NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CỦA BỘT CTMP VÀ BỘT DIP ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYÊN LIỆU ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO - Pdf 49

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CỦA BỘT CTMP VÀ BỘT DIP
ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYÊN LIỆU ĐẾN
CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO

Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ MIỀN
Ngành: Công nghệ sản xuất giấy & bột giấy
Niên khóa: 2004 - 2009

Tháng 02 năm 2009


NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CỦA BỘT CTMP VÀ BỘT DIP
ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYÊN LIỆU ĐẾN
CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO

Tác giả

TRẦN THỊ MIỀN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư
ngành công nghệ giấy và bột giấy

Giáo viên hướng dẫn:
Th.S. ĐẶNG THỊ THANH NHÀN

Tháng 12 năm 2008

giấy Tân Mai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong thời gian em
thực tập tại công ty.

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn trong và ngoài lớp đã động viên tinh thần để tôi
hoàn tất luận văn tốt nghiệp này.

Chân thành cảm ơn
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2009
Trần Thị Miền

ii


TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu đặc tính của bột CTMP và bột DIP, ảnh hưởng của nguyên liệu
đến chất lượng giấy in báo”. Đề tài được tiến hành tại phòng thí nghiệm thuộc công ty
cổ phần giấy Tân Mai, thời gian thực hiện từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008. Đề tài
được thực hiện dựa trên cơ sở khảo sát dây chuyền thực tế, kết hợp với kết quả thí
nghiệm, xử lý và so sánh số liệu.
Hai loại bột này được đem đi xác định độ nghiền ban đầu. Sau đó xác định chiều dài
xơ sợi và nghiền ở các độ nghiền khác nhau để nghiên cứu đặc tính của bột CTMP và
bột DIP. Để nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến tính chất của
giấy in báo, bột CTMP và bột DIP được phối trộn ở các tỷ lệ khác nhau (100 : 0; 70 :
30; 50 : 50; 30 : 70; và 0 : 100). Các chất phụ gia khác được sử dụng ở mức cố định,
theo công thức phối chế của máy giấy số 3 của công ty cổ phần giấy Tân Mai. Cuối
cùng tất cả các mẫu bột được đem đi xeo handsheet để xác định các tính chất cơ lý của
bột.
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Bột CTMP có chiều dài xơ sợi và độ trắng cao hơn
bột DIP
- Chiều dài đứt lớn nhất của bột CTMP là 4.462m ở độ nghiền 48 oSR,

2.1.1 Tình hình công nghiệp giấy trên thế giới .........................................................3
2.1.2 Tình hình công nghiệp giấy ở Việt Nam ..........................................................5
2.1.2.1 Tình hình sản xuất ......................................................................................7
2.1.2.2 Tình hình xuất khẩu....................................................................................8
2.1.2.3 Tình hình nhập khẩu...................................................................................8
2.1.2.4 Tình hình tiêu dùng ....................................................................................9
2.1.3 Cơ hội, khó khăn của ngành giấy Việt Nam trong quá trình hội nhập...........10
2.1.3.1 Cơ hội .......................................................................................................10
2.1.3.2 Khó khăn ..................................................................................................10
2.1.3.3 Những hạn chế của ngành giấy Việt Nam hiện nay .................................11
2.1.4 Định hướng phát triển ngành giấy đến năm 2010 ..........................................11
2.1.4.1 Giải pháp đầu tư .......................................................................................11
2.1.4.2 Giải pháp nguyên liệu cho ngành giấy .....................................................12
2.1.4.3 Giải pháp ô nhiễm môi trường .................................................................12
2.1.4.4 Định hướng phát triển khoa học công nghệ ngành công nghiệp giấy đến
năm 2010 ....................................................................................................................13
iv


2.2 Tổng quan về giấy in báo ở Việt Nam .................................................................14
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ giấy in báo ở Việt Nam .....................................14
2.2.2 Nguyên liệu sản xuất giấy in báo ...................................................................15
2.2.2.1 Giới thiệu sơ lược về bột DIP...................................................................15
2.2.2.2 Giới thiệu sơ lược về bột CTMP ..............................................................19
2.2.2.3 Hóa chất sử dụng cho sản xuất giấy in báo ..............................................20
2.2.3 Tiêu chuẩn giấy in báo ...................................................................................23
2.2.4 Sơ đồ khối dây chuyền sản xuất giấy in báo ..................................................23
2.3 Tổng quan về quá trình nghiền.............................................................................25
2.3.1 Cơ sở lý thuyết quá trình nghiền ....................................................................25
2.3.2 Ảnh hưởng của quá trình nghiền lên tính chất của bột...................................26

