VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KHẮC LAN CHI
THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KHẮC LAN CHI
THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT KHÔNG TƯỚC TỰ DO
TỪ THỰC TIỄN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
án hình sự ở nước ta. Đó là hệ thống các hoạt động của các cơ quan, tổ chức được
giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án về
các loại hình phạt nói trên theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Hình sự 1999, các hình phạt chính
không tước tự do bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất.
Trong các hình phạt này, hình phạt tiền do cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo
cơ chế riêng, hình phạt trục xuất vừa được quy định là hình phạt chính, vừa được
quy định là hình phạt bổ sung. Các hình phạt chính không tước tự do còn lại là cảnh
cáo và cải tạo không giam giữ. Các hình phạt chính không tước tự do có vai trò quan
trọng không chỉ bảo đảm nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá
hình phạt mà còn thể hiện được rõ chính sách nhân đạo của luật hình sự. Việc tăng
cường hiệu quả của các hình phạt không tước tự do là một trong những vấn đề đang
được đặt ra trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự nhằm tiếp tục tăng cường chính
sách nhân đạo, tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội.
Bộ luật Hình sự năm 2015 tiếp tục thể chế hóa chủ trương hạn chế áp dụng
hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt không tước tự do đối với người phạm tội.
Cụ thể: áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính không chỉ đối với tội ít nghiêm
trọng như trước đây, mà còn được áp dụng ngay cả đối với tội nghiêm trọng, thậm
chí là với một số tội rất nghiêm trọng; sửa đổi hình phạt cải tạo không giam giữ theo
hướng tăng cường tính cưỡng chế, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của loại hình
phạt này; khẳng định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu
phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý.
Để đảm bảo hiệu quả của các hình phạt chính không tước tự do trong pháp luật
hình sự Việt Nam cần đưa ra các yêu cầu, các tiêu chuẩn cụ thể trong quá trình lập
pháp, quá trình quyết định hình phạt và quá trình chấp hành hình phạt.Tuy nhiên, hệ
5
thống các văn bản quy định về hình phạt không tước tự do trong Luật hình sự Việt
Nam còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập; nội dung chưa được quy định cụ thể; các
nguyên nhân. Từ đó, đưa ra một số đề xuất, những giải pháp nhằm góp phần hoàn
thiện các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án hình sự của
Việt Nam, nâng cao hiệu quả công tác thi hành các hình phạt không tước tự do tại
địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương với cơ cấu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề chung về thi hành các hình phạt không tước tự do.
Chương 2: Thực trạng thi hành các hình phạt không tước tự do trên địa bàn
Quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu lực, hiệu quả
thi hành các hình phạt không tước tự do.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT
KHÔNG TƯỚC TỰ DO
1.1. Khái niệm và các đặc điểm thi hành các hình phạt không tước tự
do
1.1.1. Khái niệm thi hành các hình phạt không tước tự do
Điều 106 Hiến pháp 2013 nước ta khẳng định: “Bản án, quyết định của Toà án
nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;
cơquan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành ”[22]. Yêu cầu
mang tính nguyên tắc hiến định này đã khẳng định hiệu lực thi hành của các phán
quyết của Toà án khi có hiệu lực pháp luật, đồng thời khẳng định ý nghĩa quan trọng
của công tác thi hành án nói chung và thi hành án hình sự nói riêng.
