VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ KỲ THỤY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI
CHO NGƯỜI THU NHẬP THẤP TỪ THỰC TIỄN QUẬN
HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ KỲ THỤY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI
CHO NGƯỜI THU NHẬP THẤP TỪ THỰC TIỄN QUẬN
HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRẦN HỒNG HẠNH
Hà Nội - 2019
Hà Nội, ngày
tháng
Học viên
Đỗ Kỳ Thụy
năm 2019
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI.................9
1.1. Cơ sở lý thuyết.............................................................................................9
1.2. Tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội tại thành phố Hà
Nội.................................................................................................................... 20
Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ
Ở CHO NGƯỜI CÓ THU NHẬP THẤP TẠI QUẬN HOÀNG MAI...............27
2.1. Khái quát về quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.....................................27
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên................................................................................27
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội.................................................................... 28
2.1.3. Đặc điểm văn hóa................................................................................36
2.2. Tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu
nhập thấp ở quận Hoàng Mai............................................................................38
2.2.1. Thực trạng nhu cầu nhà ở cho người có thu nhập thấp ở quận
Hoàng Mai.....................................................................................................38
2.2.2. Thực trạng nguồn cung nhà ở cho người có thu nhập thấp ở quận
BĐS
Bất động sản
CBCNVC
Cán bộ công nhân viên chức
CTCP
Công ty cổ phần
KCN
Khu công nghiệp
KCX
Khu chế xuất
NH
Ngân hàng
NHNN
Ngân hàng nhà nước
NHTM
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu phát triển nhà ở (m2 sàn).................................................................. 23
Bảng 2.1: Dân số chia theo tình trạng cư trú năm 2017.................................................... 32
Bảng 2.2: Nhu cầu về nhà ở của đối tượng thu nhập thấp năm 2015.........................41
Bảng 2.3: Tổng quan một số dự án nhà ở xã hội tại quận Hoàng Mai......................45
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhu cầu có nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người,
là một trong những yếu tố góp phần phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Đối với phần lớn người dân, nhà là tài sản có giá trị nhất, yếu tố nhà ở cũng
chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản quốc gia. Dưới góc độ xã hội, quy mô và
giá trị của ngôi nhà ở còn thể hiện năng lực tài chính của mỗi cá nhân trong xã
hội. Nhu cầu nhà ở luôn là vấn đề của mọi tầng lớp nhân dân từ đô thị đến
nông thôn, đặc biệt là nhu cầu cải thiện chỗ ở của các đối tượng có thu nhập
thấp, người có công với cách mạng, công nhân làm việc trong khu công
nghiệp, khu chế xuất, nhà ở của sinh viên, người nghèo ở các đô thị. Vì vậy,
để xã hội phát triển và ổn định, cần thiết phải có các biện pháp thiết thực để
giải quyết tốt vấn đề nhà ở.
Thời gian qua, vấn đề nhà ở cho nhân dân luôn là trọng tâm trong các
chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Điều này được thể chế hóa qua
hàng trăm văn bản về cơ chế, chính sách giải quyết, phát triển nhà ở cho
người dân được ban hành nhằm mục đích giải quyết vấn đề an cư cho người
lao động, từ đó họ càng thêm động lực hăng say công tác, cống hiến cho xã
hội. Luật nhà ở số 56/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11
năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, trong đó vấn đề giải quyết nhà ở cho
phát triển nhà ở xã hội tại địa bàn quận. Do vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài
“Thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp từ thực
tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” là cần thiết có tính cấp bách cả về mặt
lý luận cũng như thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu về nhà ở xã hội và chính sách về nhà ở xã
hội ở nước ngoài
Quyền có nhà ở là một trong những quyền cơ bản của con người được
các tổ chức quốc tế quy định trong các điều ước. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân
quyền về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp
2
Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp;
