Phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Thanh Tuấn

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI BUÔN LẬU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Nguyễn Thanh Tuấn

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI BUÔN LẬU
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THANH DƢƠNG

HÀ NỘI - 2018

PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

NXB:

Nhà xuất bản

TAND:

Tòa án nhân dân

THTBL:

Tình hình tội buôn lậu

TPHCM:

Thành phố Hồ Chí Minh


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

2013 phát hiện, xử lý 13 vụ án buôn lậu với 23 bị cáo; năm 2014 phát hiện, xử lý 11
vụ án buôn lậu với 28 bị cáo; năm 2015 phát hiện, xử lý 16 vụ án buôn lậu với 28 bị
cáo; năm 2016 phát hiện, xử lý 17 vụ án buôn lậu với 49 bị cáo; năm 2017 phát
hiện, xử lý 12 vụ án buôn lậu với 37 bị cáo. Nhƣ vậy, số vụ án buôn lậu và số bị báo
đƣa ra xét xử mỗi năm còn khá cao và tăng giảm không theo quy luật. Chúng đã gây
ra những tác hại to lớn, gây mất ổn định tình hình kinh tế TPHCM. Có những vụ
buôn lậu trị giá hàng hóa từ hàng chục triệu đồng lên đến vài trăm tỷ đồng làm thiệt
hại kinh tế, ảnh hƣởng đến chính sách kinh tế - xã hội, đến hoạt động của các doanh
nghiệp trong và ngoài thành phố, phá vỡ kỷ cƣơng xã hội, làm giảm sút lòng tin của
nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc và các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đồng thời ảnh
hƣởng đến việc hợp tác, đầu tƣ của các nƣớc vào TPHCM.
Trƣớc tình hình đó, các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể
của TPHCM đã tiến hành nhiều biện pháp phòng ngừa THTBL nhƣ: tăng cƣờng
quản lý kinh tế hạn chế buôn lậu; tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các đƣờng lối,
chủ trƣơng phòng chống tội phạm của Đảng, Nhà nƣớc… Đồng thời các lực lƣợng
chức năng nhƣ Công an, Hải quan tiến hành các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ đã
mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, quá trình tiến hành các biện pháp
phòng ngừa THTBL trên địa bàn TPHCM cũng bộc lộ những hạn chế, khó khăn
nhất định nên chƣa thể phòng ngừa triệt để đối với tình hình tội này. Do đó, THTBL
vẫn xảy ra và diễn biến phức tạp trên địa bàn TPHCM, gây hậu quả to lớn về nhiều

1


mặt đối với TPHCM. Vì vậy, cần nghiên cứu, đề xuất các giải pháp thiết thực nâng
cao hiệu quả phòng ngừa THTBL trên địa bàn TPHCM.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Phòng ngừa
tình hình tội buôn lậu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Minh” không bị trùng lặp với bất kỳ công trình khoa học nào đã công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về phòng ngừa THTBL
và khảo sát đánh giá thực trạng hoạt động phòng ngừa THTBL trên địa bàn
TPHCM, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả phòng
ngừa THTBL trên địa bàn TPHCM trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn cần giải quyết tốt các nhiệm vụ cơ bản
nhƣ sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về phòng ngừa THTBL.
- Khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng THTBL trên địa bàn TPHCM.
- Dự báo THTBL và công tác phòng ngừa THTBL trên địa bàn TPHCM
trong thời gian tới.
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa THTBL trên
địa bàn TPHCM.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phòng ngừa tình hình tội buôn lậu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Khảo sát THTBL và hoạt động phòng ngừa tình hình tội
này trên địa bàn TPHCM.
- Về thời gian: Khảo sát tình hình thực tiễn trong khoảng thời gian 05 năm,
từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận biện chứng duy
vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, Đƣờng lối, chủ trƣơng,
3


