Quản lý nhà nước về du lịch từ thực tiễn tỉnh ninh bình - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THỊ HÒA

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TỪ
THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Mã số : 8380102

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG MINH ĐỨC

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
ghi trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHẠM THỊ HÒA


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1

cho đến năm 2016 đạt 382,6 nghìn tỷ đồng.
Tỉnh Ninh Bình là tỉnh có rất nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng và hấp dẫn,
với nhiều tài nguyên vật thể, phi vật thể thuộc các thể loại chính như: Tự nhiên,
văn hóa/lịch sử...Các địa điểm nổi tiếng có thể được kể đến như Tam Cốc - Bích
Động, rừng quốc gia Cúc Phương, quần thể Tràng An, khu bảo tồn thiên nhiên
đất ngập nước Vân Long... Đặc biệt, quần thể danh lam thắng cảnh Tràng An
hiện là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới do UNESCO công nhận. Tỉnh còn
có nhiều điểm tham quan văn hóa, đem đến những trải nghiệm về văn hóa và
lịch sử cho du khách như Cố đô Hoa Lư, Nhà thờ đá Phát Diệm, chùa Bái Đính,
phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn... Đây chính là những điều kiện rất tốt cho
việc hình thành và phát triển những khu du lịch trọng điểm, có sức hấp dẫn và
thu hút đối với nhiều du khách trong và ngoài nước.
Với thế mạnh đó trong những năm qua, Ninh Bình đã tập trung vào phát
triển du lịch đồng bộ trên cả ba nội dung: Xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển chất
lượng cũng như sản phẩm du lịch và xây dựng hệ thống đội ngũ nhân viên ngành
du lịch chuyên nghiệp hơn.
Tuy nhiên, dù được thiên nhiên ưu đãi, đồng thời có tiềm năng lớn để trở
thành một vùng hấp dẫn, là nguồn thu đóng góp vào ngân sách địa phương
1


nhưng thực tế, kết quả của hoạt động du lịch đạt được chưa tương xứng, hiện
nay vẫn còn đứng ở vị trí khá khiêm tốn so với các tỉnh ở miền Bắc nói riêng và
du lịch cả nước nói chung. Nguyên nhân dễ thấy đó chính là chất lượng dịch vụ
chưa cao, số lượng khách lưu trú đặc biệt là khách quốc tế còn ít, doanh số kinh
doanh du lịch còn khiêm tốn... Thêm vào đó, tỉnh còn có quá ít các khu nghỉ
dưỡng, khách sạn, khu vui chơi giải trí cao cấp đạt chuẩn quốc tế. Về quản lý
nhà nước, các ban ngành còn đang lúng túng, thực hiện kém hiểu quả, thiếu sáng
tạo, thiếu dứt khoát ở tất cả các khâu, đặc biệt là công tác truyền thông, quảng bá
du lịch, quản lý các cơ sở, quản lý chất lượng, uy tín còn chưa cao...

một tỉnh được nhắc đến trong công trình nghiên cứu này, và quản lý nhà nước
tỉnh Ninh Bình cũng cần kết hợp với những tỉnh lân cận để có những bước phát
triển một cách thống nhất, bền vững.
- Trịnh Đăng Thanh (2004) “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt
động du lịch ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh. Công trình này nêu lên cơ sở lý luận của sự cần thiết
phải quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch và thực trạng
quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam trong thời
gian tới và các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản lý đó. Tuy nhiên, tác giả
chưa nghiên cứu toàn diện vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch nói
chung và ở từng địa phương nói riêng. Ninh Bình là một tỉnh của Việt Nam. Do
đó, để đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường quản lý nhà nước
về du lịch của tỉnh Ninh Bình nói riêng cũng cần phải căn cứ vào thực trạng và
giáp pháp chung ở Việt Nam nói chung, phải đi từ cái chung đến cái riêng.
- Trần Xuân Ảnh (2007) “Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị
trường du lịch”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 132. Cũng như tên đề tài, tác giả
bài viết này đi sâu vào nghiên cứu và đề ra những giải pháp tăng cường quản lý
nhà nước về thị trường du lịch. Những giải pháp mà tác giả đưa ra là những
tham khảo quý báu để đưa ra những giải pháp cho quản lý nhà nước về du lịch ở
tỉnh Ninh Bình.