5.1 Kết luận.................................................................................................................43
5.2 Kiến nghị ..............................................................................................................43
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................45
PHỤ LỤC ..................................................................................................................46

vi


DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA …………..ASEAN Free Trade Area
APEC…………...Asia – Pacific Economic Co – operation
ASEAN……..… Association of South – East Asia Nations
CTMP…………. Chemo – Thermo – Mechanical
DAF…………… Dissolved Air Flotation
DIP……………. Deinking Pulp
C ……………….Nồng độ
IB 58………….. .Giấy in báo độ trắng 58 %ISO
IB 62 ……………Giấy in báo độ trắng 62 %ISO
IB 67……………Giấy in báo độ trắng 67 %ISO
ISO……………..International Standards Organization
KTĐ ……………Khô tuyệt đối
QTMĐ …………Quy trình máy đo
STT ……………Số thứ tự
VPPA ………….Vietnam Pulp and Paper Association
WTO………….. World Trade Organization
Mn ……………..Mẫu thứ n
Sn ………………Độ nghiền thứ n
CDĐ …………..Chiều dài đứt
ĐCX…………... Độ chịu xé


Bảng 2.4 Tình hình sản xuất - tiêu dùng, xuất nhập khẩu giấy in báo tại Việt Nam . .15
Bảng 2.5 Thành phần hoá học nguyên liệu gỗ keo lai .............................................. .19
Bảng 3.1 Hoá chất sử dụng cho sản xuất giấy in báo ................................................ .35
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ kháng đứt của bột………………………33
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ chịu xé của bột…………………………34
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ đục của bột……………………………..35
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ trắng của bột…………………………....36
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến chiều dài đứt của giấy in báo………………...37
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ chịu xé của giấy in báo…………………...39
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ thấm dầu của giấy in báo…………………40
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ đục của giấy in báo…………………….....41
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột và độ nghiền đến độ trắng của giấy in báo……….42

ix


CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo nguồn tin từ tổng công ty giấy Việt Nam, giấy in báo là tâm điểm xôn xao dư
luận trong những tháng đầu năm 2008. Giấy in báo có mức tăng trưởng nhập khẩu cao,
tăng tới 51% so với cùng kỳ năm 2007. Vì cả nước ta hiện nay chỉ có duy nhất nhà
máy giấy Tân Mai là sản xuất giấy in báo. Ở thời điểm này, có thể dự báo lượng tiêu
dùng giấy in báo ở Việt Nam năm 2008 ở con số khoảng 130.000 tấn/năm. Với việc
huy động thêm máy để sản xuất giấy in báo của công ty giấy Tân Mai, thì sản xuất
trong nước cũng chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu dùng (Hình 1.1). Hàng năm,
Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 65.000 tấn giấy in báo từ các nước lân cận như:
Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, Trung Quốc,…Dự kiến đến năm 2020, nhu cầu giấy in
báo của Việt Nam vào khoảng 300.000 tấn/ năm.
200.000


