Phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI SẢN XUẤT,
BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC GIÀU

PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI SẢN XUẤT,
BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm

Mã số

: 60.38.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh………..…..29
2.2. Thực trạng tổ chức các lực lượng phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán
hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh…………………………………… 35
2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội sản xuất,
buôn bán hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh………………………… 42
2.4. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong công tác phòng ngừa tình hình
tội sản xuất, buôn bán hàng giả của Thành phố Hồ Chí Minh……………………. 53
2.5. Dự báo hoạt động phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh…………………………………………………….. 54
Chương 3: TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI SẢN XUẤT,
BUÔN BÁN HÀNG GIẢ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH……………………………………………………………………………...58
3.1. Tăng cường hoàn thiện cơ sở lý luận, cơ sở chính trị - pháp lý của phòng ngừa
tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh… 58
3.2. Tăng cường tổ chức các lực lượng phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán
hàng giả của Thành phố Hồ Chí Minh……………………………………………..61


3.3. Tăng cường tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội sản xuất,
buôn bán hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ………………………... 63
3.4. Tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho công tác phòng ngừa tình hình tội sản
xuất, buôn bán hàng giả của Thành phố Hồ Chí Minh…………………………… 74
KẾT LUẬN……………………………………………………………………… 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………. 79
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt


VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh số vụ án và số bị can phạm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế với số vụ án và số bị can phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên
phạm vi cả nước (từ năm 2012 đến năm 2016).
Bảng 1.2: So sánh số vụ án và số bị can phạm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh
tế với số vụ án và số bị can phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2012 đến năm 2016).
Bảng 1.3: Tỉ lệ tăng, giảm số vụ án và số bị can phạm tội sản xuất, buôn bán hàng
giả trên cả nước (từ năm 2012 đến năm 2016).
Bảng 2.1: Thống kê trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát kinh tế
Công an Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2012 đến năm 2016).
Bảng 2.2: Thống kê số vụ và số bị can phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả do Cơ
quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, điều tra (từ năm
2012 đến năm 2016).
Bảng 2.3: Thống kê số vụ và số bị can phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả do
VKSND Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết trong giai đoạn điều
tra, truy tố (từ năm 2012 đến năm 2016).
Bảng 2.4: Thống kê trình độ, nghề nghiệp của người phạm tội sản xuất, buôn bán
hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2012 đến năm
2016).
Bảng 2.5: Thống kê địa điểm tập trung hoạt động của tội phạm sản xuất, buôn bán
hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (từ năm 2012 đến năm
2016).
Bảng 2.6: Thống kê về thủ đoạn phạm tội phổ biến của tội phạm sản xuất, buôn bán

bị Minh xét xử về tội sản xuất, buôn bán hàng giả (từ năm 2012 đến
năm 2016).


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thị
trường hàng hóa của nước ta trở nên phong phú, đa dạng nhưng cũng có nhiều đối
tượng lợi dụng sự phát triển của thị trường để sản xuất hàng giả, đưa hàng giả vào
thị trường tiêu thụ nhằm thu lợi bất chính. Tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả
hiện nay đang là một trong những tội phạm kinh tế gây nên những tác hại to lớn về
kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của nước ta. Bởi lẽ, nó không chỉ gây ra thiệt
hại về kinh tế cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng mà còn làm
ảnh hưởng đến uy tín và sự phát triển của các đơn vị sản xuất, kinh doanh chân
chính. Nguy hiểm hơn, tội phạm này còn tác động xấu đến môi trường cạnh tranh,
làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế
quốc dân. Do đó, phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi tệ nạn hàng giả ở Việt Nam
hiện nay trở thành yêu cầu cấp thiết mà thực tiễn đặt ra.
Những năm qua, dưới lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, công tác đấu tranh
phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả đã đạt được những kết quả
quan trọng, góp phần ổn định, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an ninh trật
tự, bảo vệ quyền lợi của người dân. Tuy nhiên, theo đánh giá của Chính phủ tại
Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/6/2015 về việc đẩy mạnh công tác đấu tranh
phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới, thì:
“…công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả chưa tạo được
chuyển biến căn bản; tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên
giới, gian lận thương mại và hàng giả vẫn diễn biến phức tạp, với thủ đoạn tinh vi
và gắn với tệ nạn tham nhũng, làm thất thu ngân sách, thất thoát tài nguyên, tác
động xấu đến môi trường đầu tư, kinh doanh và hội nhập quốc tế”. Do đó, cần phải
có sự đầu tư nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn công tác phòng, chống buôn

về hành động để có thể ngăn chặn và đẩy lùi loại tội phạm nguy hiểm này, trong đó
việc chủ động phòng ngừa có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng để góp phần thực
hiện thắng lợi các nhiệm vụ và giải pháp mà Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày
09/6/2015 của Chính phủ đã đề ra.

