VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG MAI HOA
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LAI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHÙNG MAI HOA
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HOÀNG THỊ QUỲNH CHI
HIỆN NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN KHI THAM GIA
PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ ...........................................................65
3.1. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát và Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự .................................................................65
3.2. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên ............................................................................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
: Bộ luật Dân sự
BLTTDS
: Bộ luật Tố tụng dân sự
HĐXX
: Hội đồng xét xử
KSV
: Kiểm sát viên
KTV
: Kiểm tra viên
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng trong tố tụng
dân sự. Lịch sử về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND Việt Nam trong tố tụng dân sự
gắn liền với các giai đoạn cải cách tư pháp của Nhà nước ta qua các thời kỳ. Ngày
24/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
năm 2020. Đối với VKSND, Nghị quyết nêu rõ: "Xây dựng và hoàn thiện pháp luật
về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo hướng bảo đảm thực hiện tốt nhiệm
vụ, quyền hạn công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp". Tiếp đó, ngày 02/6/2005, Bộ
Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW, trong đó tiếp tục khẳng định:“Trước
mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên nhiệm vụ, quyền hạn như hiện nay là thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân được tổ
chức phù hợp với hệ thống tổ chức của Tòa án”. Như vậy, cả hai nghị quyết đã xác
định nhiều định hướng quan trọng, toàn diện cho việc xây dựng hệ thống pháp luật
và chương trình cải cách tư pháp đến năm 2010, đòi hỏi phải được thể chế hóa, tạo
cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) nói
chung cũng như vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTDS nói riêng.
Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989;
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các tranh chấp lao động năm 1996 thì Kiểm sát viên tham gia kiểm sát việc
tuân theo pháp luật hầu hết các vụ việc dân sự. Năm 2004 với việc ban hành Bộ luật
tố tụng dân sự đầu tiên, thì chức năng, phạm vi, thẩm quyền của Viện kiểm sát có
những thay đổi căn bản. Theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, thì phạm
vi tham gia phiên tòa xét xử dân sự của Viện kiểm sát đã bị thu hẹp đáng kể, Kiểm
sát viên không tham gia 100% các phiên tòa xét xử dân sự nữa; Viện kiểm sát chỉ
tham gia phiên tòa đối với những vụ án dân sự do Tòa án thu thập chứng cứ hoặc
đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở
hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
sát viên, người đại diện cho Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự. Vì vậy,
2
tác giả đã lựa chọn đề tài: "Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ
thẩm vụ án dân sự từ thực tiễn tỉnh Lai Châu” để làm Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ, quyền hạn của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự, có mối
quan hệ chặt chẽ với nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự, đây là vấn
đề không chỉ được ngành Kiểm sát mà còn được cả xã hội, nhất là các chuyên gia,
nhà khoa học pháp lý quan tâm nghiên cứu. Do vậy, đã có nhiều Luận án Tiến sĩ,
Luận văn Thạc sĩ, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo, chuyên
đề tổng kết rút kinh nghiệm của các ngành Kiểm sát, Tòa án… liên quan đến nội
dung về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND, của KSV trong TTDS. Các công trình
nghiên cứu, bài viết liên quan đến đề tài nêu trên, phân ra thành hai nhóm như sau:
- Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến vị trí,
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTDS sự theo yêu cầu cải cách tư
pháp như "Đổi mới vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự theo yêu
cầu cải cách tư pháp" của tác giả Nguyễn Minh Hằng, sách chuyên khảo, Nhà xuất
bản Tư pháp, năm 2008; "Hoàn thiện chế định Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật
Tố tụng dân sự", Đề tài khoa học cấp Bộ của Tiến sĩ Trần Văn Trung, năm 2003;
Luận văn Thạc sĩ luật học "Sự tham gia tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong tố
tụng dân sự Việt Nam" của tác giả Võ Thị Phượng, năm 2010; "Vị trí, vai trò của
Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành", "Nhận thức đúng thẩm
quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật Tố tụng dân sự"
của tác giả Khuất Văn Nga, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 09 năm 2004; Luận văn
Thạc sĩ luật học “Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng dân sự Việt
Nam” của tác giả Phùng Thanh Hà năm 2014.....