nội dung trong phán quyết đó. Nhiệm vụ của giai đoạn này là không chỉ trừng trị
người có tội mà còn giáo dục, cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội. Ngoài
ra cũng nhằm tới mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Thi hành án hình sự là giai đoạn thể hiện rõ nét chính sách hình sự của Đảng và
Nhà nước ta. Căn cứ và nội dung của thi hành án chính là các nội dung cụ thể trong
các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đây là điểm thể hiện rõ nhất tính
tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước của thi hành án [12,tr. 13]. Nội dung thi hành
án hình sự rất rộng, bao gồm chế độ, thủ tục, tổ chức thi hành án, áp dụng các biện
pháp hành chính, giáo dục, y tế, văn hóa - xã hội và thực hiện chế độ chính sách đối
với người bị kết án. Các quan hệ xã hội cụ thể phát sinh trong quá trình thi hành và
chấp hành hình phạt như việc đưa bản án ra thi hành, chỉ định cơ quan tổ chức thi
hành, tổ chức lực lượng, cơ sở vật chất đảm bảo cho việc thi hành án, quản lý nhà
nước trong lĩnh vực thi hành án, quy định về quyền và nghĩa vụ của người chấp hành
án, nghĩa vụ của các cơ quan khác...
Thi hành án hình sự còn là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành để
thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án, mang tính bắt buộc chấp hành đối với
tất cả các chủ thể có trách nhiệm liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tổ
chức, công dân trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối
hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả. Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh
một thực tế nó không phải là hoạt động tố tụng thuần túy. Trong quá trình thi hành,
các cơ quan thi hành án tác động trực tiếp tới đối tượng phải thi hành án để họ tự
giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được
xác định trong bản án, quyết định của Tòa án, phù hợp với tính chất, mức độ nguy
hiểm của tội phạm do họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và
công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Thi hành các hình phạt không tước tự do:
Từ định nghĩa khoa học về hình phạt trong luật hình sự có thể nói: Hình phạt
không tước tự do là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về hình sự của Nhà nước
hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn của quá trình tố tụng và do
vậy, được điều chỉnh bằng các quy phạm của luật tố tụng hình sự. Song cũng có ý
kiến cho rằng, thi hành các hình phạt không tước tự do là một hoạt động hành chính tư pháp hình sự, có những nét đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình sự. Một
số khác thì coi thi hành các hình phạt không tước tự do như là luật hình sự kéo dài.
Việc xác định thi hành các hình phạt không tước tự do là một giai đoạn tố tụng,
luật hình sự kéo dài hay là hoạt động hành chính - tư pháp có ý nghĩa quan trọng để
làm sáng tỏ bản chất thi hành án hình sự nói chung và thi hành các hình phạt không
tước tự do nói riêng. Xác định đúng bản chất thi hành các hình phạt không tước tự do
có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện, đặc biệt là tạo ra cơ chế quản lý, mô
hình tổ chức và hoạt động phù hợp nhằm bảo đảm thi hành các hình phạt không tước
tự do đạt hiệu quả cao.
Như vậy, có thể nêu một cách khái quát định nghĩa về khái niệm thi hành các
hình phạt không tước tự do như sau: Thi hành các hình phạt không tước tự do là hoạt
động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật buộc
người chấp hành các hình phạt không tước tự do phải tuân thủ, chấp hành các hình
phạt mà Tòa án đã tuyên án đối với họ tại phiên tòa, phù hợp với tính chất, mức độ
nguy hiểm của tội phạm do họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức
và công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới, cũng
như phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
1.1.2. Đặc điểm thi hành các hình phạt không tước tự do.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật hình sự 2015, các hình phạt chính
không tước tự do bao gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất.
Hình phạt tiền do cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo cơ chế riêng.
Việc thi hành án phạt chính không tước tự do còn có những đặc trưng riêng biệt
như sau:
- Người bị kết án này không bị cách li khỏi xã hội. Họ được cải tạo, giáo dục
tại môi trường sống bình thường với cộng đồng. Đây là đặc điểm quan trọng để phân
biệt hình phạt chính không tước tự do và hình phạt chính tước tự do. Một số người bị
hiện rõ nguyên tắc nhân đạo trong việc xử lý tội phạm, bảo đảm vấn đề tái hòa nhập
cộng đồng, tác động tích cực đến nhận thức của người phạm tội, giúp họ nhận ra
được lỗi lầm của mình để tích cực cải tạo, phấn đấu trở thành người có ích cho xã
hội.