2015

Hình 1.1 Sản xuất – tiêu dùng và nhập khẩu giấy in báo ở Việt Nam
1


Hiện nay, các công ty giấy trong nước đang có một số dự án đầu tư mở rộng thêm
dây chuyền sản xuất giấy in báo, để đáp ứng cho thị trường trong nước và hướng tới
xuất khẩu. Nhưng để có thể cạnh tranh được với thị trường giấy trên thế giới, thì chất
lượng của sản phẩm giấy là một trong những vấn đề rất quan trọng. Muốn sản xuất
được một loại giấy có chất lượng tốt, cần phải xem xét rất nhiều yếu tố. Trong đó, các
loại bột dùng làm nguyên liệu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng của giấy. Vì vậy, các nhà công nghệ giấy cần phải nắm bắt được các đặc tính
của từng loại bột dùng trong sản xuất, như vậy mới nâng cao được chất lượng của sản
phẩm giấy.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của giáo viên hướng dẫn, tôi thực
hiện đề tài “Nghiên cứu đặc tính của bột CTMP và bột DIP, ảnh hưởng của nguyên
liệu đến chất lượng giấy in báo”.
1.2 Mục đích đề tài
- Nghiên cứu đặc tính của nguyên liệu chính dùng cho sản xuất giấy in báo, đó là
bột CTMP và bột DIP. Đồng thời khảo sát ảnh hưởng của độ nghiền đến tính chất của
hai loại bột trên.
- Đề tài cũng tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn và độ nghiền trong
công đoạn chuẩn bị bột đến chất lượng giấy in báo. Từ đó, đưa ra tỷ lệ phối chế
nguyên liệu hợp lý và độ nghiền thích hợp cho dây chuyền sản xuất giấy in báo.
1.3 Giới hạn đề tài
Để có được sản phẩm giấy in báo tốt, cần phải xem xét rất nhiều các yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng giấy như: quá trình nghiền, chất độn, gia keo chống thấm, quá
trình ép, quá trình sấy… nhưng vì thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung vào việc

lên trên 1,5 triệu tấn (tăng 39%).

3


Tương tự là Đài Loan và Hàn Quốc. Một mặt Đài Loan tăng hệ số sử dụng giấy loại
trên mức 60%, mặt khác đẩy mạnh xuất khẩu giấy và bìa (tăng 18,8%). Song, các nhà
máy giấy của nước này vẫn phải cắt giảm sản lượng xuống tới 10,5% đối với giấy và
4,2% đối với bìa. Còn Hàn Quốc, có năng lực sản xuất 11,4 triệu tấn/năm, mặc dù tình
hình kinh tế khả quan hơn, tuy nhiên cũng chỉ huy động được 82% công suất các nhà
máy giấy.
Một số quốc gia Đông Nam Á đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược phát triển
ngành công nghiệp này. Philippines tăng sản lượng giấy lên 1,69 triệu tấn/năm và vượt
nhu cầu tiêu dùng trong nước khoảng 300.000 tấn (số dư thừa hướng vào xuất khẩu).
Indonesia là nước có sản lượng bột và giấy lớn nhất trong khu vực, đã chủ động thu
hút thêm 8 dự án đầu tư nước ngoài vào ngành giấy để vươn lên là một cường quốc
xuất khẩu mặt hàng này.
Bảng 2.1: Sản lượng giấy và bột giấy châu Á từ năm 2004 - 2010
Đơn vị: triệu tấn
Sản lượng

2004

2005

2006

2007

Giấy


47.750

47.490

(Nguồn VPPA, báo công nghiệp giấy, số 5/2008)

4


160.000

Tổng sản lượng
(tấn)

140.000
120.000
100.000
80.000

Giấy

60.000

Bột

40.000
20.000
0
2004

xuất bao bì đã cho biết là thiếu giấy. Các tháng giữa năm 2008, các nhà in, sản xuất,
báo chí cũng thông báo thiếu giấy. Qua đó cho thấy việc tăng năng suất sản xuất giấy
trong nước đang là vấn đề cấp bách, đặc biệt là giấy in báo được liệt kê vào một trong
những mặt hàng nhạy cảm.
5


