VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THANH NGA
QUYỀN CỦA BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ THANH NGA
QUYỀN CỦA BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CÁO LÀ
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI .............................. 60
3.1. Giải pháp pháp luật bảo đảm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi .... 60
3.2. Các giải pháp khác bảo đảm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi
tại thành phố Hà Nội ....................................................................................... 65
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 79
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCA
:
Bộ Công an
BCT
:
Bộ Chính trị
BLHS
:
Bộ luật hình sự
BLTTHS
:
Tố tụng hình sự
VKSND
:
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Quyền con người (QCN) là một trong những quyền thiêng liêng, cơ bản
và cũng luôn luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con người được
sinh ra và đồng thời cũng phải bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên. Cho
nên, nó không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế
định pháp lý cơ bản trong pháp luật của các quốc gia.
Bảo vệ QCN là mục tiêu của các thiết chế Nhà nước dân chủ và tiến
bộ. Ngày nay, đất nước ta đang trên đà phát triển về mọi mặt. Song song, với
việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng chăm lo xây dựng một Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống pháp luật
bảo đảm cho việc phát triển các quyền tự do dân chủ của công dân là những
bổ, sung năm 2017) đều dành một chương để quy định những chế định riêng
về người dưới 18 phạm tội.
Nhiều năm qua, theo quy định của pháp luật, các cơ quan tiến hành tố
tụng tại thành phố Hà Nội đã tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống vi
phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có quyền của người dưới 18
tuổi. Song, trong xét xử quyền con người của bị cáo là người dưới 18 tuổi có
lúc, có nơi chưa được tôn trọng, còn bị vi phạm, chưa có biện pháp bảo đảm
hữu hiệu. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm đồng thời bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội đặt ra nhiệm vụ cấp
bách, hoàn thiện pháp luật, tạo cơ sở pháp lý, bảo đảm quyền người dưới 18
tuổi nhất là quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét xử các
vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội là vấn đề đặc biệt quan tâm, nhằm nhận
thức đầy đủ và đúng đắn về đặc điểm, tầm quan trọng của áp dụng pháp luật
trong việc bảo đảm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong giai đoạn xét
xử, phân tích những kết quả đã đạt được, những hạn chế, bất cập còn tồn tại,
tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, bất cập, từ đó kiến nghị một số giải
2
pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội
hiện nay là vô cùng cần thiết.Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Quyền của bị cáo là
người dưới 18 tuổi từ thực tiễn xét xử tại thành phố Hà Nội”làm luận văn
Thạc sĩ Luậthọc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự tại Học viện
Khoa học và Xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà
khoa học về quyền con người, quyền công dân và quyền của bị can, bị cáo
trong hoạt động tố tụng hình sự. Có thể kể đến trong một số những công trình
nghiên cứu sau:
quyền bào chữa của bị can, bị cáo ở Việt Nam”, của tác giả Đỗ Thị Hường,
Khoa Luật, trường Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2011. [7].
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Bảo đảm quyền con người trong hoạt
động xét xử vụ án hình sự”, của tác giả Ngô Thị Thanh, Khoa luật, trường
Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013.[21].
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự
Việt Nam”, của tác giả Trần Thị Thanh Thúy, trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2013. [23].
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Bảo đảm quyền con người trong hoạt
động xét xử vụ án hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu”, của tác giả
Đỗ Thị Huệ, Viện Nhà nước và pháp luật, trường Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, năm 2013. [5].
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Xét xử vụ án có bị cáo là người chưa
thành niên theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, của tác giả Đỗ Xuân
Hồng, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014. [6].