- Nhóm thứ hai: Nhóm các chuyên đề báo cáo tổng kết, rút kinh nghiệm
vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự, từ
đó đề xuất giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ, quyền
hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên
tòa sơ thẩm vụ án dân sự.
4
- Làm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên qua một số giai đoạn phát
triển của pháp luật tố tụng dân sự, nhất là theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự
hiện hành từ đó xác định những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ,
quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự trong thời gian tới,
góp phần bảo đảm việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án có căn cứ, đúng pháp
luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, xã hội và công dân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự theo yêu
cầu cải cách tư pháp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự;
việc tổ chức thực hiện các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự trên thực tế và những quy định của pháp luật có liên
quan đến các vấn đề nêu trên.
Phạm vi nghiên cứu thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát
viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự ở VKSND tỉnh Lai Châu. Thời điểm lấy số
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các nhà
khoa học, những người làm công tác thực tiễn, đồng thời có thể được sử dụng cho
việc nghiên cứu, giảng dạy cho các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý.
- Đề tài là nguồn tài liệu để phản ánh một số vấn đề từ thực tiễn giúp cho
các ngành Tòa án, Viện kiểm sát, Bộ tư pháp nghiên cứu, phối hợp hướng dẫn thực
hiện các vấn đề còn vướng mắc, bất cập trong áp dụng, thực hiện BLTTDS trong
thời gian tới. Qua đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định trong
BLTTDS về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên và các quy định về giải quyết
vụ án dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
6
Chương 1. Những vấn đề chung về phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự và
nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên
tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lai Châu.
Chương 3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN
DÂN SỰ VÀ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.2. Một số quy định chung về phiên tòa giải quyết vụ án dân sự
1.1.2.1.Một số nguyên tắc cơ bản về xét xử vụ án dân sự
a) Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể và nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham
gia xét xử vụ án dân sự: Xét xử tập thể và khi xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia là
hai nguyên tắc cơ bản, đặc biệt quan trọng trong xét xử vụ án dân sự của Tòa án.
Về nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể: Điều 14 BLTTDS năm 2015, quy định
“Toà án xét xử tập thể vụ án dân sự và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử
theo thủ tục rút gọn” [24, tr.15]. Điều 10 Luật tổ chức TAND năm 2014, cũng quy định
“Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo
thủ tục rút gọn. Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do luật tố tụng quy
định” [22, tr.13].
Đây là nguyên tắc hiến định và được thể hiện đầy đủ trong Bộ luật Tố tụng
dân sự. Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở việc bảo đảm tính toàn diện, đầy đủ,
khách quan của việc nghiên cứu, giải quyết các vụ án dân sự và bảo đảm tính đúng
đắn, công bằng, khách quan của các bản án và quyết định của Tòa án, tránh được
tính chủ quan, độc đoán và tùy tiện trong hoạt động xét xử. Theo nguyên tắc này,
việc xét xử các vụ án dân sự ở mọi cấp đều do Hội đồng xét xử được thành lập theo
quy định của pháp luật thực hiện. Tuy nhiên, theo quy định BLTTDS hiện hành, thì
trường hợp xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn chỉ do một Thẩm phán giải
quyết. Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm
nhân dân. Trừ trường hợp xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn (Điều 65
BLTTDS). Trong trường hợp đặc biệt thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm
phán và ba Hội thẩm nhân dân (Điều 63 BLTTDS). Khi xét xử, quyết định theo đa
số, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết mọi vấn đề của vụ án bằng
cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề. Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý
kiến thiểu số, có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ
sơ vụ án.
9
10
tư pháp, Điều 103 khoản 5 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã quy định “Nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Điều 24 BLTTDS năm 2015 quy định:
"1. Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật này.
2. Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có
quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và
có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối
đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để
bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người
khác theo quy định của Bộ luật này.