Tuy vậy, những tháng đầu năm 2008, kinh tế Việt Nam đã trải qua những khó khăn
gay gắt, nhất là ở thời điểm cuối quý II. Hiện tại, khó khăn còn nhiều nhưng mức độ
gay gắt đã giảm dần. Với nỗ lực không ngừng, vượt qua những thử thách dồn dập, các
doanh nghiệp giấy đã định hình được các biện pháp để duy trì, phát triển sản xuất.
Tổng quát, chúng ta nhận thấy những điểm nổi bật sau: Những đơn vị có sức cạnh
tranh cao, chất lượng sản phẩm tốt đều không đủ để cung cấp cho thị trường, ngược lại
các đơn vị có quy mô nhỏ, chất lượng sản phẩm thấp đều gặp khó khăn trong tiêu thụ.
Trong 20 năm qua, ngành giấy Việt Nam có tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng
15%, đưa công suất của toàn ngành lên 800.000 tấn/năm. Tuy nhiên, với cùng điểm
xuất phát ấy thì Indonesia đã đưa sản lượng lên gấp 10 lần Việt Nam, còn chỉ riêng đối
với mặt hàng giấy in báo thì công suất của Trung Quốc là 2,5 triệu tấn/năm (gấp 50 lần
Việt Nam). Với quy mô quá nhỏ bé này thì máy móc thiết bị lạc hậu, chi phí giá thành
cao, ô nhiễm môi trường rất nặng nề, hiệu quả thấp cùng với trình độ quản lý và điều
hành doanh nghiệp trong ngành còn nhiều hạn chế, bất cập thì khoảng cách về quy mô
sản xuất và trình độ công nghệ của Việt Nam đã xa dần so với các nước trong khu vực.
Sự tụt hậu này đã đặt ngành giấy Việt Nam vào vị thế cạnh tranh quá thấp khi bước
vào giai đoạn hội nhập.
Theo Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam, định suất tiêu thụ giấy trên đầu người của
người Việt Nam hiện nay bình quân khoảng 21,08 kg/người/năm, dự kiến đến năm
2010 là 31 kg/người/năm. Tuy nhiên, mức tiêu thụ giấy bình quân của Thái Lan là
31kg/người/năm, Indonesia là 19,4kg/người/năm và Malaysia là 80,9 kg/người/năm.
Khả năng đáp ứng tiêu dùng trong nước của toàn ngành giấy là 61,92% và bột giấy là
37% nhu cầu, còn lại vẫn phải nhập khẩu.

2.618.000

5.400.000

Sản lượng

1.120.000

1.311.600

1.988.000

2.415.000

5.000.000

Nhập khẩu

951.092

962.579

705.986

725.343

1.300.000

Xuất khẩu


28

32

61

(Nguồn VPPA, báo công nghiệp giấy, số 9/2008)

6.000.000
Tổng sản lượng
(tấn)

5.000.000
4.000.000

Sản xuất

3.000.000

Nhập khẩu
Xuất khẩu

2.000.000
1.000.000
0
2007

2008

2009

xuất để ngày càng có nhiều mặt hàng xuất khẩu hơn.
2.1.2.3 Tình hình nhập khẩu
Hiện nay, ngành giấy nước ta sản xuất chưa đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước. Vì vậy, nước ta phải nhập khẩu một lượng lớn cả về bột giấy và giấy. Dự kiến
cả năm 2008 nước ta nhập 160.000 tấn bột, tăng 45% so với năm 2007 (110.000 tấn).
Dự kiến nhập khẩu giấy năm 2008 tăng 27% so với năm 2007 đạt 1.093.300 tấn, trong
đó nhập khẩu giấy in báo là 42.000 tấn (bằng 93% so với năm 2007), chiếm gần 4%
trong tổng lượng giấy nhập khẩu, giấy in - giấy viết là 110.000 tấn (10% trong tổng
lượng giấy nhập khẩu) và giấy làm bao bì công nghiệp là 797.364 tấn (bằng 73% tổng
lượng giấy nhập khẩu).

8


2.1.2.4 Tình hình tiêu dùng
Dự kiến cả năm 2008 lượng giấy tiêu dùng ở Việt Nam là 2.232.900 tấn, tăng 24%
so với năm 2007. Tiêu dùng giấy in báo đạt 114.000 tấn, tăng 15% so với năm 2007.
Tiêu dùng giấy in - giấy viết là 405.000 tấn, tăng 49% so với năm 2007. Tiêu dùng
giấy bao bì đạt 797.300 tấn, tăng 35% so với năm 2007. Bước sang năm 2008, ngành
giấy đã nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của thủ tướng chính phủ về việc không tăng giá
để chống lạm phát đến hết tháng 6 năm 2008. Làm giá giấy sản xuất trong nước thấp
hơn giá giấy nhập khẩu, gây ra cơn sốt giá nội, gây áp lực đối với ngành giấy về việc
đảm bảo cung cấp cho thị trường và về việc điều chỉnh giá bán trong nước. Nhất là đối
với giấy in báo, giấy in - giấy viết là những mặt hàng nhạy cảm.
Nhiều năm qua, tình hình cung cầu giấy ở Việt Nam ổn định. Tuy nhiên, đầu tư mới
hàng năm chỉ đáp ứng được phần gia tăng về nhu cầu, nên tỷ lệ đáp ứng nhu cầu của
thị trường vẫn không được cải thiện (60%). Dự đoán tới năm 2010, tiêu dùng giấy ở
Việt Nam lên đến 2,9 triệu tấn giấy và năm 2015 tiêu dùng tới 6 triệu tấn giấy, tăng so
với năm 2007 (1,8 triệu tấn) lần lượt là 1,6 lần và 3,35 lần. Tiêu dùng tính theo đầu
người (kg/người/năm) là 32kg và 60 kg.

