VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LƯƠNG HOÀI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
VIÊN CHỨC TỪ THỰC TIỄN
QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN LƯƠNG HOÀI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
VIÊN CHỨC TỪ THỰC TIỄN
QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. MAI HÀ
2.1.2. Kinh tế - xã hội quận Gò Vấp .......................................................... 33
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách phát triển viên chức tại quận
Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh ................................................................ 35
2.3. Kết quả thực hiện chính sách phát triển viên chức tại quận Gò Vấp,
Thành phố Hồ Chí Minh .............................................................................. 36
2.3.1. Kết quả thực hiện chính sách tuyển dụng viên chức ....................... 36
2.3.2. Kết quả thực hiện chính sách sử dụng viên chức ............................ 39
2.3.3. Kết quả thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng viên chức .......... 40
2.3.4. Kết quả thực hiện chính sách khen thưởng, kỷ luật viên chức ........ 42
2.3.5. Kết quả thực hiện chính sách tiền lương, đãi ngộ viên chức .......... 44
2.3.6. Kết quả thực hiện chính sách đánh giá viên chức .......................... 45
2.4. Đánh giá khái quát việc thực hiện chính sách phát triển viên chức tại
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh ....................................................... 46
2.4.1. Đánh giá sự tham gia của các chủ thể chính sách .......................... 46
2.4.2. Đánh giá thể chế chính sách ........................................................... 47
2.4.3. Đánh giá những khó khăn, hạn chế................................................. 48
Chương 3: TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
VIÊN CHỨC Ở QUẬN GÒ VẤP HIỆN NAY ........................................... 50
3.1. Nhu cầu, mục tiêu và định hướng tăng cường thực hiện chính sách phát
triển viên chức ở quận Gò Vấp .................................................................... 50
3.1.1. Nhu cầu tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức ..... 50
3.1.2. Mục tiêu tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức .... 51
3.1.3. Định hướng tăng cường thực hiện chính sách phát triển viên chức53
3.2. Hoàn thiện các giải pháp, công cụ thực hiện chính sách phát triển đối
với viên chức ................................................................................................ 54
3.2.1. Hoàn thiện về thể chế chính sách .................................................... 54
3.2.2. Hoàn thiện về giải pháp và công cụ thực hiện chính sách ............. 55
3.2.3 Nâng cao năng lực của chủ thể thực hiện chính sách ...................... 63
Bảng 2.1: Kết quả thực hiện chính sách tuyển dụng viên chức ..................... 39
Bảng 2.2: Kết quả thực hiện chính sách cử đào tạo nâng cao trình độ về
chuyên môn và lý luận chính trị ...................................................................... 42
Bảng 2.3: kết quả thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng ....................... 43
Bảng 2.4: Kết quả thực hiện giải quyết chế độ chính sách đối với viên chức 45
Bảng 2.5: Kết quả thực hiện chính sách đánh giá, phân loại viên chức ......... 46
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gò Vấp là quận nội thành ở phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, cách
trung tâm thành phố khoảng 8km về hướng Đông Nam, diện tích: 1973,25
Ha, dân số: 651.578 người.
Quận đã thực hiện có kết quả cơ cấu kinh tế “Dịch vụ - Công nghiệp”;
khuyến khích phát triển các loại hình thương mại - dịch vụ có giá trị gia tăng
cao; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Huy động tốt mọi nguồn
lực đầu tư cơ sở hạ tầng, tăng cường quản lý đất đai, trật tự đô thị; xã hội hóa
đầu tư đối với các công trình giao thông, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao.
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; thực hiện tốt các chương trình an
sinh xã hội; đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa”; chương trình “Giảm nghèo, tăng hộ khá bền vững” có chuyển biến tích
cực. Giữ vững quốc phòng - an ninh; đảm bảo trật tự an toàn xã hội; thực hiện
tốt chiến lược cải cách hành chính và tư pháp.
Hiện nay, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn quận Gò Vấp diễn ra nhanh,
dân số tăng cao, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý của địa phương, nhất là
công tác quản lý đất đai, quy hoạch, trật tự xây dựng đô thị, trật tự an toàn xã
hội, giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận Gò Vấp lần thứ XI, nhiệm kỳ 2015 2020 xác định mục tiêu tổng quát “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng
đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà
vực như giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, thông tin, truyền thông. Với đặc
thù của hoạt động cung cấp dịch vụ, các đơn vị này cần thiết phải sử dụng
một lực lượng lớn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được đào tạo
nghiêm túc qua hệ thống trường lớp. Thực tế, các đơn vị này đang nắm giữ
2
một số lượng nhân lực có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm hơn so
với bất kỳ hệ thống cơ quan, đơn vị nào khác.
