VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI PHƯƠNG DUNG
KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN MINH ĐỨC
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS. Lê Thị Dương.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính khoa học cũng như về nội dung trích
dẫn tài liệu của luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Học viên
BÙI PHƯƠNG DUNG
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ANTT
An ninh trật tự
BLHS
Bộ luật Hình sự
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND
Tòa án nhân dân
THAHS
Thi hành án hình sự
VKS
VKS
VKSND
VKS nhân dân
những nhiệm vụ chung của ngành Kiểm sát.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương,
chính sách cùng các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các mối quan
hệ trong công tác thi hành hình sự như Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” đã xác định
“Xây dựng Bộ luật thi hành án điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thi hành án;
…từng bước xã hội hoá hoạt động thi hành án”; Luật THAHS được Quốc hội
thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 khi đi vào thực tiễn
đã phát huy tác dụng tích cực và có hiệu quả trong công tác THAHS.
1
Đồng Nai là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam bộ, có vị trí hết sức quan
trọng, là cửa ngõ phía đông thành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm kinh tế
lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng
Đông Nam Bộ bởi các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, quốc lộ
51 và tuyến đường sắt Thống Nhất… Vì thế, Đồng Nai được coi như là “bản
lề chiến lược” giữa bốn vùng của các tỉnh phía Nam. Nó không chỉ có vai trò
trọng yếu trong phát triển kinh tế, mà còn có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế kết
hợp an ninh quốc phòng và môi trường của vùng kinh tế trọng điểm phía
Nam. Những điều kiện tự nhiên, dân cư đã tác động không nhỏ tới công tác
đấu trang, phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Số
lượng tội phạm tăng lên, số bị cáo bị kết án vì thế cũng ngày càng tăng, đòi
hỏi hoạt động thi hành án nói chung và kiểm sát THAHS nói riêng phải được
chú trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội.
Quán triệt các Nghị quyết của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật
như Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức VKSND năm 2014, Luật
THAHS…thời gian qua ngành kiểm sát tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cố gắng
trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ kiểm sát THAHS, phát hiện những vi
do Bùi Đức Long chủ biên, nghiệm thu năm 2010, khái quát quá trình hình
thành, phát triển cùng những thành tựu, hạn chế trong công tác kiểm sát việc
tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù từ khi
VKSND thành lập năm 1960 đến năm 2010.[29]
Vấn đề liên quan tới kiểm sát THAHS còn có nhiều bài viết đăng trên
các tạp chí chuyên ngành như: Bài viết “Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tạm giữ, tạm giam và THAHS có cần ban hành “quyết định trực tiếp
kiểm sát” không?” của tác giả Nguyễn Hải Phùng, Tạp chí kiểm sát số 7/2012
[16]; Bài viết “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát THAHS của
VKSND” của tác giả Vũ Đức Chấp, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6/2010 [6];
3
Bài viết “Bàn về vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND” tác giả Bùi Đức
Long, Tạp chí Kiểm sát, số 23/2010 [14].
Ngoài ra còn có một số luận văn nghiên cứu có liên quan tới đề tài như:
luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Thế Linh (năm 2014) “Kiểm sát tạm giữ, tạm
giam và THAHS trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn Thủ đô Hà Nội” [15];
Trần Thị Thục Anh (năm 2016) “Kiểm sát thi hành án treo và cải tạo không giam
giữ theo quy định của pháp luật từ thực tiễn thành phố Hà Nội” [2]…
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến các góc độ khác nhau về
vấn đề có liên quan tới kiểm sát THAHS . Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
công trình nào nghiên cứu về công tác kiểm sát THAHS trên địa bàn tỉnh
Đồng Nai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về kiểm sát THAHS của VKSND; đánh
giá thực trạng công tác kiểm sát THAHS của VKSND ở tỉnh Đồng Nai, luận
văn đưa ra các giải pháp bảo đảm việc nâng cao chất lượng hiệu quả công tác
kiểm sát THAHS của VKSND ở tỉnh Đồng Nai trong thời gian tới nhằm đáp
nghĩa, về đấu tranh phòng chống tội phạm. Sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của lĩnh vực
khoa học xã hội như: phương pháp hệ thống, thống kê, lịch sử, logic, phân
tích, tổng hợp, so sánh, dự báo phù hợp với từng nội dung nghiên cứu trong
luận văn, trên cơ sở đó rút ra được những kết luận có tính lý luận và thực tiễn.