465.000

875.000

1.867.000

2.975.000

Nhập khẩu

110.039

68.000

31.000

54.000

36.000

Xuất khẩu

-

20.000

137.000

1.042.000


1.500.000
1.000.000
500.000
0

Xuất khẩu

2007 2008 2009 2010 2015
Năm
Hình 2.3: Dự báo tình hình bột giấy ở Việt Nam năm 2007 - 2015
2.1.3 Cơ hội - khó khăn của ngành giấy Việt Nam trong quá trình hội nhập
2.1.3.1 Cơ hội
Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với lực lượng lao động dồi dào (hơn 80
triệu dân) và chi phí lao động thấp. Theo dự báo, mức tiêu thụ giấy bình quân đầu
người/năm của Việt Nam năm 2010 và 2015 ước đạt 32 kg và 61 kg. Đây cũng là cơ
hội để thu hút nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp ngoài nước.
Ngoài ra, các doanh nghiệp giấy của Việt Nam có thể thâm nhập và mở rộng thị
trường ở các nước láng giềng như Lào và Campuchia,…
2.1.3.2 Khó khăn
Ngành giấy Việt Nam là một trong những ngành được bảo hộ đầu tiên chịu áp lực
cạnh tranh lớn khi bước vào hội nhập. Thực tế cho thấy, hơn một tuần sau khi áp dụng
mức thuế mới theo AFTA, khoảng cách về giá giữa giấy nội và giấy ngoại đã kéo dài
hơn.
Cụ thể là trong các mặt hàng giấy đang được sản xuất trong nước hiện nay, hai loại
giấy in và giấy viết từ nhiều năm nay luôn được bảo hộ với mức thuế nhập khẩu khá
cao (50%) làm cho giấy ngoại có chất lượng khá cao cũng khó có thể cạnh tranh. Tuy
nhiên, về sau mức thuế nhập khẩu sẽ giảm xuống dần và đến giá trị bằng 0% thì cuộc
cạnh tranh giữa giấy nhập khẩu và giấy sản xuất trong nước sẽ càng trở nên khốc liệt.
10




Tổng công suất các nhà máy giấy cũng tăng lên khá cao từ 1.050.000 tấn/năm tăng
lên 1.976.550 tấn/năm.
2.1.4.2 Giải pháp nguyên liệu cho ngành giấy
Đối với các nhà máy đã có sẵn vùng nguyên liệu thì việc quy hoạch lại đất, nâng
cấp nhằm đảm bảo đủ nguyên liệu cho nhà máy hoạt động.
Những nhà máy mới xây dựng cần quy hoạch vùng nguyên liệu tại chỗ cho nhà máy
như: nhà máy bột giấy Kon Tum có quy hoạch trồng rừng 120.000 ha bạch đàn, keo tai
tượng, thông, keo lai,…và rừng tự nhiên hỗ trợ (lồ ô, tre, nứa). Nhà máy giấy Thanh
Hóa 60.000 tấn giấy và 50.000 tấn bột giấy có quy hoạch 65 – 70 ngàn ha rừng trồng
(luồng, tre, nứa).
Xây dựng một số nhà máy bột giấy ở khu vực khác như miền Trung, miền Đông
Nam bộ, gắn liền với vùng nguyên liệu giấy trong chương trình 5 triệu ha rừng của
chính phủ để cung cấp bột cho các nhà máy trong toàn quốc không có điều kiện phát
triển bột giấy (vì ô nhiễm môi trường).
Để đảm bảo cân bằng sinh thái, giảm bớt rừng bị khai thác. Ngành công nghiệp giấy
cũng có phương án nhập giấy phế liệu về, tái chế lại bột giấy đưa vào sản xuất (công ty
giấy Tân Mai, công ty giấy Việt Trì). Ngoài ra, khối công nghiệp giấy địa phương tận
dụng giấy phế liệu, phế liệu trong nông nghiệp như bã mía, rơm rạ tại địa phương.
Hầu hết nguyên nhiên vật liệu khác đều được sử dụng từ nguồn cung cấp trong
nước là chính.
2.1.4.3 Giải pháp ô nhiễm môi trường
Theo đánh giá của ban chỉ đạo quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, Bộ Tài
nguyên và Môi trường cho biết: ngành giấy là một trong những lĩnh vực gây nhiều ô
nhiễm nhất trong quá trình phát triển.
Công nghệ sản xuất giấy ở Việt Nam còn rất lạc hậu. Để sản xuất ra một tấn giấy
thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng từ 30 - 100 m3 nước, trong khi các nhà máy
giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7 - 15 m3/tấn giấy. Sự lạc hậu này không chỉ gây
lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử lý nước thải mà còn đưa ra sông, rạch lượng

Ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học bảo quản nguyên liệu sản xuất bột giấy
và xử lý nước thải nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
13


Ứng dụng công nghệ xử lý chất thải, xác lập giải pháp giảm thiểu và loại trừ ô
nhiễm môi trường sinh thái, kiểm soát và quản lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất.
Phát triển ứng dụng công nghiệp chất độn, phụ gia, tiết kiệm năng lượng, nâng cao
chất lượng và sản lượng.
Ứng dụng công nghệ xeo hiện đại, tăng tốc độ, nâng cao hiệu suất vật tư thiết bị.
Thiết lập và nâng cao chất lượng hệ thống phòng thí nghiệm, đảm nhiệm việc thử
nghiệm, kiểm định tính chất của bột và giấy theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO 9002).
Tự động hóa quá trình công nghệ và vận hành, kiểm soát chất lượng và môi trường,
điều hành và quản lý sản xuất.
Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu triển
khai công nghệ, xây dựng đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học chuyên
ngành, ứng dụng công nghệ mới và tư vấn đầu tư phát triển.
2.2 Tổng quan về giấy in báo ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ giấy in báo ở Việt Nam
Theo tổng công ty giấy Việt Nam, giấy in báo có mức tăng trưởng nhập khẩu cao,
tăng tới 51% so với cùng kỳ năm 2007. Vì cả nước ta hiện nay chỉ có duy nhất nhà
máy giấy Tân Mai là sản xuất giấy in báo. Ở thời điểm này, có thể dự báo lượng tiêu
dùng giấy in báo ở Việt Nam năm 2008 ở con số khoảng 130.000 tấn/năm. Với việc
huy động thêm máy để sản xuất giấy in báo của công ty giấy Tân Mai, thì sản xuất
trong nước sẽ đáp ứng 50% nhu cầu tiêu dùng, và lượng nhập khẩu cả năm sẽ dừng ở
quanh con số 65.000 tấn/năm. Công ty giấy Tân Mai, công ty cung cấp giấy in báo lớn
nhất nước hiện nay đã thông báo tăng giá giấy từ ngày 28 tháng 6 năm 2008 và các
công ty giấy đồng loạt tăng giá thêm từ 6 - 21% kể từ ngày 30/6/2008. Hiện tại, giá
giấy in báo nhập về Việt Nam đạt mức 800 USD/tấn và sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung
tại Châu Á bị hạn chế. Giá giấy in báo nhập về Việt Nam có thể đạt mức 820 - 850

58000

200.000

Tiêu dùng

99.468

106.462

114.136

122.883

180.000

Sản xuất

55.000

55.000

55.000

55.000

190.000

Nhập khẩu


các loại giấy báo, tạp chí…có bổ sung thêm một lượng nhỏ bột hoá nhiệt cơ (CTMP).
2.2.2.1 Giới thiệu sơ lược về bột DIP
Bột DIP là loại bột giấy được sản xuất từ nguyên liệu giấy thu hồi như: giấy báo cũ,
tạp chí, sách vở học sinh, giấy văn phòng... Mục đích là chế biến giấy đã qua sử dụng
để có thể sử dụng nó như một nguyên liệu chính làm giấy. Tức là tách thành phần xơ
sợi và phi xơ sợi riêng biệt nhau bằng tác nhân cơ học và hoá học. Ví dụ như loại rác khử mực ra khỏi hỗn hợp bột. Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp khử mực đó
là phương pháp rửa và phương pháp tuyển nổi. Giấy thu hồi giữ một vai trò rất quan
trọng, nó được xem như là nguồn nguyên liệu thay thế cho ngành giấy. Việc sử dụng
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status