..............................................................................8
1.2. Chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .......................................15
1.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài .......................................................................................................................31
1.4. Các nhân tố cơ bản thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ..........................34
1.5. Kinh nghiệm một số tỉnh về thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài ..............................................................................................................38
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC
TIẾP NƢỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG ......................... 42
2.1. Tổng quan về hệ thống chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn tỉnh Bình Dương .................................................................................42
2.2. Thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài .....................46
2.3. Các nhân tố cơ bản thu hút vốn trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bình Dương ..49
2.4. Phân tích SWOT thu hút vốn trực tiếp nước ngoài của tỉnh Bình Dương ......53
2.5. Đánh giá tổng quát về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của
tỉnh Bình Dương trong thời gian qua .....................................................................56
2.6. Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế .............................................................61
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI TỈNH BÌNH
DƢƠNG .................................................................................................................... 64
3.1. Phương hướng thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại tỉnh Bình Dương................................................................................................64
: ASEAN’S Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do của ASEAN
EU
: European Union
Liên hiệp Châu Âu
FDI
: Foreign Direct Investment
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
: Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
MNCS
: Multinational corporations
Các công ty đa quốc gia
NAFTA
: North America Free Trade Agreement
Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
TNCs
nước đi sau có thể làm được. Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí và vai trò ngày càng to
lớn, nó đã và đang trở thành xu hướng của thời đại. Đối với quá trình phát triển kinh
tế của Việt Nam, từ một điểm xuất phát thấp, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò
hết sức quan trọng, nó là nguồn bổ sung vốn cho đầu tư, một kênh để chuyển giao
công nghệ, giải pháp để tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu
cho ngân sách và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Về việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã được Đảng
và Nhà nước ta coi là một chủ trương quan trọng nhằm góp phần khai thác các
nguồn lực trong nước, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, tạo sức mạnh tổng hợp phục
vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước. Để tăng cường
hoạt động thu hút FDI vào nước ta Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
chỉ rõ nhiệm vụ của nhà nước ta trong thời gian tới là: “Tạo điều kiện kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ
1
tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại tạo nhiều việc làm. Cải thiện
môi trường kinh tế pháp lý để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.”
Nhận thức đúng vị trí và vai trò to lớn của đầu tư trực tiếp nước ngoài, Chính
phủ Việt Nam đã ban hành chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt
Nam, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho các nhà đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam. Phương châm của chúng ta là đa dạng hóa và đa phương hóa hợp tác đầu
tư với nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau. Chính Phủ
Việt Nam coi vấn đề và sử dụng hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng thể
chiến lược phát triển và tăng trưởng kinh tế ở nước ta hiện nay là một trong những
nhiệm vụ chiến lược trọng yếu nhất. Trong một phạm vi nhất định, có thể nói rằng
việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, liên tục và bền vững mà Việt
Nam đang theo đuổi, tại thời điểm xuất phát thấp hiện tại, phụ thuộc rất nhiều vào
Việt Nam”. Đề tài NCKH cấp Bộ. Nhóm tác giả đã đề cập những hạn chế và mất
cân đối trong hoạt động FDI ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp khắc phục.
Hoàng Thị Bích Loan, 2008, “Thu hút đầu tƣ trực tiếp của các công ty
xuyên quốc gia vào Việt Nam”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Tác giả cho
chúng ta thấy toàn cảnh bức tranh của các công ty xuyên quốc gia trong dòng lưu
chuyển vốn FDI toàn cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của các của các công ty xuyên
quốc gia và thực trạng đầu tư trực tiếp của của các công ty xuyên quốc gia vào Việt
Nam.
Nguyễn Xuân Trung, 2012,” Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011- 2020. Luận án Tiến sĩ
Khoa học. Thông qua việc phân tích một số vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam liên quan đến: cân đối vĩ mô, bảo vệ môi trường và chuyển giao công
nghệ; sự tác động lan tỏa, liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh
nghiệp trong nước… Tác giả đã làm sáng tỏ một số mặt tích cực và tiêu cực của đầu
tư trực tiếp nước ngoài. Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thu hút
và sử dụng FDI ở Việt Nam.
