VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ KHẮC TRUNG
BẤT KHẢ KHÁNG THEO PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
XÂY DỰNG Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI NGỌC CƯỜNG
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật- Học viện Khoa học xã hội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ THỰC TIỄN TỪ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Thực trạng pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng
30
2.2. Thực tiễn áp dụng các trường hợp Bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng tại 46
thành phố Hà Nội
2.3. Một số nhận xét đánh giá về việc áp dụng các trường hợp bất khả kháng trong 55
hợp đồng xây dựng từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẤT 59
KHẢ KHÁNG TRONG HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây
59
dựng
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật
59
3.3. GIải pháp hoàn thiện các quy định cụ thể
64
KẾT LUẬN
67
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
địa bàn thành phố còn gặp nhiều khó khăn.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nói chung, hợp đồng trong xây
dựng nói riêng, nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng, hệ
thống pháp luật các quốc gia và quốc tế đều có quy định các hình thức chế tài
trong thực hiện hợp đồng xây dựng, mỗi hình thức chế tài mang lại những hậu
quả pháp lý khác nhau đối với các bên tham gia hợp đồng. Một trong những
chế tài được pháp luật Việt Nam đề cập đến trường hợp trách nhiệm của các
bên tham gia hợp đồng xây dụng khi có bất khả kháng xảy ra.
Nhận thấy tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện bất khả kháng
đối với đối với cả nước nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng, học viên
chọn đề tài “Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng xây dựng ở Việt
Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về xây dựng, thực hiện hợp đồng xây dựng là vấn đề xoay
quanh quá trình hình thành và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nên việc
nghiên cứu vấn đề này vừa có ý nghĩa thiết thực lại mang tính thời sự. Trong
những năm qua việc nghiên cứu, tổng kết vấn đề pháp luật về xây dựng và
hợp đồng xây dựng đã có một số tác giả tiên hành . Có thể kể đến một số công
trình có giá trị như:
- Tác giả Nguyễn Ngọc Khánh với cuốn sách “Chế định hợp đồng
trong Bộ luật dân sự Việt Nam”, Nxb Tư pháp, năm 2007;
- Tác giả Ngô Huy Cương với cuốn sách “Giáo trình luật hợp đồng
Việt Nam - Phần chung” Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013;
- Tác giả Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy với cuốn sách “Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện
nay”, Nxb Công an nhân dân, năm 2003.
2
3
- Chỉ ra những đặc điểm và thực tiễn về bất khả kháng trong hợp đồng
xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Đưa ra quan điểm, đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hoàn
thiện các quy định của pháp luật về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng xây dựng
ở Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu là Bất khả
kháng theo pháp luật về hợp đồng xây dựng
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng bất khả
kháng và thực tiễn về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng tại thành phố
Hà Nội
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; dựa trên đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các tư tưởng, quan điểm về
luật học tiến bộ và hiện đại trên thế giới.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hệ thống, phân tích và
tổng hợp, phương pháp khái quát hoá, phương pháp thống kê, so sánh, mô
tả… Trong đó, sử dụng nhiều là phương pháp phân tích và tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận và
thực trạng về vấn đề bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng nói chung và
thực tiễn về bất khả kháng trong hợp đồng xây dựng trên địa bàn thành phố
Hà Nội nói riêng, từ đó hoàn thiện hơn cách thức tiếp cận vấn đề này, đồng
hệ, để qua đó chuyển giao cho nhau những lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt, tiêu dùng, trao đổi tài sản hay những việc có tính chất kinh
doanh, đóng vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi đời sống xã hội.
Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên được
hình thành mà do con người trao đổi với nhau để đạt những thỏa thuận nhất
định, cùng nhau tiến hành những công việc chung. Chính vì vậy, hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia một quan hệ nhất định.
Trên cơ sở định nghĩa này, ta thấy rằng trước hết hợp đồng là một hành
vi pháp lý, hơn thế nữa nó là một hành vi pháp lý đặc biệt thể hiện sự thỏa
thuận giữa các bên.
Hợp đồng là một hành vi pháp lý: Hành vi pháp lý là sự thể hiện ý chí
làm phát sinh các hệ quả pháp lý. Mục đích của hợp đồng chính là nhu cầu,
mục đích của các bên. Mỗi bên đều theo đuổi những mục đích riêng của
mình. Hợp đồng chính là kết quả của sự dung hòa các lợi ích đối lập nhau.