Các phương pháp nghiên cứu lý luận, phân tích, so sánh, bình luận, quy nạp,
diễn dịch ...được sử dụng trong chương 1 của luận văn nhằm tập trung làm rõ
5
lý luận chung về kiểm sát thi hành án hình sự. Các phương pháp nghiên cứu
lý luận, phân tích, bình luận, quy nạp, diễn dịch, suy luận logic, nghiên cứu
bản án...được sử dụng trong chương 2 của luận văn nhằm làm rõ thực tiễn
công tác kiểm sát THAHS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Các phương pháp dự
báo, phân tích, suy luận logic, quy nạp, diễn dịch...được sử dụng trong
chương 3 nhằm đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm
sát THAHS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận
về kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo
phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng công tác THAHS trong giai đoạn hiện
nay. Bên cạnh đó, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc
giảng dạy, học tập và nghiên cứu liên quan đến hoạt động kiểm sát các hoạt
động tư pháp nói chung, kiểm sát THAHS nói riêng. Đặc biệt, luận văn góp
phần đưa công tác kiểm sát THAHS trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có chất lượng,
[37,tr.1497]. Như vậy, thi hành án có thể hiểu là thực hiện bản án, quyết định
của Tòa án trên thực tế; THAHS là thực hiện các bản án, quyết định hình sự
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế.
Thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính hành chính - tư pháp
hình sự vì nó có những đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình sự [36,
tr.22]. THAHS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành theo đặc trưng
của quản lý hành chính, phương pháp trong quá trình thi hành án là phương
pháp thuyết phục, giáo dục và mệnh lệnh hành chính, việc thi hành án có liên
hệ với chính quyền địa phương, theo thủ tục hành chính như trường hợp thi
hành án treo, cải tạo không giam giữ thì người chấp hành án treo, cải tạo
không giam giữ được giao về UBND phường, xã nơi người chấp hành án cư
7
trú để theo dõi, giám sát, giáo dục. Nếu các hoạt động tố tụng hình sự khác
đều hướng đến một phán quyết đúng đắn của Tòa án thì THAHS lại nhằm
mục đích thực hiện các nội dung trong phán quyết đó của Tòa án. Tuy nhiên
thi hành án hình sự có mối quan hệ biện chứng với quá trình tố tụng hình sự,
không có tố tụng thì không có thi hành án và ngược lại không có thi hành án
thì tố tụng trở nên vô nghĩa [36,tr.24-26].
Phạm vi của THAHS bao gồm thi hành bản án, quyết định về hình phạt
tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất,
tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tư pháp. Tại khoản 3 đến khoản
14 Điều 3 Luật THAHS năm 2010 đã giải thích:
Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy
định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục,
cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội.
Thi hành án tử hình là việc cơ quan có thẩm quyền tước bỏ quyền sống
của người chấp hành án theo quy định của Luật này.
hiểm cho xã hội hoặc người đang chấp hành án bị bệnh tâm thần hoặc một
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình phải điều trị tại cơ sở chữa bệnh bắt buộc theo bản án, quyết định của
Tòa án, VKS.
Thi hành biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là việc cơ
quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chưa
thành niên phạm tội nhưng không phải chịu hình phạt phải chịu sự giám sát,
giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo bản án, quyết định của Tòa án.
Thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng là việc cơ
quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này đưa người chưa thành
niên phạm tội nhưng không phải chịu hình phạt vào trường giáo dưỡng để
giáo dục theo bản án, quyết định của Tòa án” [17].
Các bản án hoặc quyết định được thi hành bao gồm: bản án hoặc phần
bản án của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự
phúc thẩm; bản án của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc
9
tái thẩm của Tòa án; bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay
theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quyết định của Tòa án Việt Nam
tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp
hành án và đã có quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang
chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài; bản án, quyết định về áp
dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường,thị trấn,
đưa vào trường giáo dưỡng.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Thi hành án hình sự
là việc thực hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật do cơ quan có thẩm quyền tiến hành góp phần trừng trị người phạm
tội cũng như giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm.
1.1.2. Kiểm sát thi hành án hình sự
đình chỉ chấp hành án; tham gia việc xét giảm, miễn thời hạn chấp hành án,
chấp hành biện pháp tư pháp, rút ngắn thời gian thử thách; Kháng nghị hành
vi, quyết định có vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong
việc THAHS; Kiến nghị, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chấm dứt, khắc
phục vi phạm pháp luật trong THAHS; xử lý nghiêm minh người vi phạm;
Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ
việc có dấu hiệu tội phạm trong THAHS theo quy định của pháp luật; Thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát THAHS theo quy định của
pháp luật về THAHS [17, Điều 25].
Theo Từ điển tiếng Việt “kiểm sát” có nghĩa là “kiểm tra và giám sát”.