3. Trong quá trình xét xử, mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy
đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai
theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này. Tòa án điều hành việc
tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để ra bản
án, quyết định” [24, tr.19].
Từ quy định trên cho thấy: Về thời điểm và các giai đoạn tranh tụng của các
đương sự được thực hiện từ khi khởi kiện thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong
vụ án. Đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm; Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng
trong xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Tòa án có trách nhiệm
hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh
chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ
và đúng thời hạn cho đương sự tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi
có yêu cầu của đương sự theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm
Theo Điều 247 BLTTDS năm 2015: Tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc
trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh
giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật
áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án. Việc tranh tụng tại
phiên tòa được tiến hành theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên
12
tòa không được hạn chế thời gian tranh tụng, tạo điều kiện cho những người tham
gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những
ý kiến không có liên quan đến vụ án dân sự [24, tr.198].
Sau khi nghe xong lời trình bày của các đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự, thứ tự hỏi của từng người được thực hiện như sau:
Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước; Bị
đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan; Những người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm
nhân dân; Kiểm sát viên tham gia phiên tòa (hỏi sau cùng) [24, tr.200].
Để bảo đảm các tài liệu chứng cứ đều được kiểm tra, đánh giá; mọi tình tiết
của vụ án đều được các bên tranh tụng làm rõ tại phiên tòa cho nên khi cần phải có
thời gian xác minh, thu thập thêm các tài liệu, chứng cứ hoặc vì lý do chính đáng
khác thì phiên tòa có thể được tạm ngừng. Căn cứ tạm ngừng phiên tòa bao gồm:
Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà
người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay
thế được người tiến hành tố tụng; Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả
kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham
gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng mặt;
Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì
không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa;
c) Xét xử trực tiếp, bằng lời nói
Điều 225 BLTTDS năm 2015 quy định: “1. Toà án phải trực tiếp xác định
những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe lời trình bày của nguyên đơn, bị
đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố
tụng khác, cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên tòa; hỏi và nghe trả lời câu
hỏi; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập được; điều hành và nghe tranh
luận giữa các đương sự; nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát. 2.
Việc xét xử phải bằng lời nói và được tiến hành tại phòng xử án” [24, tr.184].
Theo quy định nêu trên của BLTTDS thì xét xử trực tiếp, bằng lời nói là
những nguyên tắc quan trọng của việc tiến hành phiên tòa. Các nguyên tắc này bảo
14
đảm cho việc xét xử chính xác, khách quan; bảo đảm cho Hội đồng xét xử ra bản
án, quyết định trên cơ sở xem xét chứng cứ và tranh luận công khai tại phiên tòa.
Khi xét xử, Tòa án phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án, kiểm
tra, xem xét một cách đầy đủ, khách quan mọi chứng cứ, cả chứng cứ, tài liệu có
trong hồ sơ vụ án và chứng cứ, tài liệu mới được trình ra trước phiên tòa, đánh giá
đúng một cách toàn diện. Bản án của Tòa án chỉ căn cứ vào những chứng cứ đã
được thẩm tra tại phiên tòa. Chứng cứ chưa được xem xét tại phiên tòa thì không
được dùng làm căn cứ để ra bản án.
Việc xét xử phải được tiến hành bằng cách hỏi và nghe ý kiến nguyên đơn,
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp
pháp của họ, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng, tài liệu xem
xét tại chỗ nếu cần thiết và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người
bảo vệ quyền lợi của đương sự khi tranh luận. Bản án của Tòa án chỉ được căn cứ
vào kết quả tranh tụng, việc hỏi tại phiên tòa và các chứng cứ đã được xem xét,
kiểm tra tại phiên tòa. Vì vậy, để xét xử chính xác, khách quan vụ án, Bộ luật Tố
tụng dân sự quy định sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tòa
quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ… Đồng thời, các đương sự cũng
bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các nghĩa vụ tố tụng, như nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ, nghĩa vụ tôn trọng Toà án, chấp hành các quyết định của Toà án
trong thời gian giải quyết vụ án… Dựa trên cơ sở đó Tòa án mới có thể lắng nghe
đầy đủ các ý kiến của các bên một cách khách quan, toàn diện, mới thu thập được
đầy đủ chứng cứ tạo cơ sở vững chắc cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng quy
định của pháp luật.
