VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH NGỌC THỦY
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI
DƯỚI 18 TUỔI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công
bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.Các thông tin trích dẫn trong luận văn
đều được ghi rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 21 tháng 3 năm 2018
Học viên
ĐINH NGỌC THỦY
bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự, an toàn xã hội, giáo dục ý
thức chấp hành và tuân theo pháp luật cho các chủ thể trong xã hội.
Cùng với sự phát triển của đất nước, sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Phú Thọ đã có sự tác động tích cực đến đời sống của nhân dân các dân tộc trên địa
bàn tỉnh. Những năm gần đây, đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh không ngừng
được cải thiện, tình hình chính trị - xã hội được ổn định, quốc phòng, an ninh được
tăng cường, hiệu lực quản lý Nhà nước được nâng lên. Điều này làm cho lòng tin
trong nhân dân với Đảng, với Nhà nước ngày càng được nâng cao, nhân dân phấn
khởi, đoàn kết xây dựng tỉnh ngày càng giàu đẹp, văn minh.
Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển luôn đi kèm, tình hình tội phạm diễn
biến ngày càng phức tạp, trong đó, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện ngày
càng có xu hướng gia tăng nhanh cả về số vụ lẫn tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội như tội phạm về ma túy, tội giết người, tội cố ý gây thương tích, tội cướp tài
sản, tội hiếp dâm, tội chống người thi hành công vụ, tội gây rối trật tự công cộng...
Năm 2013, Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã thụ lý giải quyết
44 vụ án hình sự với 64 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2014 thụ lý giải quyết
52 vụ án hình sự với 68 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2015 thụ lý giải quyết
16 vụ án hình sự với 19 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2016 đã thụ lý giải
quyết 27 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên; năm 2017 đã thụ lý
giải quyết 24 vụ án hình sự với 31 bị cáo là người chưa thành niên.
Chính sách hình sự của Nhà nước ta thể hiện rõ bản chất nhân đạo và dân chủ
của nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trước ki Bộ luật Hình sự năm
2015 ra đời, Nhà nước sử dụng khái niệm người chưa thành niên phạm tội để chỉ
những người dưới 18 tuổi phạm tội và quy định hình phạt áp dụng đối với chủ thể của
tội phạm này. Bộ luật Hình sự năm 2015 là bước phát triển mới so với các quy định
của pháp luật hình sự trước đây về quy định trách nhiệm hình sự đối với người dưới
18 tuổi phạm tội, trong đó cụ thể hóa các hình phạt và áp dụng triệt để nguyên tắc
1
pháp lý, Matxcơva, 1981, Nxb. Pháp lý, Hà Nội, 1987 (sách dịch); Võ Khánh Vinh
(1994), Nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội; PGS.TS. Trịnh Quốc Toản (chủ biên), Tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp, Nxb. Công an
2
nhân dân, Hà Nội, 2007; Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2000 (GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ
biên); Đào Thị Nga, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội,
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997; Trần Văn Dũng,
Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003; Nguyễn Minh
Khuê, Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Luận văn thạc
sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006; Trịnh Thị Yến, Quyết định
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm nhiều tội, Luận văn thạc sĩ luật học,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014; Đỗ Ngọc Thùy (2011), Hình phạt tù
đối với người chưa thành niên phạm tội – Lý luận và thực tiễn áp dụng, Luận văn
Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Thu Huyền
(2012), Hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
theo Luật hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học Quốc
gia Hà Nội…
Ngoài ra, còn có các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học luật uy tín
như: Lương Ngọc Trâm (2014), “Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về hình phạt
áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Tòa án nhân dân (19); TS.
Trần Văn Dũng, Quyết định hình phạt trong trường hợp người chưa thành niên phạm
tội, Tạp chí Luật học, số 5/2000; PGS. TS. Dương Tuyết Miên, Quyết định hình phạt
đối với người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí Luật học, số 4/2002; TS. Trương
Minh Mạnh, Phân loại tội phạm với việc quy định trách nhiệm hình sự của người chưa
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn “Áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội dưới 18 tuổi theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ” nhằm
lãm sáng tỏ hơn về mặt lý luận về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18
tuổi; đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, từ đó
rút ra những kết quả đạt được và chỉ ra những hạn chế cần phải khắc phục về mặt
pháp luật cũng như tổ chức thực hiện pháp luật. Từ đó, để xuất các giải pháp hoàn
thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối với người
phạm tội dưới 18 tuổi để đạt kết quả cao.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ phân tích, làm rõ các khái niệm, đặc điểm của người
phạm tội dưới 18 tuổi; khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự, hình phạt và
áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi.