Hành vi pháp lý là một hành vi có ý trí của con người làm phát sinh các
hệ quả pháp lý. Hợp đồng là một loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng
nhất và được thực hiện trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội. Hành vi pháp lý
6
đơn phương thể hiện ý trí của một người làm phát sinh hệ quả pháp lý, chẳng
hạn như hành vi từ chối nhận thừa kế, hành vi lập di chúc, hành vi thừa nhận
con ngoài giá thú… ở đây cần phân biệt hành vi pháp lý đơn phương với hợp
đồng đơn vụ. Hợp đồng đơn vụ là sự thống nhất ý trí giữa hai hay nhiều người
nhưng chỉ làm phát sinh nghĩa vụ đối với một người trong số họ. Mặc dù,
trước đây có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng ngày nay người ta đều thống
nhất thừa nhận hành vi pháp lý đơn phương là một nguồn làm phát sinh nghĩa
vụ, có một lưu ý là hành vi pháp lý đơn phương không làm phát sinh nghĩa vụ
đối với người khác. Mặt khác, cho dù là đơn phương, người đã đưa ra cam kết
thực hiện với nhau các quyền và nghĩa vụ
Khái niệm về hợp đồng xây dựng
Khái niệm về hợp đồng xây dựng cần phải được xem xét ở nhiều
phương diện khác nhau. Theo phương diện khách quan, thì hợp đồng xây
dựng là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi
ích vật chất giữa các chủ thể với nhau.
Theo phương diện chủ quan, hợp đồng xây dựng là một giao dịch trong
lĩnh vực xây dựng mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến
những thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất
định. Theo phương diện này thì hợp đồng xây dựng vừa được đề cập ở dạng
cụ thể, vừa được xem xét ở dạng khái quát
Theo quy định tại điều 138- Luật xây dựng năm 2014: “Hợp đồng xây
dựng là hợp đồng dân sự được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và
bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động
đầu tư xây dựng” Định nghĩa trên cũng được ghi nhận lại trong khoản 1 Điều
8
2 Nghị định số: 37/2015/NĐ-CP Nghị định của Chính phủ ban hành ngày
18/06/2015 Quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng
Hợp đồng trong họat động xây dựng được xác lập cho các công việc lập
quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây
dựng, thiết kế công trình, giám sát, thi công xây dựng công trình, quản lý dự
án xây dựng công trình và các công việc khác trong họat động xây dựng.
Hợp đồng xây dựng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu
và bên nhận thầu để thực hiện một số công việc hay toàn bộ công việc trong
hoạt động xây dựng.
* Đ c đi m của hợp đồng xây dựng
đích kinh doanh.
Nội dung hợp đồng và thực hiện hợp đồng xây dựng gắn liền với quá
trình lựa chọn nhà thầu. Hợp đồng xây dựng cũng chính là sản phẩm của quá
trình lựa chọn nhà thầu, gần như toàn bộ các tài liệu của hợp đồng và những
thương thảo để hình thành hợp đồng xây dựng đều không đươc trái với hồ sơ
mời thầu và dự thầu.
Hợp đồng xây dựng có những đặc điểm khá giống với hợp đồng dịch
vụ. Phạm vi thực hiện hợp đồng xây dựng liên quan tới các vấn đề thuộc
phạm vi điều chỉnh của nhiều văn bản trong các lĩnh vực khác nhau (lao động,
thương mại, thuế, môi trường, ngân hàng, bảo hiểm….).
Sự phức tạp của hợp đồng trong việc xác định chính xác quy mô của
đối tượng (khối lượng, phạm vi công việc), khó khăn trong việc đánh giá tính
chất của đối tượng (đơn giản, phức tạp), khó khăn trong việc áp dụng loại giá
hợp đồng theo quy mô, tính chất của đối tượng.
10
1.1.2. Phân loại hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng
Tuỳ theo quy mô, tính chất, điều kiện thực hiện của dự án đầu tư xây
dựng công trình, loại công việc, các mối quan hệ của các bên, hợp đồng trong
hoạt động xây dựng có thể có nhiều loại với nội dung khác nhau.
+ Hợp đồng tư vấn xây dựng: Là hợp đồng để thực hiện một, một số
hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động xây dựng như: Lập quy hoạch
xây dựng; lập dự án đầu tư xây dựng công trình; khảo sát xây dựng; thiết kế
xây dựng công trình; lựa chọn nhà thầu; giám sát thi công xây dựng công
trình; quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; thẩm tra thiết kế, tổng dự
toán, dự toán và các hoạt động tư vấn khác có liên quan đến xây dựng công
trình. Hợp đồng tư vấn thực hiện toàn bộ công việc thiết kế xây dựng công
trình của dự án là hợp đồng tổng thầu thiết kế.
kháng cự nổi”. Sự kiện này xẩy ra chỉ sau khi ký hợp đồng, không phải do lỗi
của bất kỳ bên tham gia hợp đồng nào, mà xẩy ra ngoài ý muốn và các bên
không thể dự đoán trước, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn
đến không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ,
bên chịu sự cố này có thể được miễn trừ trách nhiệm của hợp đồng hoặc kéo
dài thời gian thực hiện hợp đồng.