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Bảo đảm quyền của người chưa thành
niên phạm tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn
thành phố Hải Phòng”, của tác giả Phạm Hữu Trường, Viện Hàn lâm, Khoa
học xã hội Việt Nam, Học viện khoa học và xã hội, năm 2014. [28]
4
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của người
chưa thành niên phạm tôi, từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”, của tác giả
Trần Thị Tuyết Nhung, Viện Hàn lâm, Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện
khoa học xã hội, năm 2016. [13]
- Luận văn thạc sĩ Luật học: “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị
buộc tội chưa thành niên, theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực
tỉnh Quảng Trị”, của tác giả Nguyễn Thị Thủy Tiên, Viện Hàn lâm, Khoa
học xã hội Việt Nam, Học viện khoa học xã hội, năm 2016. [25]
đến cả quá trình giải quyết vụ án mà bị cáo là người dưới 18 tuổi từ giai đoạn
điều tra, truy tố, xét xử cho đến thi hành án...
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống
quy định của pháp luật nước ta hiện nay về bảo đảm quyền của bị cáo là
người dưới 18 tuổi từ thực tiễn xét xử tại thành phố Hà Nội. Lần đầu tiên tác
giả nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần nâng cao chất lượng áp dụng pháp
luật trong công tác xét xử vụ án đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội
trong giai đoạn xét xử từ thực tiễn thànhphố Hà Nội. Từ đó khẳng định sự cần
thiết bảo đảm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn xét xử các vụ án hình sự có Bị cáo là
người dưới 18 tuổi phạm tội, luận văn làm sáng tỏ quyền của Bị cáo là người dưới
18 tuổi và quá trình áp dụng các quy định này từ thực tiễn xét xử tại Tòa án. Qua
đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao nhất chất lượng xét xử các vụ án hình sự
mà bị cáo là người dưới 18 tuổi , đảm bảo được các quyền của con người, quyền
của bị cáo là người dưới 18 tuổi.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của thủ tục xét xử
vụ án hình sự mà bị cáo là người dưới 18 tuổi. Trong đó tập trung nghiên cứu
các vấn đề:
6
- Những vấn đề lý luận và những quy định của pháp luật về đảm bảo
quyền đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi;
- Thực tiễn việc bảo đảm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi từ thực
tiễn xét xử các vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội;
- Đề xuất quan điểm và các giải pháp bảo đảm quyền của bị cáo là
người dưới 18 tuổi.
hình sự của thành phố Hà Nội hiện nay.
- Luận văn cũng nghiên cứu các yếu tố khác có tác động đến việc bảo đảm
quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử vụ án hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là công trình nghiên cứu về vấn đề áp dụng pháp luật trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự tại thành phố Hà Nội.
Đồng thời, đề ra được các quan điểm, giải pháp cơ bản, thiết thực cho việc
nâng cao chất lượng hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự về bảo đảm quyền của
bị cáo là người dưới 18 tuổi trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự tại
thành phố Hà Nội, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh
mục các từ viết tắt, luận văn gồm 03 chương.
Chương 1: Khái quát chung về quyền củabị cáo là người dưới 18
tuổitrong xét xử vụ án hình sự.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi
trong xét xử tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của bị
cáo là người dưới 18 tuổi xét xử tại thành phố Hà Nội.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA BỊ CÁO
LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI
1.1. Các vấn đề lý luận về quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi
1.1.1.Khái niệm quyền của bị cáo trong tố tụng hình sự
Bị cáo trước hết là con người, là công dân có đầy đủ mọi quyền và
nghĩa vụ được pháp luật (Hiến pháp) công nhận và bảo vệ. Do vậy trước khi
phản ánh một cách phong phú và đa dạng thể hiện trong các văn kiện của
Đảng, Nhà nước và các văn bản pháp luật.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: “Quyền con
người là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia
phải tôn trọng” [10, tr.338]. Vì vậy, theo quan niệm chung hiện nay, “Quyền
con người là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người
với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hoá bằng pháp
luật quốc gia và các thoả thuận pháp lý quốc tế” [10, tr.26].
Khái niệm Quyền công dân
Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan
hệ giữa công dân với Nhà nước, được xá định bởi chế định quốc tịch. Quyền
công dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi
nhận và chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng
các quyền công dân mà pháp luật nước đó ghi nhận. Theo Điều 28 Hiến pháp
Việt Nam năm 2013 quy định thì :
"1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia
thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở,địa
phương và cả nước.