Hiện nay, với số lượng viên chức lên tới 4749 người. Để khẳng định
được lực lượng to lớn cũng như vai trò của mình, ngoài đội ngũ công chức thì
viên chức phải tự xác định được nhiệm vụ, nâng cao tri thức để đảm nhận
công việc phục vụ cách mạng, quản lý Nhà nước và phục vụ nhân dân. Cần
phải thể hiện vai trò của mình thông qua làm việc một cách cụ thể, chu đáo,
trung thực và giải quyết nhiệm vụ chuyên môn một cách khẩn trương, nhanh
chóng. Tuyệt đối không được để xảy ra tình trạng giải quyết công việc tắc
trách, vô tổ chức mà phải được tổ chức làm việc có uy tín, điều hành, giải
quyết kịp thời, chính xác mọi yêu cầu chính đáng của nhân dân. Ở mỗi cơ
quan, tổ chức, không chỉ cán bộ, công chức mà lực lượng viên chức phải xúc
tiến tiến trình chung của công việc, không được làm trì trệ.
Trong hoạt động, viên chức phải chủ động hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ
được giao, chống lại sự quan liêu, đùn đẩy trách nhiệm và giữ vững mối quan
hệ với quần chúng, thu hút quần chúng tham gia ngày càng đông đảo vào
công tác quản lý. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì người cán bộ, công chức,
viên chức không chỉ có tài mà còn phải có đức, Người quan niệm rằng người
cán bộ, công chức, viên chức có tài mà không có đức thì như cây không rễ và
thường gây ra những tai hại không nhỏ. Ngược lại nếu chỉ có đức mà không
có tài thì chẳng khác nào ông bụt ngồi ở trong chùa. Đạo đức luôn giữ vị trí
hàng đầu, cơ bản, quyết định nhân tố của người viên chức. Trong bất cứ hoàn
cảnh nào người cán bộ, viên chức cũng phải đặt lợi ích của nhân dân, của
trong giờ làm việc.
- Việc thực hiện chính sách đối với viên chức hiện nay từ chính sách
tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỉ luật,
tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, điều kiện làm việc, nghỉ
4
ngơi… còn thiếu sự đồng bộ, nhất là đối với đơn vị cấp cơ sở. Một số quy
định trong văn bản pháp luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, hướng dẫn của
các bộ, nghành ở trung ương và địa phương còn có sự chồng chéo, thiếu
thống nhất, thậm chí trái ngược nhau. Điều này làm cho việc triển khai thực
hiện ở địa phương gặp nhiều khó khăn.
- Công tác nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức và viên chức nói riêng
hiện nay chưa đúng thực chất với năng lực thật sự; vẫn tồn tại phổ biến tình
trạng đánh giá theo kiểu “giơ cao đánh khẽ”, nể nang, chạy theo thành tích
trong công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, viên chức.
- Vẫn còn phổ biến tình trạng xem trọng bằng cấp, phân biệt trong sử
dụng cán bộ là viên chức; chưa chú trọng nhiều đến năng lực công tác, hiệu
quả công việc.
Từ tồn tại nêu trên, nhằm đánh giá đúng thực trạng việc triển khai thực
hiện chính sách phát triển viên chức ở quận Gò Vấp trong thời gian qua, từ đó
đề xuất những giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng,
hiệu quả việc thực hiện những chính sách phát triển viên chức ở quận Gò Vấp
những năm tới, bản thân tôi đã chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển
viên chức từ thực tiễn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh” cho luận văn
thạc sĩ, chuyên nghành chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính sách phát triển viên chức cũng như cán bộ, công chức, không
phải là vấn đề mới mà đã được Đảng ta đề cập ngay từ những ngày đầu thành
lập nước và liên tục đến nay như: Sắc lệnh số 188 năm 1948 và số 76 năm
6
- PGS.TS Nguyễn Minh Phương, Ths. Trần Thị Hạnh, Hoàn thiện quy
phạm pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên Tạp
chí Tổ chức nhà nước số 10 năm 2014 đã chỉ ra một số bất cập và hướng hoàn
thiện đối với các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.
- Sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức, GS.TS. Phạm Hồng Thái
(2015);
- Thực trạng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và những nội
dung cần nghiên cứu khi xây dựng Luật Viên chức, TS. Nguyễn Hải Thập
(6/2014).