Theo Từ điển Luật học năm 2006 kiểm sát các hoạt động tư pháp là kiểm tra,
xem xét theo dõi việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án, giam giữ, cải tạo của các cơ quan tiến hành tố tụng và giải
quyết các hành vi phạm pháp, kiện tụng trong nhân dân bảo đảm cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [25].
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm: kiểm sát THAHS là
hoạt động của VKSND trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để kiểm
sát hoạt động của các đơn vị, tổ chức, người có trách nhiệm trong THAHS
11
nhằm đảm bảo việc THAHS phải được chấp hành nghiêm chỉnh, đúng quy
định của pháp luật.
1.1.3. Đặc điểm của kiểm sát thi hành án hình sự
Kiểm sát là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, đảm bảo việc
tuân theo pháp luật trong quá trình hoạt động tư pháp của các chủ thể. Khi
tiến hành kiểm sát, phát hiện có vi phạm VKSND ban hành kiến nghị hoặc
kháng nghị kịp thời để khắc phục vi phạm của các cơ quan, tổ chức có trách
nhiệm trong việc THAHS.
1.2.1. Nội dung nhiệm vụ của công tác kiểm sát thi hành án hình sự
Căn cứ Điều 25, 26 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; Điều 141, 142
Luật THAHS năm 2010 và Quy chế kiếm sát việc tạm giữ, tạm giam và
THAHS ban hành kèm theo Quyết định số 501/QĐ-VKSTC ngày 12/12/2017
của Viện trưởng VKSND tối cao, Hướng dẫn công tác Kiểm sát việc tạm giữ,
tạm giam và THAHS, nội dung nhiệm vụ của công tác kiểm sát THAHS bao
gồm: kiểm sát thi hành án phạt tù và kiểm sát THAHS ngoài hình phạt tù.
1.2.1.1. Kiểm sát thi hành án phạt tù
Nội dung nhiệm vụ của kiểm sát thi hành án phạt tù bao gồm các công
việc cụ thể sau:
- Kiểm sát việc ban hành quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án.
Để bảo đảm việc thi hành án kịp thời, nghiêm minh, kiểm sát viên phải
nắm được ngày Tòa án ra quyết định thi hành án, gửi quyết định thi hành án.
Theo đó, VKS kiểm sát: Kiểm sát việc chấp hành thời hạn và thẩm quyền ra
quyết định thi hành án hoặc ủy thác ra quyết định thi hành án; Kiểm sát việc
chấp hành thời hạn gửi và nơi gửi quyết định thi hành án của Tòa án; Kiểm
sát quyết định thi hành án phạt tù.
Để kiểm sát vấn đề này, VKS cần theo dõi thời điểm bản án và quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Chủ động nắm bắt các bản án có hiệu
lực pháp luật và thông qua quan hệ phối hợp với công tác kiểm sát xét xử
hình sự. Mặt khác, cần chủ động nắm bắt các trường hợp Tòa án ủy thác thi
hành án để biết thời điểm bản án được ủy thác và thời điểm phải ra quyết định
thi hành án. Chủ động nắm bắt các quyết định thi hành án của Tòa án, yêu cầu
Tòa án cung cấp đầy đủ các quyết định đó hoặc thông qua việc áp dụng quyền
"yêu cầu" để kiểm sát việc Tòa án ra quyết định thi hành án. Ngoài ra, các
14
VKS cần có sổ theo dõi việc ra quyết định thi hành án để ghi chép, cập nhật
thường xuyên và đầy đủ các quyết định thi hành án của Tòa án. Thông qua
- Kiểm sát việc thi hành quyết định thi hành án phạt tù: Kiểm sát việc
tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án đang bị tạm giam và việc
ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án; Kiểm sát việc chấp
hành thời hạn có mặt của người bị kết án phạt tù đang tại ngoại để thi hành án
và việc áp giải trong trường hợp người đó không có mặt để thi hành án; Kiểm
sát việc thực hiện yêu cầu ra quyết định truy nã trong trường hợp người bị kết
án phạt tù đang tại ngoại bỏ trốn; Kiểm sát việc thực hiện nghĩa vụ để người
bị kết án đang bị tạm giam gặp người thân thích trước khi thi hành án và việc
thông báo cho gia đình người bị kết án đang bị tạm giam biết nơi người đó
chấp hành hình phạt;
- Kiểm sát việc đảm bảo các thủ tục pháp luật trong thi hành án phạt tù:
Kiểm sát việc lập hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt
tù theo quy định tại Điều 25 Luật THAHS và khoản 2 Điều 7 Nghị định
số 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ.
