VĂN HỌC HIỆN ĐẠI ĐỨC - kì 3Lương Văn Hồng
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI ĐỨC
Kì 3
II.THỜI KỲ HƯNG THỊNH CỦA VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
1910-1930
Bối cảnh lịch sử
Từ năm 1910 đã hình thành thế hệ thứ hai của những nhà văn hiện đại . Công nghiệp hóa phát triển tới mức, hình như con người cghỉ còn là nô lệ của máy móc. Cuộc sống ở thành phố lớn có những
đặc trưng như: số đông trở nên vô nhân xưng (không ai biết họ là ai), con người phải sống theo nhịp điệu công nghiệp, quản lý có tính máy móc, không có tình người. Giao thông tấp nập vội vã. Lượng thông
tin do phim ảnh và báo chí cung cấp tràn ngập mọi nơi, mọi chỗ. Rồi cuối cùng con người thấy mình ngày càng rời xa văn hóa truyền thống.
Đặc điểm văn học
Thành phố lớn hình thành thì cũng hình thành lớp công chúng đông đảo. Lập tức những họat động văn hóa, thể thao dành cho lớp công chúng này cũng xuất hiện: khắp nơi hát ca khúc mới thời thượng
(Schlagermusik), các nhà xuất bản lớn với nhà máy in riêng hình thành , nó chuyên in tạp chí và báo ảnh (báo có tranh minh họa, biếm họa) và lọai sách ba xu . Báo chí, công nghiệp thông tin và giải trí hợp
nhất với nhau thành những tổ hợp kinh tế đầy quyền lực như Hugenberg, như Ufa.
Đời sống văn hóa ngày càng tập trung ở Berlin. Ở đây người ta thấy rất rõ nét cái mâu thuẫn giữa nghệ thuật và kinh doanh. Tác giả thời kỳ hưng thịnh của văn học hiện đại
Chủ nghĩa biểu hiện 1910-1925
Franz Kafka sinh ngày 3.7.1883 ở Praha (Tiệp Khắc) trong một gia đình tiểu thương gốc Do Thái ở tỉnh lẻ chuyển về thủ đô Praha và ông mất ngày 3.6.1924 ở khu an dưỡng Kierling ngọai ô thủ đô
Viên (nước Áo) . Mặc dù gia đình nói tiếng Tiệp, nhưng vì Praha hồi bấy giờ là thủ đô của vương quốc Bõhmen và đồng thời là một trung tâm văn hóa Đức sau thành phố văn hóa Viên, nên Kafka không theo
học trường Tiệp, mà theo học trường Đức. 1901-1906, Kafka học Ngữ văn Đức và Luật ở Đại học Praha. 1906-1907 ông hành nghề Luật sư, 1908-1922 làm nhân viên cho một công ty bảo hiểm. Trong thời
gian này ông có đi du lịch Ý, Pháp, Đức, Hung-ga-ri, Thụy Sĩ. Từ 1917 tới 1922, Kafka đã đi chữa bệnh lao phổi ở các nơi như Zũrau, Schelesen, Meran, Spindlermũhle. 1.7.1922 Kafka phải nghỉ hưu sớm
vì bệnh lao phổi nặng.
Từ 1923 cho tới khi mất năm 1924, Kafka chung sống với Dora Diamant ở Berlin, rồi ở Viên và chỉ chuyên tâm viết văn. Kafka là kẻ độc hành cô đơn khó hiểu, xung đột nội tâm không sao giải quyết được do
hai cá tính trái ngược nhau giữa người cha tiểu thương độc đóan hung dữ trong sinh họat gia đình, cương quyết chạy theo lợi ích vật chất với cá tính thờ ơ yếu đuối của cậu con trai. Xung đột này dẫn tới việc
Kafka gửi gắm tất cả tâm tư vào văn chương. Kafka miêu tả xung đột nội tâm của mình trong tác phẩm Thư gởi cha (mãi năm 1952 mới xuất bản). Câu chuyện đính hôn bất hạnh của Kafka với Milena
Jesenská thể hiện rõ trong truyện ngắn Bản án (Das Urteil, viết năm 1912, xuất bản năm 1916). Truyện ngắn này kể về cuộc sống nội tâm giằng xé giữa người cha cục cằn vô cớ luôn la mắng con trai và cá
tính nhu nhược buông trôi của cậu con trai -một thương gia trẻ.