1.2. Nội dung thi hành các hình phạt không tước tự do
1.2.1. Thi hành hình phạt cảnh cáo
Cảnh cáo là sự khiển trách công khai của Nhà nước do Toà án tuyên án đối với
người bị kết án. Cảnh cáo là loại hình phạt nhẹ nhất trong các hình phạt chính, không
có khả năng đưa lại những hạn chế pháp lý liên quan trực tiếp đến các quyền và lợi
ích thiết thân về thể chất và tài sản. của người bị kết án. Tuy vậy, với tư cách là khiển
trách công khai của Nhà nước đối với người phạm tội, cảnh cáo gây ra cho họ những
tổn hại nhất định về mặt tinh thần. Người bị hình phạt cảnh cáo đã phải chịu sự lên
án của Nhà nước về hành vi phạm tội của mình.
Người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến
mức miễn hình phạt [21] là hai điều kiện cần và đủ để Tòa án áp dụng hình phạt cảnh
cáo đối với người phạm tội. Ngoài hai điều kiện trên, luật không quy định thêm điều
kiện nào khác nhưng khi áp dụng hình phạt cảnh cáo với người phạm tội, Toà án phải
cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, nhân thân
người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự trước khi
tuyên án. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm
2015.
Hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa do Tòa án tuyên. Trong
thời hạn 07 ngày, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Toà án đã xét xử sơ thẩm
phải gửi bản án cho người bị phạt cảnh cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị
quân đội nơi người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc làm việc, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã
xét xử sơ thẩm có trụ sở.
đối với người phạm tội nên cơ chế thi hành án phạt này không giống với cơ chế thi
hành các án phạt khác. Nếu như việc thi hành tất cả các bản án hình sự khác đều chỉ
được thực hiện sau khi bản án có hiệu lực pháp luật theo những thủ tục riêng thì án
phạt cảnh cáo lại được thi hành ngay tại phiên tòa do Tòa án tuyên. Ngay sau khi tòa
tuyên án công khai cũng có nghĩa là họ đã chấp hành xong hình phạt cảnh cáo, hay
nói cách khác là hình phạt cảnh cáo không có tổ chức thi hành.Do đó, các tổ chức xã
hội, đơn vị công tác nơi người đó làm việc, hay Ủy ban nhân dân xã, phường nơi
người đó sinh sống khó có thể nắm được tình trạng của người bị kết án và dẫn đến hệ
quả là không thể theo dõi, giúp đỡ, cải tạo người bị kết án trở thành công dân có ích
cho xã hội.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quy định mới (Điều 364) về thi hành
hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa, mặc dù sau đó bản án, quyết
định vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị [19]. Người bị phạt cảnh cáo sau một năm,
nếu không phạm tội mới thì đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại điểm a
Khoản 2 Điều 71 Bộ luật hình sự 2015.
1.2.2. Thi hành hình phạt tiền
Phạt tiền là hình phạt tước đi những quyền lợi vật chất của người bị kết án một
khoản tiền nhất định để bổ sung công quỹ Nhà nước, tác động lên tình trạng tài sản
của họ và qua đó tác động đến ý thức của người phạm tội, hạn chế các điều kiện về
tài sản mà người phạm tội có thể sử dụng điều kiện đó để tiếp tục phạm tội.