2


Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học những vấn đề lý
luận về tội sản xuất, buôn bán hàng giả cũng như thực trạng tình hình tội phạm và
công tác phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả của Tp.HCM để tìm
ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này là một việc làm cần thiết và có ý
nghĩa quan trọng.
Với nhận thức trên, tác giả chọn đề tài: “Phòng ngừa tình hình tội sản xuất,
buôn bán hàng giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” làm Luận văn Thạc sĩ
nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết về nghiên cứu lý luận và thực tiễn trong công tác
phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả của Tp.HCM nói riêng và cả
nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường của nước ta,
đấu tranh phòng, chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả là một vấn đề phức
tạp và luôn mang tính thời sự nên được nhiều nhà nghiên cứu lý luận và nhiều cán
bộ thực tiễn quan tâm nghiên cứu. Điều này được thể hiện qua một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố sau đây:
- GS. TS Nguyễn Xuân Yêm và PGS. TS Nguyễn Hòa Bình (đồng chủ biên 2003), Tội phạm kinh tế thời mở cửa, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Công an
nhân dân, Hà Nội;
- Mai Thị Lan (2008), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo pháp luật hình sự
Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội;
- Vũ Anh Tuấn (2013), Hoạt động của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm
về Trật tư quản lý kinh tế và Chức vụ Công an Thành phố Hồ Chí Minh trong

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác phòng ngừa tình hình tội sản xuất,
buôn bán hàng giả trên địa bàn Tp.HCM trong những năm gần đây; những nguyên
nhân hạn chế, bất cập trong công tác này;
- Dự báo hoạt động phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên
địa bàn Tp.HCM;
- Xây dựng các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn
bán hàng giả ở địa bàn Tp.HCM trong thời gian tới.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa
tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn Tp.HCM.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Dưới góc độ Tội phạm học và dựa trên các quan điểm khoa học về tình hình
tội phạm và phòng ngừa tình hình tội phạm, Luận văn nghiên cứu về thực trạng
phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả trên địa bàn Tp.HCM.
- Các số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập trên địa bàn Tp.HCM
trong thời gian 5 năm (từ 2012 – 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước ta về tội phạm và phòng, chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, kế thừa thông tin, ý tưởng, số liệu: các
công trình khoa học, văn bản pháp lý, bản án, hồ sơ vụ án, báo cáo sơ kết, tổng kết

bán hàng giả.
- Chương 2: Thực trạng phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chương 3: Tăng cường phòng ngừa tình hình tội sản xuất và buôn bán hàng
giả trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH
TỘI SẢN XUẤT, BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1. Khái niệm, các cơ sở và nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội sản
xuất, buôn bán hàng giả
1.1.1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán
hàng giả
1.1.1.1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một bộ phận của công
tác phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung. Vì vậy, để nhận thức đúng khái niệm
phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả, trước tiên cần phải làm rõ
khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm.
Cho đến nay đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về phòng ngừa tội phạm.
Theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu lý luận về Tội phạm học ở Việt Nam
hiện nay thì: “Phòng ngừa tình hình tội phạm được hiểu là việc áp dụng các biện
pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật… do các cơ quan, các tổ chức và công
dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các
nguyên nhân, điều kiện phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm giảm tội phạm
và tiến tới loại trừ hoàn toàn tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [39, tr.
210]. Như vậy, phòng ngừa tình hình tội phạm sẽ bao gồm cả hoạt động phòng và
chống tội phạm. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, phòng ngừa tình hình tội

nghiệp vụ).
Phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội) là hệ thống các biện pháp của Nhà
nước và xã hội nhằm khắc phục nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội sản
xuất, buôn bán hàng giả. Phòng ngừa xã hội huy động sức mạnh của toàn xã hội, sử
dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, giáo dục, văn hóa, tư tưởng, hành chính, pháp
luật… dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Phòng ngừa riêng (phòng ngừa nghiệp vụ) là hoạt động của các cơ quan chức
năng sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ nhằm khắc phục những nguyên
nhân, điều kiện cụ thể dẫn đến phạm tội về sản xuất, buôn bán hàng giả, phát hiện,
ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội này, quản lý, giáo dục các đối tượng phạm tội
tiến bộ hòa nhập với cộng đồng. Chủ thể tham gia phòng ngừa nghiệp vụ gồm các