3


- Đỗ Thị Nhài (2008), “Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh
nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội” - Luận văn Thạc sỹ Du lịch học Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã hệ thống
hóa một số cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch và doanh
nghiệp du lịch; nghiên cứu tập trung thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp kinh doanh du lịch ở Hà Nội hiện nay dưới các góc độ: tổ chức

nghiên cứu về tình hình phát triển của ngành du lịch không chỉ ở phạm vi quốc
gia mà cả trên phạm vi thế giới. Tác giả nhấn mạnh ngành du lịch là ngành kinh
tế đi tắt và đón đầu để đuổi kịp trình độ các nước trong khu vực, rút ngắn khoảng
cách và chống tụt hậu nhanh nhất. Đồng thời, tác giả đưa ra những giải pháp cần
thiết để Việt Nam – khi đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO – phát triển
nhanh và bền vững trong điều kiện phải thực hiện tốt các cam kết với WTO. Có
thể thấy rằng, hội nhập phát triển là quá trình tất yếu của sự phát triển. Do đó,
quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Ninh Bình cũng cần phải phát triển sao cho
đảm bảo thực hiện tốt các cam kết quốc tế.
- TS. Đỗ Thanh Hoa (2005) “Nghiên cứu đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt
động tuyên truyền, quảng bá du lịch Việt Nam tại một số thị trường du lịch quốc
tế trọng điểm”, Đề tài cấp nhà nước, Viện nghiên cứu phát triển du lịch. Công
trình này tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và lộ trình thực hiện đẩy
mạnh hoạt động tuyên truyền quảng bá du lịch Việt Nam đến 2010 tại một số thị
trường du lịch quốc tế trọng điểm nhằm thu hút nhiều thị phần khách du lịch từ
các thị trường này.
- Ths. Lê Văn Minh (2006), “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát
triển khu du lịch”, Đề tài cấp bộ, Viện nghiên cứu phát triển du lịch. Tác giả đã
xây dựng và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm khuyến khích và thu hút đầu tư
ban đầu để phát triển các khu du lịch (không đi sâu nghiên cứu các giai đoạn
kinh doanh sau đầu tư), khai thác sử dụng có hiệu quả và bảo tồn các nguồn tài
nguyên ở các khu du lịch, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, tăng thời
gian lưu trú của khách và khắc phục tính mùa vụ trong hoạt động du lịch.
Đối với tỉnh Ninh Bình nói riêng, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu
về quản lý nhà nước về du lịch ở những khía cạnh khác nhau, cụ thể:

5


- Tạ Minh Phương (2006) “Phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Phân tích về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Ninh
Bình, đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du
lịch trên địa bàn tỉnh nhằm khắc phục những tồn tại, phát huy những hạn chế,
thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng nhu cầu
của thời kì đổi mới hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn xác định có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
- Phân tích thực trạng phát triển hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình từ năm
2013 đến nay
- Phân tích quan điểm và đề xuất những giải pháp đổi mới và hoàn thiện
quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình, nhằm khai thác có
hiệu quả lợi thế, tiềm năng ngành du lịch của tỉnh đến năm 2030.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước về hoạt động du
lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Tỉnh Ninh Bình, đồng thời khái quát một số điểm tổng
quát về quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cả nước.
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch từ thực
tiễn tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển

7


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH
1. 1. Khái quát chung về quản lý nhà nước về du lịch
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại du lịch
1.1.1.1. Khái niệm du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở
mọi quốc gia. Tuy nhiên, do bối cảnh về không gian, thời gian khác nhau hoặc
dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người, mỗi thời đại, mỗi tổ chức lại
có một các hiểu khác nhau về du lịch. Theo nghĩa chung nhất, “Du lịch” được
hiểu là việc đi lại của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của
mình trong khoảng thời gian nhất định đến một nơi nào đó để nghỉ ngơi, giải trí
hay chữa bệnh [12, tr17].
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là đi một vòng.
Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ La Tinh thành Turnur và sau đó thành Tour
trong tiếng Pháp với nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Theo Robert
Langquar (1980), từ Tourism (Du lịch) lần đầu tiên được sử dụng trong tiếng
Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa, nhiều nước đã sử dụng trực tiếp
mà không dịch nghĩa. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch là một từ gốc Hán Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm [29, tr 17].
Ngày nay, khi du lịch phát triển mạnh, trở thành lĩnh vực không thể thiếu
trong đời sống con người (từ giữa thế kỉ XX đến nay), người ta đưa ra những
khái niệm cụ thể hơn về du lịch. Có quan niệm cho rằng: Du lịch là một hoạt
động của dân cư trong thời gian dỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm
thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển
thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm
theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa [29, tr15].
Định nghĩa du lịch còn được hiểu như sau:
9