và hoạt động phòng ngừa THTBL.
4


6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã đƣa ra các giải pháp thiết thực, nếu đƣợc áp dụng trong thực
tiễn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa THTBL trên địa bàn
TPHCM. Đồng thời luận văn có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo trong học
tập, nghiên cứu chuyên ngành Tội phạm học và các chuyên ngành có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn đƣợc cơ cấu thành ba chƣơng:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về phòng ngừa tình hình tội buôn lậu.
Chương 2. Thực trạng phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh.
Chương 3. Dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội
buôn lậu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI
BUÔN LẬU
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội buôn lậu
1.1.1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội buôn lậu
Buôn lậu là một trong các loại tội nguy hiểm, không chỉ làm thiệt hại đến nền
kinh tế đất nƣớc, mà còn ảnh hƣởng nghiêm trọng đến chính sách kinh tế - xã hội
của đất nƣớc, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, hiệu
lực quản lý kinh tế của Nhà nƣớc, gây ra những hậu quả to lớn khác về mặt chính

xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các
điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết
án về một trong các tội này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền
từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;…”.
Từ những quan niệm trên, có thể thấy điểm đặc trƣng để có thể nhận diện hành
vi buôn lậu: Đây chính là hành vi kinh doanh, buôn bán hàng hóa, tiền tệ, kim khí
quý, đá quý một cách trái pháp luật. Tuy nhiên việc kinh doanh, buôn bán trái phép
đó phải có một yếu tố hết sức quan trọng đó là phải qua biên giới hoặc từ khu phi
thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại trái pháp luật.
Từ phân tích nhƣ trên, đồng thời xuất phát từ thực tiễn tình hình khách quan
của hoạt động buôn lậu, cũng nhƣ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm buôn lậu ở
Việt Nam, có thể đƣa ra khái niệm về tội buôn lậu nhƣ sau:
Tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hoặc từ khu phi thuế
quan vào nội địa hoặc ngược lại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá
quý hoặc các vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý và phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó.
Dấu hiệu pháp lý của tội buôn lậu:
- Khách thể của tội phạm:
Khách thể bị xâm phạm của tội buôn lậu là trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là các
quy định pháp luật của Nhà nƣớc về chính sách xuất, nhập khẩu hàng hóa qua biên
giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngƣợc lại; lợi ích chính đáng của
các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh chính đáng, lợi ích của Nhà nƣớc.
Đối tƣợng của tội này rất đa dạng, nhiều chủng loại bao gồm các loại hàng
7


hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý; các vật phẩm thuộc di tích lịch
sử, văn hóa. Đối tƣợng có thể thay đổi tùy theo chính sách xuất, nhập khẩu của Nhà
nƣớc trong từng giai đoạn phát triển kinh tế nhất định.