8


cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Tòa án, VKS và các cơ quan chức năng
khác như Quản lý thị trường, Hải quan… Phòng ngừa nghiệp vụ có vị trí rất quan
trọng, góp phần làm giảm tội phạm sản xuất hàng giả, buôn bán hàng giả.
1.1.1.2. Ý nghĩa phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả
Thực tiễn đã khẳng định, phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả
có nhiều ý nghĩa to lớn, đó là:
- Phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả có ý nghĩa nhân văn
sâu sắc trong việc bảo vệ người tiêu dùng, bảo đảm quyền con người, bảo vệ lợi ích
chính đáng của các nhà sản xuất, kinh doanh chân chính.
- Phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả còn có ý nghĩa chiến
lược vì đã ngăn chặn, làm hạn chế và loại trừ nguyên nhân, điều kiện nảy sinh tội
phạm sản xuất, buôn bán hàng giả, tiến tới loại trừ tình hình tội phạm này ra khỏi
đời sống xã hội. Do đó, sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, thuận lợi cho viêc
đầu tư, từ đó giúp cho nền kinh tế thị trường ở nước ta phát triển bền vững.
- Phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả có ý nghĩa to lớn về

hiện trong điều kiện xã hội nhất định và sẽ mất đi khi các nguyên nhân, điều kiện
làm phát sinh ra nó không còn nữa. Chính vì vậy, phòng ngừa tình hình tội sản xuất,
buôn bán hàng giả là hoạt động hoàn toàn có thể thực hiện được nếu như xác định
đúng nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm.
Trên cơ sở những luận giải khoa học của Tội phạm học về nguyên nhân và
điều kiện của tình hình tội phạm nói chung, kết hợp với việc phân tích, đánh giá
những điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam giúp chúng ta lý giải nguyên nhân và
điều kiện của tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả ở các góc độ khác nhau.
Dưới góc độ tâm lý - xã hội, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội sản xuất,
buôn bán hàng giả được xem là hệ quả của lối sống ích kỷ, vụ lợi cá nhân, tham
vọng làm giàu bằng mọi giá, bất chấp pháp luật. Dưới góc độ kinh tế - xã hội,
nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả được lý giải là
do trong xã hội hiện nay còn tồn tại những mâu thuẫn cần được giải quyết xuất phát
từ vấn đề có khó khăn về kinh tế, xã hội. Dưới góc độ quản lý nhà nước thì nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả là do những
hạn chế, yếu kém của các cơ quan Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước, quản
lý kinh tế, xã hội; trong xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật; trong tổ chức đấu

10


tranh phòng, chống tội phạm… Nhận thức đúng những vấn đề lý luận về nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả là cơ sở khoa học để
xây dựng các biện pháp phòng, chống tình hình tội phạm này trên cả hai lĩnh vực
phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng.
Như vậy, có thể khẳng định, những vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm đã
được thừa nhận trong khoa học Tội phạm học chính là cơ sở lý luận của hoạt động
phòng ngừa tình hình tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả.
1.1.2.2. Cơ sở chính trị - pháp lý của phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn
bán hàng giả

huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, kết hợp chặt chẽ giữa công tác
phòng, chống tội phạm với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Công tác phòng,
chống tội phạm phải được thực hiện trong tiến trình cải cách tư pháp, phải tôn trọng
quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân và phải lấy chủ
động phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ với tích cực tấn công trấn áp tội phạm
[5, tr.1, 2]. Quyết tâm của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung
và phòng, chống tội sản xuất, buôn bán hàng giả nói riêng còn được thể hiện ở định
hướng phát triển kinh tế - xã hội được thống nhất nêu văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI với những nội dung cụ thể như: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng Xây
dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng và tổ chức thực hiện có hiệu quả hệ thống
pháp luật, thể chế và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện ngày càng
tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, bảo vệ và trợ giúp cho các đối tượng dễ bị
tổn thương trong nền kinh tế thị trường. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh
kinh tế; Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật; Tiếp
tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách để vận hành có hiệu quả nền
kinh tế và thực hiện tốt các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc [22, tr.
108, 140, 247]. Những chủ trương, định hướng này là tiền đề chính trị tư tưởng
vững chắc cho tất cả các hoạt động của Nhà nước và xã hội trong công tác phòng,
chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả trong giai đoạn hiện nay.
Hai là, những quy định của Hiến pháp và các văn bản luật:

12


Trong Hiến pháp của nước ta đã xác định phòng ngừa tội phạm là trách nhiệm
của toàn xã hội, việc tổ chức các hoạt động phòng ngừa tội phạm phải trên cơ sở
triệt để tuân thủ các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Tinh thần này được thể
hiện rõ nét qua các quy định cụ thể của Hiến pháp năm 2013, đó là: Nhà nước được
tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp

hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018) thì quy định về tội sản xuất, buôn bán
hàng giả lại tiếp tục được sửa đổi theo hướng nghiêm khắc hơn, cụ thể hơn. Đó là,
Điều 192 BLHS 2015 về tội sản xuất, buôn bán hàng giả đã có quy định nâng mức
hình phạt khởi điểm của khung 1 và khung 2; cụ thể hóa các tình tiết tăng nặng “gây
hậu quả nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng”; các tình tiết
“thu lợi bất chính” và “thu lợi bất chính rất lớn hoặc đặc biệt lớn” và bổ sung thêm
tình tiết tăng nặng định khung là “qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội
địa và ngược lại” ở khoản 2 [49, tr. 97]. Như vậy, có thể thấy, những quy định của
BLHS về Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là một trong những minh chứng rõ ràng
nhất thể hiện quan điểm, chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh
phòng, chống loại tội phạm này. Đây chính là căn cứ pháp lý để phòng ngừa và xử
lý các hành vi phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả.
Bên cạnh đó, các bộ luật thuộc lĩnh vực hình sự như Bộ luật tố tụng hình sự,
Luật về tổ chức điều tra hình sự từ trước đến nay cũng đều có những quy định về
trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, về sự phối hợp giữa các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Tại Điều 26 BLTTHS năm 2003 quy định: Trong phạm vi trách nhiệm của
mình, các cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm; phối
hợp với Cơ quan điều tra, VKS, Toà án trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm. [26, tr.18]. Tại Điều 4 BLHS năm 1999 cũng quy định: các cơ quan, tổ
chức có nhiệm vụ giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao
cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn trọng các quy tắc của
cuộc sống xã hội chủ nghĩa, kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân và điều kiện
gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức mình. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực
tham gia phòng, chống tội phạm [25, tr.49]. Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng
để tổ chức các lực lượng phòng ngừa tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả và huy

14





1.1.2.3. Cơ sở thực tiễn của phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán
hàng giả
Cơ sở thực tiễn của phòng ngừa tình hình tội sản xuất, buôn bán hàng giả được
xuất phát từ chính thực tiễn tình hình tội phạm này. Thực tiễn tình hình tội sản xuất,
buôn bán hàng giả được đánh giá trên cơ sở những số liệu thống kê tội phạm. Bởi
vì, thông qua số liệu thống kê tội phạm, chúng ta có thể nắm được thông tin chính
xác, khoa học về tình trạng phạm tội, diễn biến, cơ cấu và tính chất của tình hình tội
phạm trong một khoảng thời gian nhất định, trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Vì
vậy, chúng tôi đã nghiên cứu, khảo sát các số liệu thống kê của VKSND tối cao.
Theo đó: Từ năm 2012 đến 2016, số vụ án và bị can phạm tội sản xuất, buôn bán
hàng giả trên cả nước là: 1.075 vụ/1.465 bị can (chiếm tỉ lệ 17% số vụ và 14,4% số
bị can trong tổng số tội phạm về kinh tế). Cụ thể: Năm 2012 có 110 vụ/163 bị can;
năm 2013 có 198 vụ/275 bị can; năm 2014 có 228 vụ/298 bị can; năm 2015 có 263
vụ/360 bị can; năm 2016 có 276 vụ/369 bị can [Xem Bảng 1.1 – Phần phụ lục].
Riêng Tp. HCM, trong 5 năm (từ 2012 – 2016) đã khởi tố, điều tra 108 vụ/134
bị can. Trong đó, năm 2012 là 20 vụ/26 bị can; năm 2013 là 25 vụ/28 bị can; năm
2014 là 20 vụ/25 bị can; năm 2015 là 24 vụ/ 26 bị can và năm 2016 là 19 vụ/29 bị
can (chiếm tỉ lệ trung bình là 12,99% số vụ và 13,44% số bị can trong tổng số vụ và
bị can phạm tội kinh tế) [Xem Bảng 1.2 – Phần phụ lục].
Qua số liệu thống kê trên cho thấy, số vụ và số đối tượng phạm tội sản xuất,
buôn bán hàng giả bị phát hiện và xử lý chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ so với tổng số vụ và số
đối tượng phạm tội về kinh tế nói chung. Nhưng trong thực tế thì số vụ vi phạm do
sản xuất, buôn bán hàng giả bị các cơ quan chức năng phát hiện đã lớn hơn rất
nhiều. Chẳng hạn như, theo báo cáo của lực lượng Cảnh sát kinh tế, từ năm 2010
đến 2015, cả nước đã phát hiện, xử lý 4.183 vụ với 4.690 đối tượng sản xuất và
buôn bán hàng giả. Hoặc theo báo cáo của Cục quản lý thị trường năm 2016, chỉ
tính riêng ở Tp. HCM đã phát hiện 757 vụ sản xuất, buôn bán hàng giả [10, tr. 3].
Những con số này đã phần nào nói lên mức độ “ẩn” đáng kể của tình hình tội sản

phần, cấu kiện của các sản phẩm thật làm thay đổi chất lượng sản phẩm; Hoặc dùng
nhãn hàng hóa thật, có giá trị cao dán lên sản phẩm giả, sản phẩm có giá trị thấp;
Hoặc nhập linh kiện, bán thành phẩm sau đó chế tác, gia công, gắn bao bì, nhãn mác

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status