Có thể khẳng định rằng, những công trình, bài viết trên có giá trị lớn về
lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển viên chức ở nước ta. Các tác giả
đã nêu những lý luận cơ bản nhất về phát triển cán bộ, viên chức, đánh giá
thực trạng tình hình cán bộ, viên chức ở nước ta trong thời gian qua và đưa ra
những giải pháp, kiến nghị rất quan trọng về tăng cường vai trò lãnh đạo của
Đảng, nâng cao hiệu lực, hiểu quả quản lý nhà nước để phát triển cán bộ, viên
chức trong những năm tới.
Tuy nhiên, mảng chính sách phát triển viên chức vẫn chưa được nghiên
cứu sâu về cả lý luận lẫn thực tiễn. Với mong muốn nghiên cứu sâu về những
vấn đề liên quan tới chính sách phát triển viên chức tại các ĐVSNCL thuộc
quận Gò Vấp, nhất là trong hoàn cảnh cơ chế, pháp luật đối với đội ngũ viên
chức và các ĐVSNCL đang có những thay đổi, luận văn này hy vọng sẽ có
những đóng góp nhất định trong chính sách phát triển viên chức tại quận và
cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố về thực hiện
chính sách phát triển viên chức từ thực tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí
Minh.
8
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa dạng, liên nghành, gắn với tư duy,
chủ trương, quan điểm chiến lược phát triển viên chức của Đảng và Nhà
nước. Với chủ đề nghiên cứu từ thực tiễn phát triển của một quận nên luận
văn kết hợp với cách tiếp cận từ dưới lên (bottom- up) với tiếp cận từ trên
xuống (top- down), cụ thể là thực hiện chính sách phát triển viên chức từ thực
tiễn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, đối chiếu, so sánh với chính sách
chung ở tầm vĩ mô, từ đó có ý kiến đề xuất hoàn thiện chính sách phát triển
viên chức ở tầm vĩ mô và tạo môi trường chính sách thuận lợi hơn cho việc
thực hiện chính sách ở địa phương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá chính sách.
Phương pháp thu thập thông tin: phân tích và tổng hợp, được sử dụng
để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến
đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của
Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành ở trung ương và địa phương; các công trình
nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban nghành đoàn
thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề thực hiện
chính sách phát triển viên chức ở nước ta nói chung và thực tế ở quận Gò
Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của
các tổ chức và học giả quốc tế liên quan đến đề tài trong thời gian qua.
Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn,
phương pháp phân tích định lượng, định tính, suy luận logic, diễn giải trong
quá trình phân tích, đánh giá chính sách.
9
nâng cao chất lượng, hiểu quả công tác phát triển viên chức, đã xây dựng và
tổ chức chỉ đạo thực hiện Chiến lược cán bộ nói chung và viên chức nói riêng
đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Văn kiện Đại hội XI của Đảng, đặc biệt là Cương lĩnh và Chiến lược
đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tổ chức và chất lượng của cán bộ, công
chức, viên chức đặt công tác này ở vị trí chiến lược trên quan điểm coi con
người là chủ thể, là trung tâm của phát triển, là mục tiêu và động lực của đổi
mới.
Nếu phát triển nhanh và bề vững là điểm xuyên suốt trong quan điểm
phát triển kinh tế - xã hội (2011- 2020), hướng tầm nhìn tới giữa thế kỷ XXI,
thì thực chất của phát triển bền vững là phát triển bền vững con người.
Chiến lược cũng nêu lên những đột phá để vượt qua những điểm nghẽn
của phát triển. Đó là đột phá thể chế, trước hết là hoàn thiện thể chế kinh tế
thị trường, tạo ra môi trường lành mạnh để phát triển sản xuất - kinh doanh
của các doanh nghiệp và doanh nhân cũng như bảo đảm chất lượng cuộc sống
của người dân; đột phá về hạ tầng kinh tế - kĩ thuật để thu hút đầu tư, phát
triển kinh tế theo hướng tái cấu trúc kinh tế, thay đổi mô hình phát triển từ
chiều rộng sang chiều sâu, kết hợp phát triển theo chiều rộng với phát triển
theo chiều sâu… và một đột phá đặc biệt quan trọng là nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực.
11
Sự nhất quán trong quan điểm của Đảng là coi trọng nhân tố con người,
nguồn lực con người. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết
định. Chiến lược phát triển con người Việt Nam, trong đó có chiến lược cán
bộ (trong đó có viên chức) ở tầm chiến lược của mọi chiến lược trong phát
triển.
Nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực. Vốn xã hội trong
1.2.1. Khái niệm thực hiện chính sách
1.2.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức
Theo Luật viên chức năm 2010: Điều 2. Viên chức
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm,
làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng
lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật.