Tiểu thuyết Vụ án (Der Prozess, viết năm 1914, xuất bản năm 1925) kể về cái chết bi thương của nhân viên ngân hàng Joseph K. . Joseph K. bỗng dưng bị nhà chức trách vô danh bắt và sau đó bị tử hình.
Joseph K. trở thành nạn nhân của hệ thống hành chính quan liêu tới mức khó hiểu: cái phi lý bi kịch. Lọai Motiv như thế ta chỉ thấy có ở nhà văn Kafka. Lúc sinh thời, những tác phẩm đã in của Kafka không
được dư luận chú ý, nên ông đã nhờ bạn mình là Max Brod hãy đốt những bản thảo còn lại sau khi mình qua đời , nhưng Brod làm ngược chúc thư của Kafka, ông không hủy nó như trong chúc thư, mà cho
xuất bản các bản thảo ấy.
Và từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, những tác phẩm của Kafka mới được dư luận lưu ý, rồi nó trở nên nổi tiếng bởi chưa có một nhà văn nào cùng thời dự cảm cho ta thấy rõ nỗi cô đơn, sự bất an
của cái tôi, sự xa lạ của thế giới như trong những tác phẩm của Kafka. Hóa thân (Die Verwandlung, viết năm 1912, xuất bản năm1915) kể về anh chàng đi chào hàng Gregor Samsa - một người chú tâm
hòan thành những chuyến giao hàng và giao lại đủ số tiền hàng ,nhưng vẫn bị chủ nghi ngờ. Sau những cơn ác mộng, Samsa thức giấc và thấy mình biến thành một con bọ cạp (Kãfer). Tác phẩm Vụ án, Lâu
đài phản ánh nỗi bất an trong đời sống con người đầu thế kỷ XX. Những tác phẩm khác là: Mỹ (Amerika, 1927), Nhà trừng giới ( In der Strafkolonie,1919), Thầy thuốc nông thôn (Ein Landarzt,
1919), Vô địch nhịn đói (Ein Hungerkũnstler, 1924).
Lâu đài
Sau khi Franz Kafka mất, bạn thân của ông là Max Brod cho xuất bản tiểu thuyết * Lâu đài năm 1926. Xuất phát từ những quan niệm khác nhau về thân phận con người nên có những đánh giá khác
nhau về tiểu thuyết Lâu đài trong giới phê bình văn học trên thế giới. Tiểu thuyết kể về một người làm đạc điền đến lâu đài của bá tước West West để tìm việc là K., anh được thông báo là chuẩn bị nhận việc,
và chức sắc trong vùng là Klamm còn viết thư động viên K. làm việc. Tuy có quen một số người như Barnabás , Olga, Frida, nhưng K. cũng không sao gặp được nhà chức trách để xem kết quả tuyển dụng. *
Else Lasker-Schũler là nữ thi sĩ của chủ nghĩa biểu hiện Đức, bà sinh ngày 11.2. 1869 ở Elberfeld và mất ngày 22.1.1945 ở Jerusalem. Nữ nhà thơ là con một chủ nhà băng (ngân hàng), đồng thời là
kiến trúc sư. Mẹ là con lai Tây Ban Nha-Do Thái. Bà là nhà thơ có máu lãng du kiểu vùng Bohème và được Kraus động viên rất nhiều. Bà kết bạn với nhiều nhà văn thơ đương thời như P. Hille, G. Trakl,
G. Benn, F. Werfel v.v. Khi Hitler nắm chính quyền, 1933 bà sang sống lưu vong ở Thụy Sĩ, rồi 1934 sang sống ở Palestin và từ 1937 bà sống ở Jerusalem và mất ở đó năm 1945 trong cảnh cô đơn nghèo
khổ.
