VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI CAO PHƯƠNG
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH
CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI CAO PHƯƠNG
PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH
CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 60.38.01.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. PHẠM VĂN TỈNH
HÀ NỘI, 2017
công vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2012 – 2016
2.3. Thực trạng đấu tranh chống tội chống người thi hành công vụ
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2012 – 2016
Chương 3. TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI
CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH ĐỒNG NAI
3.1. Dự báo tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
3.2. Tăng cường nhận thức về mục đích, ý nghĩa, các nguyên tắc,
nội dung trong phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành
công vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới
3.3. Hoàn thiện các giải pháp phòng ngừa tình hình tội chống
người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay
3.4. Hoàn thiện tổ chức phòng ngừa tình hình tội chống người thi
hành công vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
7
7
14
19
20
27
27
35
52
: Cơ quan điều tra
CSND
: Cảnh sát nhân dân
HKTT
: Hộ khẩu thường trú
TAND
: Tòa án nhân dân
TTATXH : Trật tự an toàn xã hội
TTXH
: Trật tự xã hội
THTP
: Tình hình tội phạm
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
được những thắng lợi to lớn về mọi mặt, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học
công nghệ, nâng cao địa vị và uy tín đất nước trên trường quốc tế.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cùng với xu thế phát
triển chung của đất nước, Đồng Nai đang ngày càng phát triển về mọi mặt của
đời sống xã hội, đời sống nhân dân trong toàn tỉnh ngày càng được cải thiện
và nâng cao. Bên cạnh những mặt tốt đẹp đạt được, Đồng Nai cũng đang nảy
sinh, tồn tại nhiều vấn đề phức tạp về ANTT, TTATXH. Tình hình phạm
pháp hình sự có chiều hướng gia tăng đang là vấn đề nhức nhối trên địa bàn
tỉnh, trong đó nổi cộm lên là tội phạm chống người thi hành công vụ - loại tội
phạm thể hiện sự coi thường kỷ cương, phép nước. Tình hình tội phạm chống
người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong thời gian qua do
nhiều nguyên nhân, điều kiện khác nhau gây ra. Những nguyên nhân và điều
kiện đó đang tồn tại cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai
tiềm tàng những nguy cơ phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác đe dọa
và gây thiệt hại cho đời sống xã hội.
Trong những năm qua các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Đồng Nai
đã và đang thực hiện nhiều biện pháp phòng ngừa tình hình tội phạm nói
chung và tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng. Bước đầu những
biện pháp phòng ngừa ấy đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên hiệu
quả đạt được vẫn chưa cao, vẫn còn những hạn chế. Bằng chứng là tình hình
tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến phức tạp,
nhiều vụ việc gây ra những hậu quả nghiêm trọng, làm mất lòng tin của nhân
dân vào chính quyền địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình
1
ANTT, TTATXH trên địa bàn. Tình hình đó đặt ra yêu cầu bức thiết là phải
nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân, điều kiện tình hình tội phạm chống người
công vụ của lực lượng CSĐTTP về TTXH Công an tỉnh Đồng Nai” - Luận
văn thạc sĩ luật học, Đại học CSND, TP Hồ Chí Minh, của tác giả Nguyễn
Chánh năm 2011.
“Tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng, chống” - Luận văn thạc sĩ
luật học, Học viện khoa học xã hội, của tác giả Hà Văn Đoàn năm 2011.
“Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm chống người thi
hành công vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân công an tỉnh Tây Ninh” - Luận
văn thạc sĩ luật học, Đại học CSND, của tác giả Đinh Xuân Thuần năm 2012.
“Tội chống người thi hành công vụ theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” - Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa
học xã hội, của tác giả Nguyễn Ngọc Hoài năm 2012.
“Tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh:
Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” - Luận văn thạc sĩ luật học,
Học viện khoa học xã hội, của tác giả Trương Công Thành năm 2012.
“Nguyên nhân và điều kiện của tội chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai” - Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội,
của tác giả Nguyễn Bích Thủy năm 2015.
Đánh giá chung:
Có thể thấy, thời gian qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu có liên
quan đến tội phạm nói chung và tội chống người thi hành công vụ nói riêng.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên hoặc chỉ mới nghiên cứu phòng
ngừa tình hình tội chống người thi hành công vụ nói chung hay nghiên cứu
tình hình tội chống người thi hành công vụ ở một số địa phương nào đó. Cũng
có đề tài có nghiên cứu đến phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành
công vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai nhưng lại tiếp cận theo hướng truyền
3
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về tình hình tội chống
người thi hành công vụ trong Tội phạm học.
Phạm vi không gian: phạm vi nghiên cứu được giới hạn trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai.