Như vậy, đồng thời với việc Luật Cán bộ, công chức phân định “cán
bộ” và công chức, Luật Viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức,
phân biệt viên chức với cán bộ và công chức. Sự khác biệt cơ bản của viên
chức so với cán bộ, công chức, đó chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí
việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và tiền lương được hưởng từ
quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó "Đơn vị sự nghiệp
công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; tổ chức chính
trị; tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư
cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước". Đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức được chia thành hai
loại, là đơn vị sự nghiệp công được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp
công chưa được giao quyền tự chủ. Lao động của viên chức không mang tính
quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên
13
môn, nghiệp vụ, vì vậy, Luật Viên chức đã làm rõ: “Hoạt động nghề nghiệp
của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các pháp luật có
liên quan”.
Theo quy định của Luật Viên chức, vị trí việc làm: Là công việc hoặc
nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là
căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc
cách hành chính (CCHC), nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công là một
yêu cầu cấp thiết được Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm.
Tùy theo cách tiệp cận khác nhau có thể có các định nghĩa khác nhau
về chính sách:
- Theo từ điển tiếng Anh, chính sách (policy) là một đường lối hành
động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng phái, nhà cai trị,
chính khách… Theo sự giải thích này thì chính sách không phải là một quyết
định mà nó là đường lối hay là một phương hướng hành động.
- Hugh Hecslo (1972) định nghĩa một chính sách có thể được xem như
là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định
hoặc những hành động cụ thể.
- David Easton (1953) cho rằng chính sách là chuỗi các quyết định và
các hành động phân phối có giá trị. Theo Smith (1976), khái niệm chính sách
bao hàm sự lựa chọn có thủ định hành động hoặc không hành động, thay vì
những tác động của những lực lượng có quan hệ với nhau.
Cấu trúc của chính sách gồm 3 bộ phận: Một là: Những đường hướng
hành độngứng xử (là quan điểm định hướng chính sách). Hai là: Biện pháp
thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách. Ba là: Mục tiêu mà chính
sách hướng tới.
15
Ở nước ta, các nhà nghiên cứu cũng đang đưa ra các quan niệm về
chính sách công như:
- TS. Đặng Ngọc Lợi trong bài viết trên Tạp chí Kinh tế và dự báo (số
tháng 1 năm 2012) cho rằng chính sách công là chính sách của nhà nước, của
chính phủ (do nhà nước, chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách
kinh tế và chính sách nóichung của mỗi nước.
- PGS.TS. Lê Chi Mai cho rằng: “Chính sách công bố có những đặc
16/2012/TT-BNV ngày 28/12/2012 của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế thi
tuyển, xét tuyển viên chức; Quy chế thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp
đối với viên chức và Nội quy kỳ thi tuyển, thi thăng hạng chức danh nghề
nghiệp đối với viên chức; Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của
Chính phủ Quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường,
hoàn trả của viên chức; Thông tư số 18/2012/TT-BNV ngày 18/12/2012 của
Bộ Nội vụ Quy định về chức danh nghề nghiệp và thay đổi chức danh nghề
nghiệp đối với viên chức; Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 của
Chính phủ Quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công
lập; Nghị định số 31/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2017 của Chính phủ Quy định
mức lương tối thiểu chung; Nghị định số 76/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009 của
Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 204/2004/NĐCP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công
chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày
31/7/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường
xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức
và người lao động; Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của
Chính phủ Quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển
đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số
150/2013/NĐ-CP ngày 01/11/2013 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số
17
điều của Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy
định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công
tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 34/2012/NĐ-CP ngày
15/4/2012 của Chính phủ về
phụ cấp công vụ; Thông tư liên tịch số
163/2010/TTLT-BTC-BNV ngày 20/10/2012 giữa Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ
đất nước.
1.2.3. Vai trò của thực hiện chính sách phát triển viên chức
Thực hiện chính sách phát triển viên chức có vai trò rất quan trọng
trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Thực hiện tốt chính
sách phát triển viên chức giúp đất nước có nguồn nhân lực chất lượng cao,
đáp ứng được nhu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay. Tạo môi trường dịch vụ công trong sạch, chuyên nghiệp,
thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Đồng thời, thực hiện chính sách phát triển đội ngũ viên chức giúp nâng
cao chất lượng các dịch vụ công, bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh
vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập
chưa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo
dục tại miền núi, biên giới, hải đảo vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
1.3. Nội dung và các giai đoạn thực hiện chính sách phát triển
viên chức
1.3.1. Thực hiện chính sách tuyển dụng viên chức
Theo quy định tại Điều 22 của Luật viên chức và Điều 4 Nghị định số
29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ quy định về người đăng ký
dự tuyển phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, năng
lực theo yêu cầu của vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, có đủ các điều
kiện đăng ký dự tuyển quy định tại Điều 22 Luật viên chức.
19