Luận văn khái quát quá trình hoàn thiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối
4
với người phạm tội dưới 18 tuổi ở Việt Nam, tập trung làm rõ và đánh giá các quy
định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội
dưới 18 tuổi.
Luận văn phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế , chỉ ra những
nguyên nhân của hạn chế trong áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18
tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu
quả tổ chức thực hiện pháp luật về áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới
18 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là hệ thống các quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hình phạt và cải tạo
con người; các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về pháp luật nói chung,
chính sách hình sự nói riêng, đặc biệt là các quan điểm, tư tưởng về cải tạo, giáo
dục, phòng ngừa tội phạm đối với tội phạm dưới 18 tuổi, cũng như việc áp dụng
hình phạt đối với chủ thể tội phạm này.
5.2. Các phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự như:
phân tích, tổng hợp và thống kê, phương pháp so sánh… để nghiên cứu nhằm đạt
được mục đích nghiên cứu. Cụ thể:
Chương 1 tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp
so sánh luật để làm rõ các vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội dưới 18 tuổi.
Chương 2 tác giả sử dụng phương pháp phân tích và phương pháp so sánh
luật để làm rõ các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành Bộ
luật Hình sự năm 2015 và các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng
hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, đánh giá những thành tựu, những
hạn chế của các quy định.
Chương 3 tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và
phương pháp so sánh kết hợp với việc sử dụng hệ thống bảng thống kê, dẫn chứng
cụ thể để đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới 18 tuổi
trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nhằm làm rõ những thành tựu đã đạt được và những hạn
chế cần khắc phục. Từ đó, đề xuất các giải pháp cụ thể về hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả thi hành quy định áp dụng hình phạt đối với người phạm tội dưới
18 tuổi của Bộ luật Hình sự năm 2015 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn sẽ góp phần làm rõ và hoàn thiện lý luận về áp dụng hình phạt đối
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN DỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẠM TỘI DƯỚI 18 TUỔI
1.1 Khái quát về người phạm tội dưới 18 tuổi
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của người phạm tội dưới 18 tuổi
Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần,
đặc biệt là về tâm - sinh lý, hạn chế trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống. Ở lứa
tuổi này, con người ta dễ bị kích động, lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo
hiểm. Tuy nhiên, hoạt động cảm hóa, giáo dục, cải tạo đối với họ lại mang lại hiệu
quả cao.
Bộ luật Hình sự năm 2015 kế thừa các quy định của Bộ luật Hình sự năm
1999 về người phạm tội dưới 18 tuổi nhưng không sử dụng cụm từ “người chưa
thành niên phạm tội” mà sử dụng cụm từ “người phạm tội dưới 18 tuổi”. Việc quy
định như vậy nhằm cụ thể hóa và thống nhất cách hiểu về độ tuỏi của người chưa
thành niên phạm tội. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, các cụm từ
“người chưa thành niên”, “người chưa đủ 18 tuổi” được sử dụng với cùng một nội
hàm và ngữ nghĩa như “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”
(Khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015) , “Người lao động chưa thành niên là
người lao động dưới 18 tuổi” (Điều 161 Bộ luật Lao động năm 2012)…
Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành
niên bị tước quyền tự do (Quy tắc Havana) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua ngày 14/12/1990 ghi nhận cụ thể: “Người chưa thành niên là người dưới 18
tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được
tước quyền tự do của người chưa thành niên” [9, quy tắc 2.1 mục a].
Do cụm từ “người chưa thành niên phạm tội” được pháp luật hình sự sử dụng
phổ biến trước đây nên đã có nhiều nhà khoa học định nghĩa người chưa thành niên
phạm tội như: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18
tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các đặc điểm về
tâm sinh lý và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
thuộc mặt khách quan của tội phạm đều trở thành tội phạm. Tức là, họ phải là người
có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Năng lực trách
nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng nhận thực và điều khiển hành vi của con người.
9
Luận vận đậy đu ở file:Luận vận Full