Thơ bà mang đậm nét Do Thái giáo, thơ có nhiều rung cảm , có cái huyền bí của truyện cổ tích phương Đông. Hai tập thơ tiêu biểu của bà là Những bài tụng ca Do Thái ( Hebraische Balladen, 1913),
Chiếc dương cầm mầu thiên thanh của tôi (Mein blaues Klavier, 1943). Lasker-Schũler là người đồng sáng lập trung tâm Sturm của chủ nghĩa biểu hiện Đức và là nhà thơ tiên phong trong khuynh hướng biểu
hiện chủ nghĩa. Ngòai thơ bà còn viết truyện ngắn Hòang tử vùng Theben (Der Prinz von Theben, 1911), Vua Malik Der Malik, 1919) và kịch Anh em nhà Wupper (Die Wupper, 1909), Những đêm Tino
sống ở Bagdad (Die Nãchte der Tino in Bagdad, 1907) . Bà thể hiện rất rõ nguồn gốc Do Thái của mình qua tập thơ Những bài tụng ca Do Thái và qua hai truyện ngắn Der Wunderrabiner von Barcelona
và Artur Aronymus. Frank Wedekind
1864-1918
Frank Wedekind là kịch gia trường phái biểu hiện chủ nghĩa. Ông sinh ngày 24.7.1864 ở Hannover và mất ngày 9.3.1918 ở Mũnchen. Cha là thầy thuốc, mẹ là diễn viên sân khấu người Hung-ga-ry. Ông
học Gymnasium ở Aarau. Ông học đại học luật và báo chí. Sau đó đi du lịch Pháp và Anh. Hauptmann và Wedekind là hai kịch gia nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX , đầu thế kỷ XX.
Cuộc đời Wedekind thăng trầm cùng nhiều nghề nghiệp: 1886 làm quảng cáo cho hãng Maggi ở Kempthal ngọai ô thành phố Zũrich, 1888 làm thư ký rạp xiếc, rồi sau chuyển sang viết văn chuyên nghiệp ở
Zũrich và Paris. 1896 cộng tác viên của tạp chí Simplizissismus. 1899/1900 làm phê bình sân khấu, diễn viên ở Schauspielhaus Mũnchen, 1901-1902 đạo diễn , 1906 thành viên của nhà hát kịch Đức ở
Berlin, rồi lại chuyển sang viết văn chuyên nghiệp.
Ở con người Wedekind có nhiều sắc thái khác nhau: lãng mạn, bi quan hài hước, táo bạo. Ông xử dụng nhiều thủ thuật của hài kịch dân gian, xiếc, ca kịch … để viết những tác phẩm có tính chất thách
thức mãnh liệt. Chính vì thế nên kịch của ông có hình thức và nội dung mới. Ông học ở chủ nghĩa tự nhiên cách đưa các khuynh hướng xã hội vào trong kịch nhưng lại với phong cách của biểu hiện chủ
nghĩa để viết tác phẩm Thức tỉnh trong mùa xuân Frũhlings Erwachen, 1891). Đó là một bi kịch gây nhiều tranh luận vì nó kêu gọi nổi dậy chống lại luân lý giả dối và giáo dục tư sản. Tác phẩm bảo vệ quyền
yêu đương chính đáng của thanh niên. Kịch chuyển động giưa hai thái cực thi ca và lố bịch và chính nó là dấu ấn chỉ thấy trong kịch của Wedekind. Tình dục mãnh liệt và tai quái đứng lên chống chọi xã hội,
nó kêu gọi tự do và hiện thân trong nhân vật Lulu ở trong hai vở kịch Thổ thần (Erdgeist, 1895) và Chiếc hộp của Pandora (Bũchse der Pandora, 1902)
Bá tước von Keith (Der Marquis von Keith, 1900) Vở bi hài kịch miêu tả thế giới hoang dã đầy phiêu lưu của gái đĩ, ma cô bịp bợm, xã hội thể hiện qua những nhân vật tượng trưng, những con rối thô lỗ.