Điều 25, khoản 1 [34, tr.3] ghi rõ: “Mọi người đều có quyền được hưởng một
mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm:
thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh
trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu
thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.” “The builders:
Houses, people, neighborhoods, governments, money” của Martin Mayer, xuất
bản năm 1978 [32, tr.3] đã đề cập đến thực trạng và chính sách nhà ở, đổi mới đô
thị, kế hoạch xây dựng thành phố của My; các ky thuật xây dựng nhà ở trong
công nghiệp xây dựng; chính sách về tiền, ngân hàng, vai trò chính quyền và
thuế xây dựng. Bên cạnh đó, ấn phẩm “Guidelines on social housing: Principles
and examples” của United Nations - Liên Hợp Quốc, xuất bản năm 2006 [29,
tr.3] đã khái quát lịch sử phát triển nhà ở của các nước trong thời kỳ chuyển giao;
vai trò của các chính sách xã hội về vấn đề nhà ở; các yếu tố nhà nước, pháp luật
và kinh tế cho việc phát triển nhà ở xã hội; vai trò của nhà ở xã hội trong kết cấu
xã hội; tiêu chuẩn thiết kế nhà ở xã hội; nghiên cứu một số dự án tiên phong và
Ngoài ra, còn nhiều bài báo, luận văn, luận án, các công trình khoa học
nghiên cứu về chính sách nhà ở và nhà ở xã hội đã công bố ở trong và ngoài
nước. Các công trình, đề tài trên đã đề cập, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến
vấn đề nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp do tác động của quá trình đô thị
hóa và dân cư tập trung đông tại các thành phố lớn; từ đó, người đọc được
cung cấp một bức tranh đa chiều về thực trạng nhà ở xã hội ở thế giới và trong
nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa hiện nay. Đây thực sự là
nguồn tư liệu có giá trị lớn để tác giả tham khảo, kế thừa. Có thể khẳng định,
từ khi nhà nước ban hành chính sách về nhà ở xã hội đến nay, chưa có đề tài,
bài viết hay công trình khoa học nào nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về “Chính
sách phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp từ thực tiễn Thành phố
Hà Nội và quận Hoàng Mai”. Do đó, việc thực hiện đề tài này rất cần thiết.
Trong quá trình thực hiện đề tài, những nghiên cứu kể trên là những nguồn tư
liệu tham khảo đặc biệt hữu ích, góp phần bổ sung những khung kiến thức
4
vừa có tính lý thuyết, vừa có tính thực tiễn cao cho luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn này nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng và đánh giá tình hình
thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp từ
thực tiễn ở Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, đồng thời đề ra giải pháp
hoàn thiện chính sách.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để có thể thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn này cần thực
hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: 1) Phân tích và hệ thống hóa cơ sở lý luận
của chính sách nhà ở cho người có thu nhập thấp; 2) Tìm hiểu thực trạng nhà
ở xã hội dành cho người có thu nhập thấp ở quận Hoàng Mai, thành phố Hà
Nội; và 3) Đề xuất các kiến nghị, giải pháp để nâng cao hơn nữa hiệu quả
ngày 20/11/2013 của Chính phủ, Thông tư 08/2014/TT-BXD ngày 23/05/2014
của Bộ Xây dựng; Luật Nhà ở 2005, Luật đất đai 2013,...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài như thông
tin, tài liệu qua sách, báo, giáo trình, mạng internet, luận văn, luận án, các chủ
trương, chính sách, chiến lược của Đảng, nhà nước và chính quyền địa
phương liên quan đến đề tài.
Sử dụng phương pháp chuyên gia, phỏng vấn chuyên sâu các chuyên
gia chính sách xã hội, doanh nghiệp kinh doanh nhà, đại diện các Ban quản lý
nhà chung cư để phân tích, đánh giá từ đó phát hiện ra những vấn đề của thực
trạng nhà ở xã hội, dự báo cung - cầu, định hướng phát triển và các giải pháp
phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp tại Quận Hoàng Mai, thành phố Hà
Nội.
Sử dụng phương pháp phân tích chính sách công, cụ thể là phương
pháp phân tích kết hợp định lượng và định tính để tiếp cận, tìm hiểu một chu
6
trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính
sách.
Để thu thập thông tin toàn diện, đa chiều, luận văn cũng sử dụng
phương pháp phỏng vấn cá nhân để thu thập thông tin từ người dân trên địa
bàn thành phố Hà Nội và Quận Hoàng Mai, trong đó đối tượng tham gia
phỏng vấn được phân loại theo độ tuổi, giới tính, vị trí công tác, hoàn cảnh gia
đình và khả năng tài chính. Theo đó, phỏng vấn sâu được thực hiện với nhiều
đối tượng khác nhau trong đó có Ban quản lý tòa nhà, một số hộ dân, các nhân
viên tín dụng ngân hàng, chuyên viên các công ty bất động sản,...