Kiểm sát việc tiếp nhận người chấp hành án phạt tù đúng quy định của
pháp luật; phải có hồ sơ phạm nhân, trong hồ sơ phải đầy đủ theo Nghị định
số 117/2011/NĐ-CP ngày 15/12/2011 của Chính phủ quy định về tổ chức
quản lý phạm nhân và chế độ ăn, mặc, ở, sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với
phạm nhân (sau đây gọi tắt là Nghị định số 117/2011/NĐ-CP) và các điều 25,
26 và 41 Luật THAHS. Việc lập hồ sơ phạm nhân theo đúng quy định tại
Thông tư số 63/2011/TT-BCA ngày 7/9/2011 của Bộ Công an quy định các
loại biểu mẫu, sổ sách về công tác THAHS.
Kiểm sát bảo đảm việc cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình
phạt tù cho phạm nhân theo đúng quy định của pháp luật, việc thông báo
trước 2 tháng khi phạm nhân chấp hành xong hình phạt tù (thông báo cho Cơ
quan THAHS Công an cấp huyện và UBND xã nơi phạm nhân về cư trú, cơ
quan, tổ chức nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú, làm việc, cơ
quan nhận phạm nhân trích xuất theo Điều 40 Luật THAHS và Nghị định số
16
17
thông tin của phạm nhân theo quy định tại Điều 28 Luật THAHS. Thông tư số
11/TTLB ngày 20/12/1993 của Liên bộ: Nội vụ, Quốc phòng, Tài chính, Giáo
dục và Đào tạo, Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn việc giáo dục
pháp luật, giáo dục công dân, dạy văn hóa, nghề, chế độ sinh hoạt, giải trí cho
phạm nhân và Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT
ngày 6/2/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ tư pháp, Bộ Giáo dục và
đào tạo hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục
công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh
hoạt, giải trí cho phạm nhân (thay thế các mục I, II, IV Thông tư liên bộ số
11TTLB).
- Kiểm sát việc thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động
của phạm nhân.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thực hiện chế độ lao động
và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân theo quy định tại Điều 29, Điều
30, khoản 3 Điều 51 Luật THAHS và Thông tư liên tịch số 04/2010/TTLTBTC-BCA-BQP ngày 12/1/2010 của Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng hướng dẫn thực hiện chế độ lao động và sử dụng kết quả lao động, dạy
nghề phạm nhân trong các trại giam
- Kiểm sát việc trích xuất phạm nhân.
Kiểm sát việc trích xuất phạm nhân theo quy định tại Điều 35
Luật THAHS và Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTCVKSNDTC ngày 30/05/2013 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân
dân tối cao, VKSND tối cao hướng dẫn thực hiện trích xuất phạm nhân để
phục vụ điều tra, truy tố, xét xử.
- Kiểm sát việc giải quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn và xử lý phạm
nhân vi phạm: kiểm sát việc giải quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn theo
quy định tại Điều 37 Luật THAHS; kiểm sát việc xử lý phạm nhân vi phạm
theo quy định tại Điều 38 Luật THAHS.
- Kiểm sát việc Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi
hành án tử hình, quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình theo quy
19
định tại điểm đ, điểm e khoản 1, khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự và
Điều 54, Điều 55 Luật THAHS;
- Kiểm sát việc hưởng thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 60
và Điều 61 Bộ luật Hình sự;
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật về trình tự, quy trình thi hành án tử
hình, việc giải quyết xin nhận tử thi, hài cốt của người bị thi hành án tử hình
theo quy định tại Điều 59, Điều 60 Luật THAHS và các quy định của pháp
luật khác có liên quan.
- Kiểm sát việc xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân
cho người bị kết án theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 40 Bộ luật Hình sự,
khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định của pháp luật khác
có liên quan.
Thứ hai, kiểm sát việc thi hành án treo, án phạt cảnh cáo, cải tạo không
giam giữ:
- Kiểm sát việc cơ quan THAHS có thẩm quyền nơi người chấp hành
án cư trú, làm việc hoặc học tập trong thực hiện quyết định thi hành án, lập,
bổ sung hồ sơ thi hành án, cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong thời gian
thử thách của án treo, án phạt cải tạo không giam giữ, đề nghị rút ngắn thời
gian thử thách của án treo, giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không
giam giữ, theo dõi, thống kê việc thi hành án phạt cảnh cáo;
- Kiểm sát việc UBND cấp xã, đơn vị quân đội nơi người chấp hành án
cư trú, làm việc hoặc học tập trong thực hiện nhiệm vụ giám sát, giáo dục
người được hưởng án treo và người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
theo quy định tại Chương V Luật THAHS và các quy định của pháp luật khác
có liên quan;