Bùi Huy Nhượng, năm 2005 “Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai
thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”, luận án tiến sĩ.
Tác giả tập trung phân tích, đánh giá tình hình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Việt Nam. Tìm những nguyên nhân về phía nhà nước đang cản trở
3
hoạt động triển khai dự án FDI tại Việt Nam. Đề xuất biệp pháp tháo gỡ khó khăn
vướng mắc, nhằm thúc đẩy việc triển khai thực hiện dự án FDI tại Việt Nam.
Trần Văn Lợi, năm 2008 “Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đến năm 2020”,
luận án tiến sĩ.
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu những tác động của hoạt động FDI đối với
gian tới.
-Nhiệm vụ của luận văn
+ Hệ thống hóa các quan điểm, lý luận cơ bản về chính sách thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài.
+ Phân tích đánh giá một cách khoa học thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian qua.
+ Xây dựng hệ thống các giải pháp thiết thực để hoàn thiện chính sách thu hút
FDI trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian nghiên cứu: Đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Bình Dương.
+ Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2005-2016 định hướng chung cho Chính sách
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho những năm tiếp theo (2020).
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành,
liên ngành khoa học xã hội và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính
sách công từ lý luận đến thực tiễn và phân tích đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả thực hiện chính sách.
Các quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định
đến xây dựng, thực hiện và đánh giá có sự tham gia của các chủ thể chính
sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách
5
công giúp hình thành lý luận về chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
6
Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương.
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU
TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
1.1. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về đầu tư
Đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực
vốn lớn hơn để phát triển sản xuất, kinh doanh. Trên bình diện doanh nghiệp, đầu tư
là việc di chuyển vốn vào một hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lại một khoản
tiền lớn hơn.
Theo Điều 3 Luật Đầu tư được Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ngày 12.12.2015 thì “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực
hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng
hoặc thực hiện dự án đầu tư.”
Hoạt động đầu tư được phân loại theo những tiêu chí khác nhau tùy theo mục
đích của việc phân loại đầu tư:
hoặc nhận viện trợ của một số tổ chức quốc tế hoặc một nước nào đó. Nước sở tại tự
sản xuất, kinh doanh, tự tìm nguồn thị trường tiêu thụ và sau một thời gian hoàn trả
cả gốc lẫn lãi dưới hình thức tiền tệ hay hàng hóa. Còn hình thức vay tín dụng thì
chủ đầu tưnước cho vay nợ) người nhận đầu tư (nước vay nợ) vay vốn trong một
thời gian nào đó và hưởng lợi nhuận qua lãi suất cho vay do hai bên thỏa thuận. Cả
hai hình thức này, khác với đầu tư trực tiếp ở chỗ là không có sự tham gia quản lý,
điều hành trực tiếp của chủ đầu tư đối với đồng vốn của mình.
Vậy khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI: Là loại hình đầu tư
quốc tế mà chủ đầu tư bỏ vốn để xây dựng, hoặc mua phần lớn, thậm chí toàn bộ
các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để trở thành chủ sở hữu toàn bộ hay từng phần
cơ sở đó và trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm về hoạt động của đối
tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài gồm công ty liên doanh, doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.
9
Công ty liên doanh (Join Venture Company) là doanh nghiệp do hai bên hoặc
nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp
định ký giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ
nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp
tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà
đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư
nước ngoài dầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Loại hình này thường đầu tư vào khu
chế xuất hặc khu công nghiệp, thời hạn hoạt động kéo dài khoảng 50 đến 70 năm.