10


giải quyết những công việc của cơ quan và nghiên cứu thị trường nhưng không
vì mục đích định cư hoặc tìm kiếm việc làm nơi đến thăm.
1.1.1.2. Đặc điểm của du lịch
Xuất phát từ những khái niệm về du lịch, có thể rút ra một số đặc điểm chủ
yếu của du lịch như sau:
Một là, du lịch là hoạt động mang tính chất một ngành kinh tế dịch vụ.
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, khoa học - kỹ
thuật, xã hội...du lịch dần trở thành một ngành kinh tế độc lập, cung cấp các dịch
vụ tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng... Tỉ trọng du lịch trong thu nhập quốc dân
của các nước trên thế giới đều tăng lên. Sở dĩ nói đây là một ngành dịch vụ, bởi
lẽ du lịch là hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn
tại dưới hình thái vật thể và cũng không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu
nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con
người. Các hoạt động dịch vụ du lịch bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình
độ cao, chuyên nghiệp, chi phối lớn đến quá trình phát triển kinh tế nói chung.
Hai là, du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh
thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch.
Dịch vụ du lịch khác với ngành dịch vụ khác ở chỗ: dịch vụ du lịch nhằm
thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của du khách trong thời gian lưu trú
bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, tham quan, đi lại,
thông tin về văn hóa, lịch sử, tập quán, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác chứ
không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi người dân. Thực tế trên toàn thế giới cho
thấy, ở nhiều quốc gia, khi thu nhập của người dân càng tăng lên, đủ nhu cầu ăn
mặc thì du lịch trở thành không thể thiếu, bởi vì nó vừa thỏa mãn nhu cầu tình
cảm và lý trí, vừa là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao
động của con người.
Ba là, thời gian và không gian xảy ra việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du

đến khách du lịch.
1.1.1.3. Các loại hình du lịch cơ bản
Hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng, căn cứ vào mỗi tiêu chí
12


khác nhau có các cách phân loại loại hình du lịch khác nhau. Mỗi loại hình du
lịch đều có những tác động nhất định lên môi trường. Tùy theo các tiêu chí mà
du lịch được phân thành nhiều loại hình khác nhau [26, tr11]:
Du lịch Quốc tế: Là sự di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác, du
khách phải ra khỏi vùng lãnh thổ biên giới và tiêu bằng ngoại tệ nơi họ đến du
lịch.
Du lịch nội địa: Là sự di chuyển từ nơi này sang nơi khác trong cùng
một phạm vi lãnh thổ của một quốc gia.
Du lịch văn hóa: là du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tò mò, nâng cao hiểu
biết của du khách về những khu di tích lịch sử, những công trình kiến trúc, chế
độ xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán của nơi đến du lịch.
Du lịch lễ hội, tôn giáo: Lễ hội là một nét truyền thống văn hóa, tâm linh
không thể thiếu được trong đời sống của con người, nó chứa đựng những giá trị
tinh thần, văn hóa, phong tục, tập quán đặc trưng, riêng biệt, đồng thời đem lại
cho du khách sự bình yên, sự khám phá, sự hòa quyện vào văn hóa với người
dân địa phương, quên đi những khó khăn, vất vả trong cuộc sống.
Du lịch tham quan, sinh thái: là loại hình du lịch giúp du khách mở
mang sự hiểu biết hữu hạn của con người về thế giới vật thể bên ngoài. Đối
tượng tham quan là các khu di tích lịch sử, tài nguyên du lịch tự nhiên, hoặc các
công trình kiến trúc cổ...
Du lịch nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh: là loại hình du lịch mà ngoài thời
gian tham quan, du khách còn được thư giãn, nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe,
do đó, loại hình du lịch này thường gắn liền với việc vui chơi giải trí, thư giãn
cùng các khu vui chơi, chương trình giải trí, spa, mát xa... ra đời.