Về thời gian: phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong thời gian từ năm
2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Phương pháp luận của Luận văn là phép duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh và các quan điểm đường lối chính sách của Đảng về công tác phòng
ngừa tội phạm nói chung và tội chống người thi hành công vụ nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương
pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, so sánh, trích dẫn tài liệu; phương pháp
tổng kết thực tiễn; phương pháp thống kê; phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ
án cụ thể; điều tra xã hội học; phương pháp trao đổi với các chuyên gia, cán
bộ thực tế về vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Về lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện lí luận phòng ngừa THTP nói
chung, cũng như phòng ngừa tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ
qua đó làm giàu thêm tri thức của Tội phạm học về phòng ngừa tội phạm.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể là một trong
những nguồn tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính sách phòng ngừa
tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong
thời gian tới.
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu,
giảng dạy về hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tình
ninh, trật tự xã hội.
Nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền
tảng và điểm xuất phát để tiếp tục nghiên cứu những nội dung khác trong lý
luận tội phạm học. Cho nên, phòng ngừa tội phạm vừa là bộ phận cấu thành
quan trọng của tội phạm học, vừa là mục tiêu, chức năng cơ bản của tội phạm
học. Hơn nữa, suy cho cùng thì mục đích của ngành khoa học về tội phạm học
chính là để phòng ngừa tội phạm, để tội phạm không xảy ra, không gây ra các
hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Theo GS.TS Đào Trí Úc “...Tội phạm học có mục đích đưa ra những
kiến nghị về các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống
tội phạm...”. Do đó, mục đích cuối cùng và quan trọng nhất của ngành khoa
học này là tìm ra được những biện pháp tác động vào quy luật phát sinh, tồn
tại và phát triển của tội phạm, đồng thời khắc phục được nguyên nhân và điều
kiện phạm tội. Tư tưởng về phòng ngừa tội phạm và sự cần thiết của phòng
ngừa tội phạm đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử loài người để bảo vệ, duy trì
trật tự và công bằng xã hội, góp phần bảo vệ các lợi ích chung của cộng đồng,
7
của xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp tục kế
thừa và phát triển những tư tưởng văn minh và tiến bộ này. Chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tội phạm phát sinh và tồn tại là
do những nguyên nhân và điều kiện khác nhau, song “với bản chất tốt đẹp
của mình, Nhà nước xã hội chủ nghĩa hoàn toàn có khả năng tiến hành cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm có kết quả. Trong Nhà nước xã hội chủ
nghĩa, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm phải được coi là một bộ phận
của cuộc đấu tranh giai cấp và trong cuộc đấu tranh đó, phải đặc biệt quan
tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm...”[26, tr. 9].Còn ở nước ta, từ ngay
sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã rất quan tâm đến công tác phòng ngừa tội phạm. Cụ thể, riêng trong
ngừa. Do đó, nếu thực hiện tốt nhiệm vụ này mới có thể từng bước ngăn chặn
tội phạm và tình hình tội phạm trong xã hội, không cho tội phạm phát triển,
qua đó từng bước đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội.
Hiện nay, nghiên cứu trong khoa học về tội phạm còn nhiều quan điểm khác
nhau về khái niệm này, trong đó khoa học và sách báo pháp lý một số nước
đều thống nhất cho rằng: “phòng ngừa tội phạm là không để cho tội phạm xảy
ra, thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm...” hay “không để cho
tội phạm gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, thủ tiêu nguyên nhân và kiểm
soát được tội phạm, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội
phạm và vi phạm pháp luật, cũng như có các biện pháp cải tạo, giáo dục
người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội và cho
cộng đồng...”.
Tuy nhiên, trong thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng chống tội
phạm, phòng ngừa tội phạm lại được hiểu một cách trực tiếp và đơn giản
chính là hoạt động chủ yếu của các cơ quan chuyên môn, chuyên trách trong
công tác bảo vệ pháp luật và phòng chống tội phạm, mà cụ thể là: Công an,
Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra, cơ quan Thi hành án hình sự và một số cơ
9
quan Nhà nước khác (Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển...)
nhằm ba mục đích sau:
Một là, loại trừ và thủ tiêu các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, xóa
bỏ các tác nhân là điều kiện tạo thuận lợi việc phát sinh ra tội phạm.
Hai là, nghiên cứu môi trường sống (gia đình - nhà trường - xã hội) xung
quanh các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và người phạm tội, qua đó hạn
chế, ngăn ngừa những hiện tượng có ảnh hưởng bất lợi và không đúng đến việc
hình thành các phẩm chất cá nhân tiêu cực chống đối xã hội của bản thân người
phạm tội.