Đối tượng phỏng vấn trong độ tuổi từ 18 đến 60, gồm những công chức, viên
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, ...
luận văn này được kết cấu thành ba chương. Cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tình hình thực hiện chính sách nhà ở cho
người thu nhập thấp tại thành phố Hà Nội.
Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách phát triển nhà ở xã hội cho
người có thu nhập thấp tại quận Hoàng Mai.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách nhà ở cho người thu nhập
thấp tại Hà Nội và quận Hoàng Mai.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Cơ sở lý thuyết
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Chính sách công
Chính sách công là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trên thế giới. Có
thể nêu ra một số quan niệm sau: Chính sách công bao gồm các hoạt động
thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971) [30, tr.9]; hoặc là một tập
hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm
các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để
đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978) [35, tr.9]; là toàn bộ các hoạt động
của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống
của mọi công dân (B. Guy Peter, 1990) [27, tr.9]. Chính sách công là một kết
hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết
định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước
đề ra (William N. Dunn, 1992) [36, tr.9]; bao gồm các quyết định chính trị để
thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L.
Giáo sư G. Winkler [31, tr.10], nguyên Viện trưởng Viện xã hội học và chính
sách xã hội (thuộc Cộng hoà dân chủ Đức cũ) cho rằng: “Chính sách xã hội là
tổng hoà các biện pháp và phương pháp của Đảng, của giai cấp công nhân,
của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của các liên hợp công đoàn, của các đảng
phải và các tổ chức chính trị khác, nhằm tiếp tục xây dựng quan hệ xã hội…
phục vụ cho những yêu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông
dân tập thể, tri thức và những người lao động khác”.
Còn theo quan điểm của giáo sư Anthony Giddens [26, tr.10], nhà xã
hội học My thì chính sách xã hội là “Sự nghiên cứu có hiệu quả về xã hội học,
khoa học chính trị và khoa học kinh tế, được chờ đợi nhằm biến đổi hoạch
định chính sách trong chính phủ và do đó dẫn đến tiến bộ xã hội và thịnh
10
vượng kinh tế. Mối quan hệ giữa nghiên cứu và chính sách được xem như một
công cụ, một phương tiện nhằm mục đích thực tế kiểm soát tổ chức xã hội và
biến đổi xã hội một cách có hiệu quả”.
Ở Việt Nam, khái niệm Chính sách xã hội được đề cập trong “Lý thuyết
xã hội và xã hội học hiện đại” [15, tr.11] đó là “Sự tổng hợp các phương thức,
các biện pháp của Nhà nước, của các đảng phái và tổ chức chính trị khác
nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân phù hợp với trình
độ phát triển đất nước về kinh tế, văn hoá, xã hội… Chính sách xã hội là sự cụ
thể hoá và thể chế hoá bằng pháp luật những chủ trương, đường lối của Đảng
và Nhà nước.”
Trong luận văn này, Chính sách xã hội được hiểu là sự tác động của nhà
nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc
các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khoẻ, nhà ở
và giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đẳng và công bằng xã hội trong một bối
cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội nhất định.
1.1.1.4. Nhà ở xã hội
còn lại dành cho nhà ở, văn hóa, y tế, giáo dục, giải trí. Người thu nhập thấp
là những người có mức sống thuộc nhóm trung bình trở xuống.
Người thu nhập thấp chỉ bao gồm những người có khả năng tiếp nhận
sự hỗ trợ và có giải pháp để hoàn trả dần sự ưu đãi đã được hưởng, là những
người có mức thu nhập ổn định và có khả năng tích luy vốn để cải thiện điều
kiện ở, với sự hỗ trợ của Nhà nước về vay vốn dài hạn trả góp, là người hiện
đang sống trong những ngôi nhà quá cũ nát mà không có điều kiện sửa sang
hay cải tạo lại.
Trong luận văn này, người có thu nhập thấp được hiểu là người lao
động làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp thuộc cả khu vực nhà nước và tư
nhân hoặc lao động tự do tại khu vực đô thị có thu nhập dưới mức phải đóng
thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật.
12
1.1.1.6. Đô thị hóa
Trên quan điểm một vùng, đô thị hoá là một quá trình hình thành, phát
triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị. Trong khi đó, trên quan
điểm kinh tế quốc dân, đô thị hoá là một quá trình biến đổi về sự phân bố các
yếu tố lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những
vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có
theo chiều sâu. Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm
giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một
vùng hay khu vực. Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó
theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị
hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa. Đô thị hóa là quá
trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ
dân số, chất lượng cuộc sống,...