1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch
Quản lý là tiến trình, hoạt động hoặc giám sát việc thực thi nhiệm vụ để
đảm bảo rằng các hoạt động trong tổ chức - đặc biệt là nhiệm vụ tạo ra và duy trì
các điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu thông qua việc kết hợp những nỗ lực của
các nhóm khác nhau trong tổ chức, cũng là một nhóm người trong tổ chức liên
quan đến việc quản lý tổ chức đó.
Quản lý nhà nước có thể được hiểu theo hai bình diện:
14


Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ
thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ
chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư
pháp [12, tr 27].
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành của các cơ quan
hành chính nhà nước, đó là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành
chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật
nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước [12, tr 27].
Trong luận văn, khái niệm quản lý nhà nước theo cả hai nghĩa rộng và hẹp
đều được khai thác tùy theo từng vấn đề, phạm vi, góc độ tiếp cận khác nhau để
xem xét và giải quyết vấn đề.
Xuất phát từ những trình bày trên về du lịch và quản lý nhà nước, có thể
định nghĩa: Quản lý nhà nước về du lịch là quá trình tác động của Nhà nước
đến du lịch qua các công cụ quản lý nhằm đảm bảo cho lĩnh vực này phát triển
phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã hội, phát triển đúng định hướng của
Nhà nước, tạo nên sự công bằng trong hoạt động du lịch để du lịch thực sự là
một ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực
kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Các cơ quan nhà nước, đặc biệt chủ yếu là các cơ quan nhà nước chuyên
ngành thực hiện sự quản lý đối với hoạt động du lịch. Cơ quan nhà nước chuyên

một thời điểm như về tình hình kinh tế, an ninh, dịch bệnh...của từng quốc gia,
từng khu vực. Tùy vào nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, tham quan của tổ chức, cá
nhân mà nội dung quản lý phải điều chỉnh sao cho phù hợp.
Về phương pháp quản lý: Nhà nước phải đồng thời ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật để đảm bảo hành vi xử sự cần thiết của đối tượng quản lý
nhằm duy trì theo đúng chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định; tại địa
điểm du lịch, Nhà nước phải làm công tác tuyên truyền, vận động cư dân địa
phương và du khách thực hiện những nội dung nhất định nhằm bảo vệ môi
trường, khôi phục lại các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương…Nhà
nước chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để bắt buộc thực hiện, nếu không

16


thực hiện thì sẽ tiến hành xử lý bằng nhiều hình thức, trong đó có cả biện pháp
cưỡng chế.
Về mức độ xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, mức độ này
trong lĩnh vực du lịch tương đối nhiều hơn so với các lĩnh vực khác. Một số
doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao quyền quản lý đối với
một số hoạt động nghỉ dưỡng như khai thác tài nguyên du lịch, quản lý các khu,
địa điểm vui chơi - giải trí, nghỉ dưỡng… Vì thế, việc quản lý nhà nước đối với
hoạt động du lịch được xã hội hóa một cách tối đa nhằm mang lại hiệu quả cao
nhất trong công tác quản lý các hoạt động du lịch.
1.1.3. Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Một là, Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động du lịch.
Hai là, Nhà nước tổ chức và quản lý hoạt động du lịch bằng phương thức,
hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch…
nhằm phát triển du lịch.
Ba là, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một bộ
máy Nhà nước mạnh mẽ, nhất quán, hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả và một đội