2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã
hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của
công dân". [18]
10
Khái niệm Bị cáo
Thuật ngữ “bị cáo” đầu tiên xuất hiện trong pháp luật tố tụng thời Lê
Sơ: lời khai của người làm chứng, bị can, bị cáo và biện pháp thu thập chứng
cứ là lấy lời khai người làm chứng, hỏi cung bị can, đối chất..., nhưng vẫn
chưa có một khái niệm, định nghĩa nào về thuật ngữ bị cáo. Trải qua quá trình
phát triển lâu dài, cho đến sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ
Như vậy theo pháp luật quốc tế, “Người chưa thành niên” đồng nhất
với “Trẻ em” và được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp
luật quốc gia quy định khác. Theo quan niệm quốc tế thì dựa vào độ tuổi để
xác định trẻ em, người chưa thành niên, thành niên… Theo pháp luật Việt
Nam, khái niệm người chưa thành niên được hiểu như sau:
Theo từ điển tiếng Việt thì: “Người chưa thành niên là người chưa phát
triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ
quyền và nghĩa vụ công dân” [31]. Khái niệm này, có thể hiểu là người chưa
thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện thể lực, trí tuệ, tinh thần
có nghĩa là ở lứa tuổi này họ chưa phải là người lớn nhưng cũng không còn là
trẻ con. Đây là giai đoạn diễn ra những biến cố rất đặc biệt, đó là sự phát triển
cơ thể mất cân bằng nên người chưa thành niên rất dễ bị kích động, dễ nổi
nóng cho nên họ có những phản ứng nóng nảy, vô cớ, những hành vi bất
thường.
Theo Điều 1 Thông tư liên tịch số: 01/2011/TTLT-VKSNDTCTANDTCBCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2011 của VKSNDTC, TANDTC,
Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, hướng dẫn
thi hành một số quy định của BLTTHS đối với người tham gia tố tụng là
người chưa thành niên, thì: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển
đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt
là khi họ tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án... ” [33].
Điều 68 BLHS năm 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy
định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung
Bộ luật không trái với những quy định của Chương này” [16].
14
Chuyển tiếp và kế thừa BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 đã có
một số sửa đổi, bổ sung về quy định thủ tục tố tụng đối với người chưa thành
niên, thay thế cụm từ người chưa thành niên thành người dưới 18 tuổi, Điều
NCTN dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi
trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm
trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 12 của BLHS năm 2015 quy định bổ sung loại tội cụ thể mà
người từ đủ 14 tuổi trở lên, chưa đủ 16 tuổi phải chịu. Vì trong độ tuổi này họ
chưa làm chủ được bản thân nên khi thực hiện hành vi phạm tội họ không
phải chịu TNHS, không tính lỗi khi thực hiện hành vi. Quy định này là một
trong những bổ sung giúp người dưới 18 tuổi nhận thức tốt hơn về những điều
mà pháp luật ngăn cấm, nâng cao hiệu quả giáo dục phòng ngừa.
Như vậy, từ những phân tích đánh giá nêu trên, theo học viên khái niệm
về bị cáo là người dưới 18 tuổi nên hiểu: “Là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ
18 tuổi vi phạm pháp luật hình sự bị Viện kiểm sát ra quyết định truy tố và bị
Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử về một tội phạm hình sự theo quy
định của pháp luật”.
Từ phân tích ở mục 1.1.1 và 1.1.2.1 của luận văn có thể thấy khái niệm
quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi là: “Những bảo đảm pháp lý có tác
dụng bảo vệ bị cáo là người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng trong giai đoạn
xét xử của Tòa án nhân dân”.