Sự kiện bất khả kháng có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra
(thiên tai) như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần… hoặc cũng có thể
là những hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công,
cấm vận, thay đổi chính sách của chính phủ…
Trong Bộ luật dân sự năm 2015, chưa có một quy định cụ thể, riêng rẽ
thế nào là sự kiện bất khả kháng, những trường hợp nào được coi là bất khả
kháng, hậu quả cũng như các nội dung liên quan.
12
Theo khoản 1 điều 156- Bộ luật dân sự năm 2015: “Sự kiện bất khả
kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và
không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả
năng cho phép”.
Nhìn chung, sự kiện bất khả kháng còn được quy định rất chung chung,
thậm chí là khó hiểu cũng như không bao quát được các trường hợp trong
thực tế trong Bộ luật dân sự năm 2015. Điều này đã dẫn tới những tranh chấp
khi ký kết hợp đồng nếu có sự kiện bất khả kháng xảy ra và đặc biệt là các
đường lối xét xử khác nhau của Tòa án với cùng một sự kiện bất khả kháng;
* Đặc điểm
Bất khả kháng, trước hết phải là một sự kiện khách quan xảy ra ngoài ý
chí của các bên và vượt ra khỏi tầm kiểm soát của các bên. Theo các quy định
pháp lí nói trên, trở ngại khách quan vượt khỏi tầm kiểm soát của các bên chỉ
trở thành sự kiện bất khả kháng, khi chứa đựng đầy đủ các yếu tố sau:
nhiệm chấm dứt bên vi phạm phải thông báo ngay cho bên kia biết, nếu bên vi
phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi
thường thiệt hại. Có thể nói rằng việc quy định về nghĩa vụ thông báo của bên
vi phạm hợp đồng là hoàn toàn hợp lí, vì lẽ nếu bên vi phạm nghĩa vụ đã biết
hoặc phải biết về những trở ngại khách quan ảnh hưởng đến việc thực hiện
nghĩa vụ của mình mà không thông báo cho bên có quyền biết, điều đó có
nghĩa là bên vi phạm nghĩa vụ đã không quan tâm đến những trở ngại đó, và
không coi đó là sự kiện bất khả kháng. Chính vì vậy, trong trường hợp này,
những trở ngại khách quan không được coi là sự kiện bất khả kháng, không là
căn cứ loại trừ trách nhiệm cho bên vi phạm nghĩa vụ là hoàn toàn xác đáng.
Hơn nữa trong trường hợp này còn cho phép chúng ta suy luận rằng việc bên
vi phạm nghĩa vụ không thông báo cũng đồng nghĩa họ có khả năng thực hiện
hợp đồng.
14
1.2.2. Phân loại bất khả kháng theo pháp luật hợp đồng
Khác với Bộ luật dân sự năm 2015, Luật thương mại năm 2005 đã quy
định rõ hơn về Sự kiện bất khả kháng ở các điều
Điều 294: Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm;
Điều 295: Thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm;
Điều 296: Kéo dài thời hạn, từ chối thực hiện hợp đồng trong trường
hợp bất khả kháng.
Với các quy định này, Luật thương mại năm 2005 đã phần nào theo kịp
các quy định trên thế giới. Theo đó, khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra, bên
vi phạm hợp đồng phải có sự thông báo ngay cho bên kia về trường hợp miễn
trách nhiệm trong một khoảng thời gian thích hợp, nếu không thì vẫn phải
chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, ở đây, sự kiện bất khả kháng không còn
được coi là trường hợp được miễn trừ trách nhiệm bồi thường do vi phạm hợp
dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động
đất, sóng thần và các loại thiên tai khác”
Việc coi các hiện tượng thiên tai có thể là sự kiện bất khả kháng được
áp dụng khá thống nhất trong luật pháp và thực tiễn của nhiều nước trên thế
giới. Bởi vì, vào thời điểm ký hợp đồng xây dựng hai bên không thể dự liệu
trước rằng thiên tai sẽ xảy ra trong tương lai và hậu quả mà thiên tai gây ra là
không thể tránh được.
* Sự cố môi trường
Theo điều 3- Luật bảo vệ môi trường: “Sự cố môi trường là sự cố xảy
ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô
nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng”
Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
16
Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa
phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ
sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã
hội, an ninh, quốc phòng;
Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản,
dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm
tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;
Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy
sản xuất, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ.