nếu hậu quả do hành vi buôn lậu gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
nghiêm trọng thì ngƣời phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khung hình
phạt có mức cao hơn. Thiệt hại trực tiếp do hành vi buôn lậu gây ra là Nhà nƣớc không
kiểm soát đƣợc hàng hóa xuất, nhập khẩu, gây thất thu thuế nhập khẩu và xuất khẩu
hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý; làm ảnh hƣởng đến sự phát triển lành mạnh của
nền kinh tế, gây rối loạn thị trƣờng. Bên cạnh đó còn làm mất lòng tin của ngƣời dân
đối với Nhà nƣớc, đối với lƣợng lực có chức năng phòng, chống buôn lậu.
- Chủ thể của tội phạm buôn lậu:
Chủ thể của tội phạm buôn lậu là ngƣời từ đủ 16 tuổi (khoản 1, 2) hoặc từ đủ
14 tuổi trở lên (khoản 3, 4) có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của
luật hình sự Việt Nam.
- Mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm buôn lậu là hành vi có lỗi cố ý trực tiếp, ngƣời thực hiện tội phạm
nhận thức rõ hành vi buôn bán trái phép qua biên giới của mình là hành vi nguy
hiểm cho xã hội, thấy trƣớc đƣợc hậu quả của hành vi và mong muốn cho hậu quả
đó xảy ra. Không có hành vi buôn lậu nào đƣợc thực hiện do cố ý gián tiếp.
Mục đích của ngƣời phạm tội là thu lợi bất chính, ngƣời phạm tội tìm cách
buôn bán trốn thuế xuất, nhập khẩu nhằm kiếm lời. Đây chính là dấu hiệu đặc trƣng
cho tội buôn lậu, là căn cứ để phân biệt tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới.
Phòng ngừa tội phạm là vấn đề quan trọng, được sự quan tâm nghiên cứu cả
về mặt lý luận và thực tiễn trong xã hội Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trang
323 Tập 5 - Hồ Chí Minh Toàn tập đã nêu quan điểm rất quan trọng về phòng ngừa
tội phạm: "Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ; nếu nhất loạt không xử phạt thì sẽ mất cả
kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại; vì vậy hoàn toàn không dùng xử
phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng". Quan
điểm này đã được ghi nhận thành các nguyên tắc của Hiến pháp, BLHS và trong
khoa học điều tra, phòng ngừa tội phạm của Nhà nước ta.
Theo GS.TS. Võ Khánh Vinh thì “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống
nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nƣớc, xã hội và Nhà nƣớc - xã hội

chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân công dân. Nó đòi hỏi
phải thu hút sự tham gia rộng rãi của các cấp chính quyền, các tổ chức xã hội, các nhà
hoạt động chính trị xã hội và đông đảo quần chúng nhân dân. Đồng thời, việc xây
10


dựng chương trình phòng ngừa tội phạm phải được thực hiện trên cơ sở các đặc điểm
kinh tế, tâm lý, xã hội và các đặc điểm truyền thống của từng địa phương.
Giữa phòng và chống tội phạm có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít, có sự
tƣơng quan lẫn nha. Trong phòng ngừa tội phạm có chống tội phạm và ngƣợc lại
trong đấu tranh chống tội phạm có các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Phòng ngừa
tội phạm gắn liền với một tội cụ thể thì có những nét đặc trƣng riêng, gắn liền với
tội đó. Phòng ngừa tội buôn lậu gắn liền với những đặc trƣng của tội buôn lậu. Từ
phân tích những đặc điểm của tội buôn lậu và công tác phòng ngừa tội phạm, có thể
rút ra khái niệm phòng ngừa tội buôn lậu nhƣ sau: “Phòng ngừa tình hình tội buôn
lậu là hệ thống các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước - xã
hội nhằm khắc phục nguyên nhân và điều kiện của tội buôn lậu hoặc làm vô hiệu
hóa (làm yếu, hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình
hình tội buôn lậu ra khỏi đời sống xã hội”.
1.1.2. Ý nghĩa nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội buôn lậu
Tình hình tội buôn lậu gây thiệt hại lớn cho xã hội, do đó phòng ngừa tình
hình tội này là hoạt động mang tính tất yếu. Việc nghiên cứu phòng ngừa THTBL là
một phƣơng hƣớng có tính chiến lƣợc, lâu dài, hỗ trợ và tạo điều kiện cho các hoạt
động đấu tranh phòng chống tội phạm khác.
Việc nghiên cứu phòng ngừa THTBL còn tác động đến các lĩnh vực khác
nhƣ phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng… Làm tốt công tác
phòng ngừa THTBL sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi đối với các mặt công tác
phòng ngừa tình hình tội phạm khác, hỗ trợ tích cực công tác bảo vệ an ninh quốc
gia, bảo đảm an toàn xã hội.
Qua công tác phòng ngừa tội buôn lậu có thể nhận thấy bên cạnh một phần

- Hạn chế, tiến tới xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện của THTBL, không để nảy
sinh và phát triển loại tội phạm này. Đây là công việc lâu dài, phức tạp và khó khăn.
Công việc này đòi hỏi sự tham gia tích cực của cả hệ thống các cơ quan Đảng, chính
quyền, tổ chức xã hội, các cấp và mỗi ngƣời dân. Cần có các chủ trƣơng, chính sách
đúng đắn, hợp lý, toàn diện và việc triển khai đồng bộ của Đảng và Nhà nƣớc đối
với từng lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội từ từ trung ƣơng đến địa
phƣơng. Công tác này cần đƣợc tiến hành thƣờng xuyên, lâu dài và kiểm tra, kiểm
soát chặt chẽ, đảm bảo hiệu quả, là vấn đề cốt lỗi trong phòng ngừa tội phạm nói
chung và THTBL nói riêng.
12


- Chủ động ngăn chặn kịp thời, không để xảy ra các hành vi phạm tội mới.
Theo quan điểm của nhiều nhà tội phạm học hiện nay thì ngăn chặn, không để các
hành vi phạm tội xảy ra cũng chính là nội dung của phòng ngừa tình hình tội phạm,
trong đó có tội buôn lậu, bởi vì có sự tác động đến đối tƣợng trƣớc khi thực hiện hành
vi phạm tội làm cho tội phạm không xảy ra, không gây ra hậu quả, tác hại. Ý nghĩa
của việc ngăn chặn hành vi phạm tội buôn lậu là việc tác động cụ thể đến đối tƣợng,
môi trƣờng, hoàn cảnh phạm tội buôn lậu làm cho đối tƣợng phạm tội tự giác từ bỏ
hoặc không thể thực hiện đƣợc hành vi phạm tội, không gây ra hậu quả cho xã hội.
- Phòng ngừa tái phạm tội.
Đối tƣợng của phòng ngừa tái phạm tội buôn lậu là những ngƣời đã có tiền
án, tiền sự, nhất là những con ngƣời cụ thể đã từng phạm tội này hoặc một trong các
Điều 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này mà vẫn còn
những khả năng, điều kiện có thể dẫn đến hành vi phạm tội buôn lậu. Qua công tác
phòng ngừa tội phạm buôn lậu giúp nhận diện, khoanh vùng các đối tƣợng này và
có biện pháp tác động phù hợp để các đối tƣợng này không tái phạm tội buôn lậu.
Qua công tác phòng ngừa, các cơ quan chức năng áp dụng tổng hợp các biện pháp
tác động của Nhà nƣớc, xã hội, gia đình và phòng ngừa nghiệp vụ của các cơ quan
chuyên môn trong lĩnh vực tƣ pháp và Công an… nhƣ: tạo công ăn việc làm thuận

- Nguyên tắc pháp chế:
Việt Nam đang xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền. Hoạt động phòng chống tội
phạm nói chung và phòng ngừa THTBL cần đảm bảo tuân thủ các quy định của
pháp luật tức là tuân thủ nguyên tắc pháp chế. Nguyên tắc này đòi hỏi phòng ngừa
THTBL phải phù hợp với các quy định của pháp luật. Pháp luật về phòng ngừa
THTBL đòi hỏi các chủ thể phòng ngừa tuân thủ hệ thống các quy định pháp luật
phòng ngừa THTBL đƣợc quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhƣ: Hiến
pháp, Bộ luật, các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác…
Trên thực tế, để nguyên tắc này đòi hỏi có một hệ thống pháp luật phòng
ngừa THTBL hoàn chỉnh (đảm bảo tính tiến bộ, toàn diện, đồng bộ, hợp lý) và ý
thức tuân thủ pháp luật cao từ các chủ thể phòng ngừa THTBL. Nguyên tắc pháp
chế đƣợc tôn trọng thì quyền con ngƣời trong hoạt động phòng, chống tội phạm nói
chung và phòng ngừa THTBL nói riêng sẽ đƣợc bảo vệ, trách nhiệm của các chủ thể
phòng ngừa tình hình tội này đƣợc nâng cao. Tính hiệu quả trong phòng ngừa
THTBL đƣợc phát huy.
14