đẩy lùi và tiến tới loại bỏ tội chống người thi hành công vụ ra khỏi đời sống
xã hội”.
1.1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu phòng ngừa tình hình tội chống
người thi hành công vụ
- Ý nghĩa lý luận của phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành
công vụ: Phòng ngừa tình hình tội phạm với tư cách là một khoa học pháp lý
hình sự độc lập trong quá trình lịch sử đấu tranh với tình hình tội phạm của xã
hội loài người, vừa là mục đích của khoa học này, cái chỉ có thể đạt được trên
cơ sở đã hiểu rõ khách thể nghiên cứu của nó là tình hình tội phạm, cũng như
đã xác định được quy luật vận động của khách thể đó. Quy luật này chính là
đối tượng nghiên cứu của tội phạm học và nó được xác định thông qua việc
nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trên cơ sở của cơ
chế hành vi phạm tội. Từ đó cho thấy nghiên cứu về phòng ngừa tình hình tội
chống người thi hành công vụ trên cơ sở nguyên nhân và điều kiện thực tế của
tình hình tội chống người thi hành công vụ. Điều đó có nghĩa rằng tình hình
tội chống người thi hành công vụ là hiện tượng tiêu cực tồn tại khách quan và
chủ quan gây ra. Vì thế, để phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành
công vụ có hiệu quả phải khống chế được các yếu tố tiêu cực và tội phạm này
11
và khắc phục cả những yếu tố xuất phát từ phía nạn nhân của tội phạm để từ
đó từng bước đẩy lùi tội phạm này khỏi đời sống xã hội. Đó chính là cái nghĩa
lý luận, giải thích tại sao, phòng ngừa tội phạm hay tình hình tội phạm có ý
nghĩa vô cùng quan trọng.
- Ý nghĩa thực tiễn của phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành
công vụ: Tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ xuất phát từ những
nguyên nhân và điều kiện rất đa dạng, phong phú. Tiến hành nghiên cứu nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ có ý
tranh phòng, chống tội phạm tạo ra sự hưởng ứng của xã hội, của cộng đồng
đối với những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật hoặc lệch chuẩn.
Thực hiện tốt phòng ngừa tình hình tội phạm chống người thi hành
công vụ thông qua việc thực hiện các chương trình quốc gia phòng chống tội
phạm; tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước;
tham gia phòng ngừa tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội, vận động gia đình,
bạn bè, con cháu cùng thực hiện… góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp
luật, tích cực tác động đến các đối tượng thành viên trong gia đình, lôi cuốn
mọi người tham gia phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành công vụ
và các tội phạm khác.
Phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành công vụ mang đậm ý
nghĩa chính trị xã hội, làm tốt công tác phòng ngừa giúp giữ vững an ninh
quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tài sản của xã hội, công dân, tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của mọi người dân. Ngoài ra, còn góp
phần cung cấp những thông tin hữu ích không chỉ dành riêng cho ngành Luật
hình sự hay ngành Tội phạm học mà còn cung cấp thông tin cho các ngành khoa
học pháp lý khác sử dụng làm tài liệu để tiếp tục đi sâu nghiên cứu, xem xét đối
tượng nghiên cứu của mình, đồng thời là cơ sở áp dụng các phương pháp, biện
pháp trong thực tế phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm chống người
thi hành công vụ nói riêng.
13
Tóm lại, để tìm ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm chống người thi
hành công vụ nói chung và tội phạm chống người thi hành công vụ trên một
địa bàn nhất định thì phải tìm ra được nguyên nhân và điều kiện của tội phạm
này. Nếu như không nêu được hoặc nêu không đúng, không chính xác nguyên
nhân và điều kiện của tội phạm chống người thi hành công vụ thì mọi định
hướng, giải pháp cho cuộc đấu tranh với loại tội phạm này sẽ không chính
mục đích:
Thứ nhất là nhằm xây dựng và thực hiện cơ chế phát huy sức mạnh
tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, đẩy mạnh phong trào cách mạng của
toàn dân, nâng cao trách nhiệm vai trò chủ động của các ngành, đoàn thể, tổ
chức xã hội và các tầng lớp nhân dân tham gia phòng ngừa, phát hiện đấu
tranh ngăn chặn các loại tội phạm, tệ nạn xã hội.
Thứ hai là thông qua thực hiện công tác phòng ngừa tội phạm chống
người thi hành công vụ thì phát huy chức năng của các cơ quan Nhà nước, các
đơn vị sự nghiệp, các đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã
hội xây dựng chương trình hành động, gắn việc thực hiện các kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội với phòng ngừa tội phạm nói chung bảo vệ trật tự an
toàn xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát hiện, điều tra và xử
lý nghiêm đối với các loại tội phạm nói chung và tội phạm chống người thi
hành công vụ nói riêng. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân và các cơ
quan bảo vệ pháp luật thật sự trong sạch, vững mạnh để thực hiện tốt vai trò
nòng cốt, xung kích trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chống người thi
hành công vụ.