Tóm lại, đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất
Đây là một định hướng lớn liên quan tới sự ổn định, bền vững xã hội,
môi trường, và quản lý. Phạm vi của sự bền vững không phải chỉ đối với môi
trường sinh thái, mà còn đề cập tới bền vững xã hội, đảm bảo sự cân bằng lợi
ích giữa các bên cũng như hiệu quả của chính sách quản lý phát triển nhà ở
nói chung và nhà ở xã hội nói riêng. Sự bền vững có nghĩa là sự ổn định để
phát triển trong một thời gian tương đối dài, gắn với quy hoạch tổng thể
chung của đất nước, của từng vùng và của từng địa phương. Hay nói cách
khác, chúng ta cần xác định thời gian cụ thể cho sự tồn tại của mô hình nhà ở
xã hội đề xuất, đi kèm theo đó là những nguồn lực cơ bản-cần thiết để đảm
bảo cho sự tồn tại đó.
Nghiên cứu giải pháp cân bằng lợi ích giữa các bên tham gia vào
nhà ở xã hội
Mục đích tìm hiểu những quan tâm của từng bên để đưa ra được những
chính sách, quy định triển khai hiệu quả, bởi khi lợi ích các bên cùng được
thỏa mãn, thì mới triển khai xây dựng được những mô hình nhà ở xã hội hiệu
quả và bền vững. Quan tâm của người dân là vị trí, tiện nghi – chất lượng nhà
ở, giá thành – khả năng tiếp cận sản phẩm. Trong khi đó, quan tâm của Chủ
14
đầu tư là đầu tư kinh doanh có lãi, cơ chế hỗ trợ của chính quyền như vay
vốn, quy đất, quy trình xin cấp phép xây dựng, thời gian triển khai, quản lý
vận hành, cơ chế ưu đãi trợ cấp chéo – được đầu tư vào hạng mục kinh doanh
khác,… Đối với chính quyền, yêu cầu quản lý và giám sát dễ dàng, thuận tiện;
Nghiên cứu giải pháp quy hoạch xây dựng hiệu quả
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa XI
“Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020” đã chủ trương
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung đồng bộ cơ chế, chính sách về quy hoạch, đất đai,
tài chính và khoa học công nghệ, đồng thời xây dựng cơ chế, chính sách phù
hợp và chủ động triển khai các chương trình phát triển nhà ở phục vụ các đối
tượng chính sách xã hội, người có thu nhập thấp gặp khó khăn về nhà ở tại
khu vực đô thị.
Nhà nước đã ban hành Quyết định số 67/2009/QĐ-TTg ngày 24 tháng
04 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số cơ chế, chính sách
phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp tại khu vực đô thị. Tiếp đó, Trong
chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
được thể hiện qua Quyết định số 2127/QĐ-TTg ngày 30 tháng 11 năm 2011,
Đảng đã chỉ rõ: Phát triển nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và
của người dân. Nhà nước ban hành chính sách thúc đẩy thị trường nhà ở phát
triển, đồng thời có chính sách để hỗ trợ về nhà ở cho các đối tượng chính sách
xã hội, người có thu nhập thấp và người nghèo gặp khó khăn về nhà ở nhằm
góp phần ổn định chính trị, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển đô thị, nông
thôn theo hướng văn minh, hiện đại.
Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội cũng ra Nghị quyết
06/2013/NQ-HĐND ngày 12 tháng 07 năm 2013 quy định tỷ lệ diện tích đất
ở, nhà ở để phát triển nhà ở xã hội trong các dự án phát triển nhà ở thương
mại, khu đô thị mới trên địa bàn thành phố Hà Nội. Ngay trong điều 1, Nghị
quyết đã quy định khi phê duyệt quy hoạch chi tiết các dự án phát triển nhà ở
thương mại, khu đô thị mới trên địa bàn thành phố Hà Nội có quy mô sử dụng
đất từ 10 ha trở lên phải dành 25% diện tích đất ở hoặc 25% diện tích nhà ở để
phát triển nhà ở xã hội.
16
Ngày 25 tháng 01 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 03/CTTTg về việc đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội nhằm hoàn thành cơ bản các