Cũng giống như thiên tai vào thời điểm ký hợp đồng xây dựng hai bên
không thể dự liệu trước rằng sự cố môi trường sẽ biến đổi như thế nào trong
tương lai và hậu quả mà thiên gây ra là không thể tránh được. Dưới sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách
có thể nghiên cứu có thể được một phần nào đó những biến đổi của môi
luật Việt Nam, nhà lập pháp chấp nhận một cách rất dè dặt trường hợp bất khả
kháng.
1.2.4. Bất khả kháng theo pháp luật về hợp đồng trên thể giới
Hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới và các văn bản pháp lí
quốc tế đều thừa nhận bất khả kháng là một trong những trường hợp loại trừ
trách nhiệm hợp đồng. Mặc dù nội hàm của khái niệm bất khả kháng ở các hệ
thống pháp luật có sự khác nhau nhất định. Ở đây, chỉ nhắc đến 2 tài liệu pháp
luật thương mại quốc tế phổ biến.
18
1.2.4.1. Công ước Viên năm 1980
Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau
đây gọi là Công ước Viên) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về
Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống
nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Theo quy định tại khoản 1 điều 79- Công ước Viên 1980 thì: “Một bên
không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó
của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại
nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý
rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được
hay khắc phục các hậu qủa của nó”.
Công ước Viên năm 1980 quy định chặt chẽ các tiêu chí để một trường
hợp bất khả kháng được công nhận miễn trách. Chỉ những trở ngại nào thực
sự đến mức khiến cho việc thực hiện các nghĩa vụ là không thể (impossibile)
mới được xem xét, còn những trường hợp tuy có gây hoặc đe doạ gây khó
khăn trở ngại đến việc thực hiện nghĩa vụ hoặc chỉ dừng ở mức không khả thi
(impracticable) thường có thể sẽ không được xem xét. Công ước Viên năm
1980 quy định miễn trách cho cả người bán và người mua, đề cập đến tất cả
vắng điều khoản quan trọng này.
Công ước Viên và luật Việt Nam đều có quy định rõ ràng về các trường
bất khả kháng Điều khoản 1 điều 79 công ước Viên và Điều 294, 296 luật
Thương Mại Việt Nam năm 2005. Khi so sánh các điều khoản trên, Công ước
Viên 1980 có quy định rộng và đầy đủ hơn so với luật Việt Nam. Điều 79
khoản 1 Công ước Viên quy định bên vi phạm được miễn trách nếu chứng
minh được tằng trở ngại đó nằm ngoài tầm kiểm soát, không thể lường trước,
không thể tránh khỏi và không thể khắc phục được hậu quả. Đây là một quy
định khá chung chung và bao quát cho các trường hợp có liên quan đến bất
20
khả kháng. Ngược lại, Điều 294 luật Thương Mại Việt Nam 2005 liệt kê khá
chi tiết 4 trường hợp miễn trách, thiếu tính khái quát và có thể gây khó khăn
khi áp dụng trong thực tế. Về vấn đề thông báo và xác nhận trong trường hợp
miễn trách, Công ước Viên 1980 và luật Thương Mại Việt Nam 2005 đều bắt
buộc bên vi phạm phải thông báo cho bên kia về trường hợp miễn trách. Tuy
nhiên, Điều 295 Luật Thương Mại Việt Nam 2005 bắt buộc việc thông báo
này phải bằng văn bản trong khi Công ước Viên 1980 không quy định gì về
hình thức của thông báo;
1.2.4.2. Bộ nguyên tắc UNIDROIT năm 2004
Theo quy định tại điều 7.1.7 Bộ nguyên tắc UNIDROIT năm 2004
(Trường hợp bất khả kháng):
“ 1. Bên có nghĩa vụ được miễn trừ hậu quả do việc không thực hiện
của bên mình, nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện là do một trở
ngại vượt khỏi tầm kiểm soát của mình, và không thể mong chờ một cách hợp
lý ở mình xem xét được những trở ngại này vào thời điểm ký kết hợp đồng,
dự đoán hay vượt qua được trở ngại hoặc dự đoán được hay vượt qua được
hậu quả của trở ngại đó.
2. Khi trở ngại chỉ có ý nghĩa tạm thời, sự miễn trừ có hiệu lực trong
thẩm quyền mà còn có thể được áp dụng bởi cơ quan tài phán phi chính phủ
như cơ quan trọng tài của một quốc gia hay cơ quan trọng tài quốc tế. Đặc
biệt, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chịu sự chi phối của các hệ
thống pháp luật khác nhau nên khi các cơ quan này áp dụng các chế tài vi
phạm cần phải căn cứ vào sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng hoặc
nếu hợp đồng không quy định thì phải căn cứ vào các quy định của luật áp
dụng.
22