Thứ ba là không ngừng xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp
luật và tổ chức tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, phục vụ kịp
thời, có hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa tình hình tội phạm
chống người thi hành công vụ.
15
Thứ tư là tiếp tục phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, xây
dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
chống người thi hành công vụ.
1.2.2. Các nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội chống người thi
hành công vụ
động phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và việc áp dụng các biện pháp
phòng ngừa tội phạm chống người thi hành công vụ phải có cơ sở pháp luật,
phải phù hợp với các quy định của pháp luật, đồng thời trong quá trình tiến
hành các hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm các chủ thể tuân thủ
nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật.
Tội phạm chống người thi hành công vụ là loại tội phạm xâm phạm trật
tự quản lý hành chính Nhà nước mà hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm
chống người thi hành công vụ ở mức độ này hoặc mức độ khác đều mang tính
quyền lực nhà nước. Hoạt động này nhằm thực hiện nhiệm vụ chung mà xã
hội và Nhà nước đặt ra vì lợi ích chung của xã hội, của cả cộng đồng. Vì vậy,
không có bất cứ lý do nào mà việc tổ chức và hoạt động phòng ngừa tội phạm
nói chung và phòng ngừa tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ
nói riêng có thể thoát ly khỏi các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Ngược
lại, chỉ có thực hiện đúng các quy định của pháp luật, phòng ngừa tình hình
chống người thi hành công vụ thì quyền lực nhà nước mới được thực thi, mới
đảm bảo mục đích của nó là phục vụ lợi ích của toàn xã hội, của Nhà nước và
công dân góp phần xây dựng cuộc sống của nhân dân ngày càng tốt đẹp hơn.
1.2.2.3. Nguyên tắc dân chủ trong phòng ngừa tình hình tội chống
người thi hành công vụ
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nội dung Nhà nước xã hội chủ nghĩa
thể hiện ở việc lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân lao động, các cơ quan
nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần và
toàn xã hội tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung.
17
Nguyên tắc đó đòi hỏi phải phát huy tinh thần chủ động, tính tích cực, sáng
tạo của mọi chủ thể tham gia vào hoạt động phòng ngừa tình hình tội phạm.
Do đó, trong phòng ngừa tình hình tội phạm chống người thi hành công
đồng bộ, có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung thì mới đạt hiệu quả cao.
1.3. Nội dung phòng ngừa tình hình tội chống người thi hành công vụ
Khi nghiên cứu về tội phạm học trên thế giới và cả ở Việt Nam cho đến
nay, trong nhiều tài liệu cho thấy, phòng ngừa tội phạm được phân loại theo
một số hệ thống khác nhau, như: Chung - Riêng; Cơ bản - Phái sinh; Ngăn
chặn - Loại trừ hay Ngăn chặn - Đẩy lùi. Như vậy, sự phân loại là có sự thống
nhất và biện chứng, tức là phân đôi cái thống nhất để nhận thức và thực hiện.
Ở đây, trong Luận văn này, tư tưởng đó được áp dụng và kế thừa quan điểm
của Nhà nước ta được thể hiện tại Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12.05.2009,
tức là lấy mục đích để phân loại nội dung của phòng ngừa tình hình tội phạm.
Phòng ngừa tội phạm có hai bộ phận: một bộ phận gồm các biện pháp
tác động vào nhân, được gọi là những biện pháp loại trừ (đẩy lùi) tội phạm;
một bộ phận khác gồm các biện pháp gồm các biện pháp tác động vào quả,
tức là phản ứng trực diện với hiện trạng của tình hình tội phạm, được gọi là
những biện pháp ngăn chặn tội phạm.
Thực tế của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ ở nước ta
xác nhận hai bộ phận của lý luận phòng ngừa tình hình tội phạm chống người
thi hành công vụ là ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm [23, tr. 119].
Ngăn chặn tội phạm chống người thi hành công vụ là đề cập đến những
biện pháp được áp dụng đối với những con người cụ thể đang rơi vào hoàn
cảnh, tình huống đặc biệt cần phải được giúp đỡ, trợ giúp từ bên ngoài, từ
phía xã hội, nếu không những người đó dễ dàng phạm tội. Ngăn chặn tội
phạm nói chung và tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng có ba
mức độ: ngăn chặn không cho tội phạm xảy ra, ngăn chặn không cho tội phạm
được thực hiện đến cùng và ngăn chặn không cho tái phạm [27, tr. 121].
19