1.1.2.2. Đặc điểm quyền của bị cáo là người dưới 18 tuổi
Một là, quyền cơ bản của người dưới 18 tuổi được luật pháp quốc tế
quy định thông qua các nguyên tắc sau: Trong bất kỳ hoàn cảnh, điều kiện
nào, sự an toàn của người dưới 18 tuổi phải được đặt lên hàng đầu; không bị
phân biệt đối xử - tất cả các em đều được đối xử công bằng, không thiên vị,
bất kể giới tính, độ tuổi, dân tộc, tôn giáo…; Người dưới 18 tuổi phải được
đối xử một cách lịch sự, tôn trọng phẩm giá và chuyên nghiệp; trước khi xét
16
xử, người dưới 18 tuổi luôn luôn được suy đoán vô tội; người dưới 18 tuổi được
người dưới 18 tuổi khi tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử của Tòa án nhân
dân”.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động xét xử vụ án hình sự mà
bị cáo là người dưới 18 tuổi
1.2.1. Khái niệm của hoạt động xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là
người dưới 18 tuổi
Pháp luật nói chung và Pháp luật hình sự nói riêng luôn luôn coi trẻ em
là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hàng ngày
mà ngay cả khi các em là chủ thể của hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức
phải truy cứu TNHS. Luật hình sự bảo vệ bị cáo là người dưới 18 tuổi bị coi
là tội phạm và cũng quy định một chế tài riêng để xử lý, thì thủ tục tố tụng
cũng phải phù hợp với lứa tuổi bị cáo là người dưới 18 tuổi nhằm thể hiện
tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Thủ tục xét xử vụ án mà bị cáo là bị cáo là người dưới 18 tuổi theo Pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam là: tổng hợp các quy định chung về thủ tục xét xử
vụ án hình sự và các quy định về thủ tục đặc thù mang tính chất nhân đạo đối
với bị cáo là bị cáo là người dưới 18 tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm
xét xử vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, đồng thời bảo
vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bi can, bị cáo trong hoạt động xét xử.
1.2.2. Đặc điểmcủa hoạt động xét xử vụ án hình sự mà bị cáo là
người dưới 18 tuổi
Chính sách hình sự trong tố tụng hình sự đối với bị cáo là người dưới
18 tuổi nhằm bảo đảm một cách tốt nhất quyền bào chữa cho đối tượng này,
hạn chế một cách tối đa việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế, hạn chế
một cách thấp nhất những tác động không thể tránh khỏi về tâm lý đối với bị
cáo là người dưới 18 tuổi do hoạt động tố tụng hình sự gây ra, đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi cho việc làm rõ những nguyên nhân, điều kiện phạm tội
18
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ
QUYỀN CỦA BỊ CÁO LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI VÀ THỰC HIỆN
BẢO ĐẢM QUYỀN TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của bị
cáo là người dưới 18 tuổi
2.1.1. Quyền bình đẳng trước Toà án và được xét xử bởi Toà án độc
lập, không thiên vị, công khai
Trước hết, bình đẳng thể hiện ở sự ngang bằng về quyền giữa các bên
trong tố tụng. Bên buộc tội và bên gỡ tội có quyền như nhau trong việc đưa ra
chứng cứ, quan điểm, yêu cầu là những đòi hỏi đầu tiên của công bằng trong
xét xử. Đây cũng là yêu cầu của Điều 7 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm
1948, trong đó quy định: mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có
quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng.
Tòa án cần phải độc lập, không thiên vị cũng là nội dung quan trọng
đảm bảo công bằng. Toà án là cơ quan có thẩm quyền đưa ra phán quyết về
việc một người có tội hay không và trách nhiệm hình sự mà người đó phải
gánh chịu.
Công khai và minh bạch là những đòi hỏi thiết yếu của công bằng, về
vấn đề này, các quy định của BLTTHS năm 2015 cũng đã quy định cụ thể tại
các điều luật như: Điều 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 290, 291, 293, 309, 320,
321 và 322. Tất cả nội dung của các điều luật nêu trên đã phản ánh tính chất
độc lập, công khai, không thiên vị của Tòa án khi xét xử, cũng như bảo đảm
quyền bình đẳng trước Tòa án của bất kỳ ai.
2.1.2. Quyền bào chữa của bị cáo là người dưới 18 tuổi
Khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định người bào chữa có thể
là Luật sư, người đại diện hợp pháp của bị cáo là người chưa thành niên và
20