Trước hết hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ của nhiều ngành,
yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác (giao thông vận
tải, tài chính, bưu điện, công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp...) phát
triển. Do đó, ngành du lịch là ngành thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh
tế khác. Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch còn mở ra thị trường tiêu thụ hàng
hóa. Mặt khác, sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch
tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận
dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác.
Hai là trong lĩnh vực chính trị:
Bởi lẽ du lịch là ngành chỉ phát triển trong hòa bình, ổn định, và là cầu nối
cho du khách các quốc gia trên thế giới thông qua du lịch để tìm hiểu văn hóa,
khám phá thế giới…nên du lịch có vai trò to lớn như một nhân tố hòa bình, đẩy
mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Du lịch
quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại
gần nhau. Trong lịch sử đã có nhiều hoạt động du lịch dưới vai trò là cầu nối
18


hòa bình với những chủ đề khác nhau như: "Du lịch là giấy thông hành của hòa
bình" (1967), "Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiệm của mỗi
người" (1983)... các chủ đề này đã kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử,
văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách
nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị
giữa các dân tộc.
Ba là trong lĩnh vực văn hóa, xã hội:
Việc khai thác đưa những tài nguyên du lịch vào sử dụng luôn đòi hỏi phải
đầu tư về mọi mặt giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hóa - xã hội... Vì thế mà
việc phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở những vùng đó,
giảm đi sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng trong
cả nước, đồng thời cũng góp phần làm giảm đi sự tập trung dân cư ở một nơi.

này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hoạt động của con người cũng như
là việc thu hút khách du lịch. Giữa hoạt động du lịch và môi trường trong lĩnh
vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau. Một mặt hoạt động du
lịch sẽ phát triển nếu môi trường trong sạch, đẹp nhưng hoạt động du lịch nếu
không được quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến sự hủy hoại môi trường như: du khách
vứt rác bừa bãi, những người làm hoạt động du lịch cẩu thả, săn bắn thú rừng…
Đồng thời môi trường cũng có những tác động lại hoạt động du lịch. Môi
trường có thể hấp dẫn khách du lịch đến tham quan, khám phá, nghỉ dưỡng…
Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối tương quant sâu sắc với
nhau.
1.1.5.2. Vai trò của quản lý nhà nước về du lịch
Về vai trò định hướng, Nhà nước có vai trò định hướng phát triển du lịch và
hướng dẫn các doanh nhân trong lĩnh vực du lịch hoạt động theo chiến lược phát
triển du lịch mà Nhà nước đề ra thông qua các công cụ quy trình, kế hoạch, hệ
thống chính sách, thông tin... Nhà nước thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua
việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch,
vừa tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng để các nhà kinh doanh du lịch
yên tâm đầu tư, kinh doanh.

20


Về vai trò tổ chức, Nhà nước tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị kinh doanh du
lịch, đảm bảo công tác tổ chức, quy hoạch các khu, các điểm du lịch hoạt động
hiệu quả. Đồng thời, Nhà nước tổ chức lại hệ thống quản lý các cơ quan quản lý
nhà nước về du lịch từ trung ương đến cơ sở; đổi mới thể chế và thủ tục hành
chính; sắp xếp, đào tạo và đào tạo lại cán bộ công chức quản lý nhà nước và
quản lý doanh nghiệp; thiết lập các mối quan hệ hợp tác về du lịch với các nước
và các tổ chức du lịch quốc tế.
Về vai trò điều tiết các hoạt động du lịch và can thiệp thị trường, các chủ

Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn định hướng cho
ngành du lịch phát triển nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu phục vụ cuộc sống nhân
dân, từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du lịch có tầm cỡ trong khu
vực; phát triển du lịch thành nền kinh tế mũi nhọn”.
Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch cơ bản như sau:
Thứ nhất, tổ chức xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật về du lịch;
xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch.
Mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là hướng tới xây dựng một ngành du
lịch hiện đại nhưng vẫn mang đậm đà bản sắc dân tộc; một ngành kinh tế mũi
nhọn tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển, góp phần xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi Nhà
nước có trong tay một hệ thống pháp luật đầy đủ, thông thoáng, phù hợp với nội
dung và tính chất của các quan hệ du lịch trong nền kinh tế thị trường thì hoạt
động du lịch mới có thể vận hành và phát triển; công tác quản lý nhà nước về du
lịch mới đạt hiệu quả. Bởi vậy, việc xây dựng và ban hành một hệ thống pháp
luật cần và đủ để đảm bảo sự vận hành tự do, an toàn cho mọi hoạt động du lịch
là một trong những nội dung lớn của quản lý nhà nước về du lịch.
Thứ hai, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về du lịch và phát triển
du lịch.
Có một hệ thống tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ trung
ương đến địa phương để thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status