- Nguyên tắc nhân đạo:
Nhân đạo là giá trị xã hội rất tiến bộ và ngày càng đƣợc đề cao trong xã hội
hiện nay. Đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng hoặc phải chịu những chế tài pháp lý thƣờng
đƣợc đối xử theo tinh thần nhân đạo. Hoạt động phòng ngừa THTBL có áp dụng
tổng thể nhiều biện pháp, trong đó có những biện pháp có tác động đến các cá nhân
chịu những chế tài pháp lý… nên cần tuân thủ nguyên tắc nhân đạo. Nguyên tắc này
đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa THTBL không có tính chất làm nhục, đối xử thô
bạo hay hạ thấp danh dự nhân phẩm con ngƣời, mà cần hƣớng đến sửa chữa sai sót
nhân cách, hoàn thiện nhân cách, cải thiện điều kiện sinh sống của con ngƣời. Để
đảm bảo nguyên tắc này, trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống quy phạm
pháp luật về phòng, chống tội phạm nói chung và phòng ngừa THTBL nói riêng cần
quy định hệ thống các biện pháp chế tài đa dạng, có tính nhân đạo cùng với những

ngừa THTBL.
- Nguyên tắc phối hợp chặt chẽ giữa các chủ thể phòng ngừa THTBL:
Mỗi chủ thể có vai trò, khả năng và thẩm quyền khác nhau trong hoạt động
phòng ngừa THTBL. Để phát huy sức mạnh tổng thể trong công tác phòng ngừa tội
phạm nói chung và THTBL nói riêng cần đảm bảo nguyên tắc phối hợp chặt chẽ
giữa các chủ thể phòng ngừa tình hình tội phạm này. Sự phối hợp thể hiện ở việc
cung cấp, chia sẻ thông tin, tài liệu, xây dựng chƣơng trình kế hoạch, tổ chức thực
hiện các biện pháp phòng ngừa. Trong quan hệ phối hợp, trƣớc hết phải có sự lãnh
đạo thống nhất từ một cơ quan đầu mối chuyên trách, đồng thời phải có một cơ chế
phối hợp cụ thể, rõ ràng và đƣợc đƣợc vận dụng phù hợp trong các chƣơng trình, kế
hoạch phòng ngừa THTBL. Đồng thời, các chủ thể phối hợp cần nâng cao tinh thần
trách nhiệm cá nhân, thực hiện đúng các chức trách, nhiệm vụ của mình, sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa THTBL.
1.3. Các chủ thể phòng ngừa tình hình tội buôn lậu
Chủ thể phòng ngừa THTBL là những ngƣời và tổ chức tham gia phòng ngừa
tình hình tội phạm này một cách thƣờng xuyên và có hệ thống. Chủ thể phòng ngừa
tình hình tội phạm này gồm chủ thể lãnh đạo công tác phòng ngừa và chủ thể thực
hiện quá trình phòng ngừa tình hình tội phạm.
1.3.1. Chủ thể lãnh đạo hoạt động phòng ngừa tình hình tội buôn lậu
Tại Khoản 1, Điều 4 Hiến pháp 2013 có quy định “Đảng Cộng sản Việt
Nam… là lực lƣợng lãnh đạo Nhà nƣớc và xã hội”. Hoạt động phòng ngừa THTBL
16


là hoạt động vừa mang tính xã hội rộng rãi, vừa mang tính Nhà nƣớc, vì vậy rất cần
có sự lãnh đạo của Đảng. Với vai trò là tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà
nƣớc và xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động phòng ngừa THTBL
thông qua đƣờng lối, chính sách, định hƣớng phòng chống tình hình tội phạm nói
chung trong từng giai đoạn, trong đó có buôn lậu; thông qua chỉ đạo, định hƣớng
hoàn thiện cơ cấu tổ chức các cơ quan đấu tranh phòng chống tội phạm. Bên cạnh