1.1.2. Vai trò của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1 Đối với nước chủ đầu tư
a. Các tác động tích cực
là do trong năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên
và gây ra sự thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán ngân sách. Vì vậy, nó khiến
một số ngành trong nước sẽ không được đầu tư đầy đủ.
– Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư. Hãy xem
xét một trong những nguyên nhân mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm
sử dụng lao động không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển. Điều này
tất yếu làm tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu
tư. Thêm vào đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho
việc nhập khẩu trước đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình
càng làm cho nguy cơ thất nghiệp này thêm trầm trọng. Xu hướng giảm mức thuê
mướn nhân công ở nước chủ đầu tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại dẫn
đến sự đối kháng về lao động ở nước đầu tư và quyền lợi lao động ở nước chủ nhà.
1.1.2.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
a. Tác động tích cực
- FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế: FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư
phát triển mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế
khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng
và không tạo ra nợ cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh
hướng thay đổi khi có tình huống bất lợi.
11
- FDI cung cấp công nghệ mới cho sự phát triển: Có thể nói công nghệ là yếu
tố quyết định tốc độ tăng trưởng và sự phát triển của mọi quốc gia, đối với các nước
đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ. Bởi vậy, tăng cường khả
năng công nghệ luôn là một trong những mục tiêu ưu tiên phát triển hàng đầu của
mọi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi không chỉ cần nhiều vốn
mà còn phải có một trình độ phát triển nhất định của khoa học – kỹ thuật.
- Đầu tư nước ngoài (đặc biệt là FDI) được coi là nguồn quan trọng để phát
Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ nước ngoài (nhất là ở các doanh
nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học được cách thiết kế, chế tạo từ
công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của mình. Đây
là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI đối với việc phát triển
công nghệ ở các nước đang phát triển.
- FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm: Phát triển nguồn nhân
lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của
nhà đầu tư nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế
cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng
nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư. Số lao động trực tiếp làm việc trong
các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển. Ngoài ra,
các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm
nhiều cơ hội việc làm. Trên thực tế, ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử
dụng nhiều lao động đào tạo nhiều việc làm cho phụ nữ trẻ. Điều này không chỉ
mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn góp phần quan trọng vào sự nghiệp
giải phóng phụ nữ ở các nước này. FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển
nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào lĩnh vực giáo dục
đào tạo. Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ
hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản
lý tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện
nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công ty bạn
hàng. Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt
hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển
sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh
nghiệp mới. Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ
13
và dinh dưỡng cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y
dưới tác động của FDI, một số ngành nghề được kích thích phát triển, nhưng cũng
có một số ngành nghề bị mai một và dần bị xoá bỏ.
b. Tác động tiêu cực
– Về lâu dài, việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đem vốn đến đầu tư và
hàng năm lại chuyển lợi nhuận về nước sẽ tạo ra gánh nặng ngoại tệ đối với các
nước này, đặc biệt là sau khi TNCs thu hồi vốn.
– Vấn đề việc làm không phải lúc nào cũng đi theo chiều hướng mong đợi của
chúng ta, những nước tiếp nhận vốn đầu tư. Những năm gần đây, do sự phát triển
của khoa học công nghệ, lao động không lành nghề trở nên có hiệu suất thấp. Thực
tế cho thấy, các công ty có vốn FDI nhìn chung ít sử dụng lao động tại chỗ (trừ
những doanh nghiệp gia công xuất khẩu hoặc doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân
với lao động giản đơn, dễ đào tạo) và để hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng
phương thức sản xuất tập trung tư bản nhiều hơn. Nó có tác động làm giảm việc
làm, đi ngược với chiến lược việc làm của các nước đang phát triển.
– Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của các nước công nghiệp phát
triển đã có điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị các nước
đầu tư kiểm soát, kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tượng ngành hàng sản
xuất mà nước đầu tư quyết định kinh doanh. Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển
những kỹ thuật công nghệ kém tiên tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu
tư đã gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác
quá mức…
1.2. Chính sách thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.2.1. Khái niệm
Trên phạm vi quốc tế cũng như trong khu vực, cuộc cạnh tranh thu hút FDI
đang diễn ra gay gắt do ngày càng nhiều quốc gia chuyển hướng theo kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế, mở cửa để buôn bán và đầu tư với thế giới. Do vậy,
Chính phủ các nước thường xuyên điều chỉnh các chính sách trực tiếp tác động và
chính sách có liên quan đến FDI nhằm phát huy lợi thế so sánh của từng quốc gia.
trong nước được hình thành như là một phần trong chính sách công nghiệp, dịch vụ
của từng quốc gia, nhằm làm cho các doanh nghiệp trong nước được hưởng lợi từ
FDI nhờ vào mối quan hệ hợp tác và phân công về công nghệ và thị trường tiêu thụ
16
với các TNC. Chính sách này cũng khuyến khích TNC quốc tế hợp tác với các cơ
sở đào tạo (nhất là bậc đại học và dạy nghề trình độ cao), tổ chức nghiên cứu khoa
học trong nước để nâng cao hơn nữa trình độ và năng lực của các cơ sở, tổ chức đó.
1.2.2. Nội dung chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trên thực tế, từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đến nay, Việt
Nam đã và đang theo đuổi cả ba loại chính sách trên. Tuy nhiên, tính nhất quán và
ổn định trong các chính sách vẫn chưa được bảo đảm, nhất là các luật thuế và hải
quan, đôi khi được điều chỉnh không đồng bộ với các chính sách có liên quan đến
thu hút FDI.
Các nghiên cứu của thế giới đã cảnh báo về tình trạng “cuộc chiến chào
mời, khuyến khích đầu tư” có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến phúc lợi xã
hội của nước nhận đầu tư. Trong trường hợp Chính phủ ban hành quy định ưu đãi
mới có tác động gia tăng cả số lượng và chất lượng FDI, bảo đảm hiệu quả kinh tế xã hội của FDI thì tổng ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội là dương. Ngược lại, khi các
ưu đãi mới làm giảm hiệu quả của FDI thì tổng ảnh hưởng là âm.
Trong khung khổ chương trình nghiên cứu của OECD về quản lý tài chính và
doanh nghiệp toàn cầu, khu vực và quốc gia năm 2003, Andrew Charlton đã đưa ra
bốn khả năng có liên quan đến chính sách FDI: (i) “Câu trộm đầu tư” xảy ra khi các
khuyến khích FDI nhằm nâng cao tính hiệu quả kinh tế trong nước, nhưng lại tác
động tiêu cực đến hiệu quả quốc tế; (ii) Cạnh tranh lành mạnh khi các khuyến khích
FDI vừa cải thiện luồng vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả kinh tế trong nước, vừa tạo
ra hiệu quả quốc tế; (iii) “Ăn mày của hàng xóm” là kết quả tồi tệ nhất của các
khuyến khích FDI, có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh tế trong nước và hiệu quả
quốc tế; (iv) “Nỗi khổ của người chiến thắng” xảy ra khi các khuyến khích đầu tư
“cuộc chiến chào mời, khuyến khích đầu tư” gây tác động tiêu cực đến phúc lợi xã
hội của dân cư do những ưu đãi không cần thiết, chỉ nhằm mục đích để cạnh tranh
với địa phương lân cận.
Trong 5 năm (2011 - 2015), việc điều chỉnh chính sách FDI gắn với cải cách
thủ tục hành chính đã làm cho hoạt động FDI khởi sắc, đặc biệt là từ 2013 đến nay,
nhiều nhà đầu tư tiềm năng đang thực hiện những dự án công nghệ cao với quy mô
vốn hàng tỷ USD như Samsung, LG, Microsoft - Nokia, Intel… đã giúp Việt Nam
dần trở thành địa điểm sản xuất hàng điện tử của thế giới.
18