Những nhà văn lớn của thế kỷ XX
Alfred Dõblin, Lion Feuchtwanger, Stefan Zweig
Bertolt Brecht. Năm 1925 ông chuyển về Berlin sống. Năm 1933 ông di cư sang Pháp để tránh chế độ Quốc xã. Trong thời gian lưu vong ông cùng các nhà văn tư sản tiến bộ họat động chống phát xít. 1936
ông cùng với Brecht và Bredel ra tạp chí Tiếng nói (Das Wort) của những người di cư. 1940 khi quân đội Đức tấn công Pháp, ông bị bắt, sau đó ông trốn trại giam và đi qua Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha để tới
Mỹ và ở lại đó cho tới khi qua đời năm 1958.
Feuchtwanger viết tiểu thuyết trên lập trường nhân đạo tư sản, ông chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác (Marxismus) Feuchtwanger thích viết tiểu thuyết lịch sử bằng cách phân tích sâu sắc tâm lý nhân vật
nhằm dùng quá khứ lịch sử của Đức và của Do Thái để soi rọi lại những vấn đề hiện tại. Ông chịu ảnh hưởng của Dõblin và Heinrich Mann. Tiểu thuyết của Feuchtwanger có nhiều kịch tính, nhân vật chính
không được sắc nét, nhưng được tạo nên bởi những chứng cứ lịch sử có thật với cách hành văn trong sáng, súc tích. Jud Sũss (1925) là tiểu thuyết kể về cuộc đời lên voi xuống chó của bộ trưởng bộ tài
chính Sũss ở Wũrttemberg trong thế kỷ XVIII. Bộ tiểu thuyết ba tập (1930-1940) gồm Phòng đợi, Thắng lợi, Anh em nhà Oppenheim(Wartesal, Erfolg, Die Geschwister Oppenheim) viết về hiện tại. Bộ sách
vạch trần tính chất dã man chủ chủ nghĩa phát xít và kể chuyện một gia đình Do Thái ở Berlin trước và sau khi Hitler nắm chính quyền. Lưu vong (Exil) viết về người nghệ sĩ trước vấn đề chính trị, phản
ánh những khó khăn của người lưu vong. Bộ tiểu thuyết ba tập(1932-1945) gồm Chiến tranh Do Thái, Những đứa con trai, Ngày ấy sẽ tới (Der jũdische Krieg, 1932, Die Sõhne, 1935, Der Tag wird
kommen, 1945) viết về sự thống khổ của dân tộc Do Thái dưới ách thống trị của các hòang đế La Mã Vespasian, Titus, Domitian. Những tiểu thuyết khác của Feuchtwanger là Goya, Vũ khí cho nước Mỹ,
Những con cáo ở Weinberg (Goya, Waffen fũr Armerika, Die Fũchse im Weinberg).
Stefan Zweig
(1881-1942)
Nhà văn, nhà thơ Stefan Zweig sinh ngày 28.11.1881 ở thủ đô nước Áo- thành phố Viên và mất ngày 23.2.1942 ở thành phố Rio de Janeiro nước Bra-xin. Ông là con trai một nhà tư sản công nghiệp.
Ông học Triết học, Ngữ văn Đức và ngữ văn các ngôn ngữ Roman (Germanistik und Romanistik) ở Berlin và Viên. Ông từng đi du lịch châu Âu, Ấn độ, Bắc châu Phi, Bắc và trung Mỹ. Chiến tranh thế giới
ông sống ở Viên(Áo), 1917-1918 ông sống ở Zũrich (Thụy Sĩ) và kết bạn với E. Verhaeren và R. Rolland, 1919-1934 ông sống chủ yếu ở Salzburg.1928 ông sang dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh đại văn hào
Nga L. Tolstoi. Từ 1935 ông sống ở Anh. Ông sống mấy tháng của năm 1940 ở New York, rồi sau đó sang Petropoli (Brasilien). Stefan Zweig là một người châu Âu có học vấn uyên thâm, nhưng đồng thời
cũng là đứa con đẻ của chủ nghĩa nhân đạo tư sản có thời kỳ phát