và tham gia quản lý nhà nƣớc.
+ Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, Quốc hội có quyền yêu cầu
các cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan thực hiện những biện pháp cần thiết
để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật đó, trong đó có hành vi buôn lậu.
- Hội đồng nhân dân: Tại Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng 2015
quy định: “Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri ở địa
phƣơng bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trƣớc nhân dân và
cơ quan nhà nƣớc cấp trên”. Vai trò phòng ngừa THTBL của Hội đồng nhân dân
đƣợc cụ thể hóa ở một số nội dung sau đây:
+ Quyết định những chủ trƣơng, biện pháp kinh tế - xã hội quan trọng để phát
huy tiềm năng, thế mạnh của địa phƣơng, để không ngừng cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân địa phƣơng, qua đó có tác dụng phòng ngừa THTBL.
+ Quyết định các biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung, trong
đó có tội buôn lậu ở địa phƣơng.
+ Kiểm tra, giám sát các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phƣơng để phòng
ngừa tiêu cực và hành vi phạm tội, trong đó có phòng ngừa THTBL.
1.3.2.2. Chủ thể triển khai, áp dụng các quy phạm pháp luật trong phòng
ngừa tình hình tội buôn lậu
Chủ thể triển khai áp dụng các quy phạm pháp luật trong phòng ngừa tình
hình tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng bao gồm Chính phủ, UBND các
cấp, các cơ quan hành chính nhà nƣớc, các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức và
công dân.
- Chính phủ: vai trò phòng ngừa THTBL của Chỉnh phủ thể hiện ở các nội
dung sau:
+ Xây dựng và thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo
dục trong phạm vi quốc gia, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân,
18



19


năng, nhiệm vụ của mình, các chủ thể này tiến hành hoạt động triển khai, thi hành
pháp luật phòng, chống tội phạm, trong đó có phòng ngừa THTBL trong phạm vi
toàn quốc hay trong từng địa phƣơng nhất định.
- Các cơ quan tư pháp thuộc Bộ Tư pháp: Các cơ quan tƣ pháp thuộc Bộ tƣ
pháp thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa THTBL thông qua các hoạt động sau: Đƣa ra
sáng kiến lập pháp, tham gia vào việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật;
thông qua công tác thi hành án thực hiện phòng ngừa THTBL; tuyên truyền, giáo
dục pháp luật cho nhân dân, nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân để họ tự
giác thực hiện đúng pháp luật; tham gia nghiên cứu, bổ sung vào lý luận về phòng
ngừa tình hình tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng; tổ chức phối hợp cùng
các cơ quan bảo vệ pháp luật thực hiện các nhiệm vụ phòng ngừa tội buôn lậu.
- Cơ quan Hải quan:
Điều 12 Luật Hải quan năm 2014 quy định: “Hải quan Việt Nam có nhiệm
vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phƣơng tiện vận tải; phòng, chống buôn
lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về
thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; kiến
nghị chủ trƣơng, biện pháp quản lý nhà nƣớc về hải quan đối với hoạt động xuất
khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu”. Đồng thời Theo Quyết định số 1399/QĐ-BTC ngày
20/6/2016 của Bộ Tài chính quy định: Cục Điều tra chống buôn lậu có vị trí, chức
năng, nhiệm vụ nhƣ sau: “Cục Điều tra chống buôn lậu là đơn vị trực thuộc Tổng
cục Hải quan, có chức năng tham mƣu, giúp Tổng cục trƣởng Tổng cục Hải quan
quản lý, hƣớng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra các đơn vị trong ngành hải quan và trực tiếp
tổ chức thực hiện công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới; phòng, chống ma túy; thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, chống
hàng giả trong lĩnh vực hải quan; thực hiện công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status