Về phía Tòa án cần phải khách quan, công tâm không được phân biệt đối
xử hay kỳ thị bất kỳ ai khi họ tham tố tụng và phải tạo cơ hội cho họ được thực hiện
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Toà án có trách nhiệm
giải thích cho các bên đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ, báo trước về hậu quả
pháp lý do thực hiện hoặc không thực hiện hành vi tố tụng, giúp đỡ các bên đương
sự trong việc thực hiện quyền của mình, tạo mọi điều kiện để việc nghiên cứu
chứng cứ được khách quan, toàn diện và đầy đủ, áp dụng đúng đắn những quy định
của pháp luật khi giải quyết vụ việc dân sự.
16
e) Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự
Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy định: “1. Đương sự có quyền quyết định
việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ
thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và
chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt,
thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi
phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội” [24, tr.10].
Như vậy, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là
nguyên tắc cơ bản của TTDS. Theo đó, các đương sự được quyền tự do thể hiện ý
chí của mình trong việc lựa chọn thực hiện các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ quyền,
gian của Tòa án và của đương sự.
f) Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Điều 21 BLTTDS năm 2015 về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự quy định:
“1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng
dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp
luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.
2. Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc
dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập
chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử
dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực
hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ
luật này.
3. Viện kiểm sát tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm.
4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Toà án nhân dân tối
cao hướng dẫn thi hành Điều này.” [24, tr.17].
Trong tố tụng dân sự khá đa dạng, phức tạp, lại dễ xâm phạm đến quyền, lợi
ích hợp pháp của các chủ thể, nên ngoài việc pháp luật phải quy định cụ thể quyền
và nghĩa vụ của các chủ thể thì cần thiết phải có một cơ chế kiểm tra, giám sát thích
18
hợp các hoạt động này. Đó là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa
án và các chủ thể của tố tụng dân sự. Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong TTDS là một trong những nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp thuộc
chức năng của VKSND. VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
thông qua các hoạt động khác nhau và ở các giai đoạn khác nhau của tố tụng dân sự.
kiểm sát cho đến khi kết thúc việc xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Hoạt động kiểm sát của VKS được tiến hành dưới hai hình thức trực tiếp và
gián tiếp. Trực tiếp, là việc VKS phân công KSV tham gia phiên tòa, phiên họp để
thực hiện nhiệm vụ giám sát và phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ việc của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp
hành pháp luật của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ
việc dân sự. Gián tiếp, là việc VKS kiểm tra hồ sơ vụ án trước hoặc sau phiên tòa,
phiên họp và tiến hành yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị khi phát hiện thiếu sót
hoặc vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án.
1.1.2.2. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm
Hội đồng xét xử là Hội đồng gồm các Thẩm phán và các Hội thẩm nhân
dân do Tòa án có thẩm quyền lập ra để nhân danh nhà nước trực tiếp xét xử tại
phiên tòa các vụ án và ra bản án hoặc quyết định đối với các vụ án. Pháp luật quy
định về thành phần của Hội đồng xét xử theo từng cấp xét xử và loại vụ án. Các
thành viên của Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết
thúc. Trong quá trình xét xử, nếu có Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân không tiếp
tục tham gia xét xử được thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án, nếu có Thẩm phán
hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết thay thế. Trong trường hợp không có người thay
thế ngay thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử làm việc
theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân
ngang quyền với thẩm phán. Theo quy định của pháp luật hiện hành, Tòa án ở nước
ta được chia thành hai cấp xét xử: Cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm. Cấp
xét xử sơ thẩm là cấp đầu tiên tham gia giải quyết vụ án dân sự.
Điều 63 BLTTDS năm 2015 quy định: "Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ thường hợp quy định tại
20