Tại khoản 1, Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định “Phạt tiền được áp
dụng là hình phạt chính đối với người phạm tội ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính và một số tội phạmkhác
do Bộ luật này quy định.” [20]
Cũng Tại khoản 1, 4 Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định sửa đổi, bổ
sung “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp sau đây:
Người phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng do Bộ luật này quy định;
Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật
Hình phạt tiền sẽ được thi hành theo trình tự thủ tục của Luật thi hành án dân
sự. Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành đối với
phần bản án, quyết định về hình phạt tiền (không phân biệt là hình phạt chính hay
hình phạt bổ sung) và phân công chấp hành viên tổ chức thi hành Quyết định thi
hành án đó. Chấp hành viên tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án,
thông báo thời gian tự nguyện thi hành án. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức đặc
biệt Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hànhxác minh điều kiện thi hành án của người bị
kết án. Vận động, thuyết phục người bị kết án tự nguyện thi hành án nếu xác minh có
điều kiện để thi hành án, trường hợp người bị kết án không tự nguyện thi hành thì
chấp hành viên phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, các cơ quan, tổ chức,
Ủy ban nhân dân cấp xã để tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành án cần thiết
để đảm bảo bản án được thi hành. Trường hợp xác minh cho thấy người bị kết án
không có điều kiện thi hành án, cơ quan Thi hành án dân sự sẽ ra quyết định về việc
thi hành án chưa có điệu kiện thi hành, gửi quyết định về Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi xác minh để niêm yết. Tùy theo từng trường hợp, người bị kết án sẽ được xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án theo quy định.[24]
Áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội khi có đủ các
yếu tố sau: Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Mức tiền phạt đối với
người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt
mà điều luật quy định (Điều 99 Bộ luật hình sự năm 2015)
Thu nhập của người chưa thành niên quy định tại điều này được hiểu là thu
nhập thực tế từ hợp đồng lao động hoặc từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và có thể
là thu nhập thường xuyên hoặc không thường xuyên. Tài sản riêng của người chưa
thành niên là tài sản thuộc quyền sở hữu của người đó có được do thừa kế, tặng cho...
Về miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt là những trường hợp người
phải thi hành các khoản tiền này theo bản án, quyết định của Toà án, nhưng có đủ các
điều kiện do pháp luật quy định được Toà án có thẩm quyền quyết định miễn hoặc
giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải
tạo không giam giữ, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam
giữ.
2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi
người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để
giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ
chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa
vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ
5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng
tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập,
nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện
nghĩa vụ quân sự.
4. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị
mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công
việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và
không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai
hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo,
người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy
định tại Luật thi hành án hình sự.”[21]
Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt
của Bộ luật hình sự. Xét về bản chất đây là loại hình phạt không tước tự do, không
buộc người phạm tội cách ly khỏi gia đình, nơi làm việc cũng như xã hội nói chung.
Nội dung chính của hình phạt là thể hiện ở chỗ người bị kết án không bị tước quyền
phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp
hành hình phạt, không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ
nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới sáu tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh
hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng. Đây là quy định
thể hiện sự nhân đạo của Bộ luật.
Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính nghiêm khắc nhất trong số các hình
phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt tù. Đối với các trường hợp phạm tội mà
nếu áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền thì chưa đủ để giáo dục, trừng trị và
răn đe người phạm tội nhưng áp dụng hình phạt tù thì quá nặng,nghiêm khắc, nếu
Tòa án xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội ra khỏi môi trường sống
bình thường mà người phạm tội đó vẫn có thể tự cải tạo, giáo dục được thì Tòa án có
thể cân nhắc và quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Việc thi hành
hình phạt này phải được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện nghiêm túc theo
đúng trình tự, thủ tục quy định.
Theo quy định tại khoản 6, Điều 3 Luật Thi hành án hình sự năm 2010:
“Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có tham quyền
theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại xã, phường,
thị trấn và khấu trừ thu nhập sung quỹ nhà nước theo bản án đã có hiệu lực pháp
luật.”[25]
Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là một bộ phận của thi hành án hình
sự, hiện thực hóa một trong những hình phạt chính và có tính nhân đạo sâu sắc, do
cơ quan không chuyên trách, tổ chức xã hội, người có thẩm quyền thực hiện theo
trình tự, thủ tục pháp luật quy định;thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đạt
được hiệu quả xã hội cao, bảo đảm được lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân,
bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.Việc thi hành hình phạt cải tạo không giam
giữ phù hợp với đường lối xử lý tội phạm trong quá trình xây dựng nhà nước pháp
quyền và chủ trương của Bộ chính trị tại Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng