VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ ÁNH NGỌC
TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ EM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM MINH TUYÊN
HÀ NỘI, 2017
MỤC LỤC
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI GIAO CẤU
VỚI TRẺ EM....................................................................................................................... 6
1.1. Lý luận về tội giao cấu với trẻ em............................................................................ 6
Việt Nam ........................................................................................................................... 12
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội giao cấu với trẻ em .................... 14
1.3. Tội giao cấu với trẻ em trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới…….38
Chương 2:THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI .................................................................................................................... 44
ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, trong đó xác định: “Xây
dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án chăm sóc, giáo dục và
bảo vệ trẻ em... Tổ chức thực hiện tốt Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em và
các công ước, điều ước quốc tế khác có liên quan mà Nhà nước Việt Nam ký kết
hoặc tham gia...”. Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật, tạo cơ
sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ trẻ em khỏi những hành vi xâm hại đến sự phát
triển của các em.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, khi Việt Nam thực hiện chính sách mở
cửa, hội nhập, trên phạm vi toàn quốc, các tội phạm xâm hại trẻ em ở nước ta diễn
biến rất phức tạp và luôn có chiều hướng gia tăng trong đó có tội giao cấu với trẻ em.
Điều này đã gây bức xúc, nhức nhối trong dư luận và để lại nhiều hậu quả đặc biệt
nghiêm trọng. Mặc dù vậy, thực tiễn đấu tranh phòng chống đối với tội phạm giao
cấu với trẻ em trên địa bàn toàn quốc nói chung cũng như trên địa bàn thành phố Hà
Nội nói riêng còn chưa đáp ứng được yêu cầu, tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Qua
tổng kết 14 năm thi hành Bộ luật Hình sự cho thấy những hạn chế, vướng mắc này
xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó có bất cập trong quy định của Bộ luật Hình
sự. Thực tế chỉ ra rằng, một số dấu hiệu cấu thành của tội giao cấu với trẻ em, cũng
như các tình tiết định khung tăng nặng so với thực tiễn hành vi phạm tội này còn chưa
1
phù hợp, điều đó dẫn đến việc xử lý tội phạm này chưa thực sự hiệu quả và chưa đáp
ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng, chống tội phạm.
Do đó, đặt ra một yêu cầu cần phải nghiên cứu về tình hình loại tội phạm này
trên địa bàn thành phố Hà Nội để có những đề xuất kiến nghị hoàn thiện các quy định
của Bộ luật Hình sự về tội phạm này, đặc biệt trong bối cảnh Bộ luật Hình sự năm
2015 vừa được thông qua còn cần nhiều góp ý hoàn thiện. Từ những phân tích trên,
người nghiên cứu đã lựa chọn “Tội giao cấu với trẻ em theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là đề tài luận văn của mình.
2
+ Nguyễn Minh Hương (2014), Các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong
luật Hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
Ngoài ra còn có một số bài báo, bài viết đăng trên Tạp chí Tòa án của Tòa án
nhân dân Tối cao, Tạp chí Kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, cũng như
một số bài tham luận trong các diễn đàn khoa học trình bày về nhóm tội xâm phạm
tình dục trẻ em, các bài viết đăng trên Tạp chí Luật học của trường Đại học Luật Hà
Nội, tạp chí Nghề Luật của Học viện Tư pháp…
Rõ ràng, xâm phạm tình dục trẻ em là một vấn đề rất được quan tâm, bằng
chứng là có nhiều các công trình nghiên cứu tổng quát cũng như chi tiết các nội
dung liên quan. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về tội giao cấu với trẻ em từ
chính hoạt động thực tiễn địa phương tổng kết đánh giá tình hình thực tiễn áp dụng
và chỉ ra những tồn tại, vướng mắc trong thực tế; đặc biệt từ sau khi BLHS năm
2015 được thông qua, những điểm mới về tội phạm này so với BLHS năm 1999 vẫn
chưa được phân tích làm rõ. Chính những vấn đề này dẫn đến sự khó khăn khi
nghiên cứu cũng như áp dụng pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-
Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm làm rõ tội giao cấu với trẻ em trong BLHS
cũng như thực tiễn áp dụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Trên cơ sở đó,
tác giả đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm này.
-
được dùng trong luận văn là các số liệu thống kê được thu thập tại Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội giai đoạn 2012- 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
-
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng.
-
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng
hợp, phương pháp chứng minh, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp... để
giải quyết những nhiệm vụ đặt ra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu Tội giao cấu với trẻ em, tuy không phải là một vấn đề mới,
nhưng đặt trong bối cảnh hiện nay, khi Hiến pháp 2013 đã đi vào đời sống, BLHS
năm 2015 đã được Quốc hội thông qua, thì vấn đề này cần được nghiên cứu một
cách chi tiết, cụ thể. Luận văn được thực hiện, với mong muốn của tác giả, sẽ:
- Phân tích và bàn luận những quy định của pháp luật hiện hành về tội giao
cấu với trẻ em, những quan điểm còn chưa thống nhất nội dung các quy định này.
4
- Là luận văn đầu tiên nghiên cứu về tội giao cấu với trẻ em trẻ em trong
BLHS năm 2015.
Về thực tiễn, tác giả hi vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho việc
xây dựng và áp dụng pháp luật, cho việc đào tạo và nghiên cứu...
trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển
của xã hội. Con người tạo ra lịch sử và trẻ em là con đẻ của thời đại, của xã hội.
Trong mọi thời đại, tương lai của một quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc
chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.Từ góc độ xã hội học, trẻ em được xác định là
người có vị thế và vai trò xã hội khác với người lớn vì trẻ em là giai đoạn con người
đang học cách tiếp nhận những chuẩn mực xã hội và đóng vai trò xã hội của mình
[42, tr.556]. Dưới góc độ tâm lý học, khái niệm trẻ em được dùng để chỉ giai đoạn
đầu của sự phát triển tâm lý – nhân cách con người [4, tr.367]. Từ góc độ sinh học,
trẻ em là con người ở giai đoạn phát triển, từ khi còn trong trứng nước đến tuổi
trưởng thành [38, tr.61].
Còn dưới góc độ pháp lý, trẻ em được xác định theo “độ tuổi”, theo đó một
cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào năm sinh của người
đó tại thời điểm xác định. Trong pháp luật quốc tế, độ tuổi trẻ em được quy định cụ
thể và tương đối thống nhất. Theo Điều 1 của Công ước quốc tế về Quyền trẻ em
năm 1989 “Trẻ em là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với
6
trẻ em có độ tuổi thành niên sớm hơn” hay tại Điều 2 Công ước số 182 của Tổ chức
Lao động quốc tế ban hành năm 1999 cũng quy định“Trong Công ước này, thuật
ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi”. Như vậy, có thể hiểu
rằng mọi người ở độ tuổi từ khi mới sinh ra cho đến khi đủ 18 tuổi thì đều được coi
là ở độ tuổi trẻ em, tuy nhiên quy định về độ tuổi của “trẻ em” theo công ước này là
quy định mở, theo đó việc áp dụng độ tuổi trẻ em của mỗi quốc gia có thể khác
nhau, tùy thuộc vào nội luật của mỗi nước quy định độ tuổi thành niên sớm hơn.
Tại Việt Nam, pháp luật quy định về độ tuổi trẻ em chính thức được đề cập
tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016, theo đó“Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Như vậy
trong pháp luật chuyên ngành, Việt Nam thừa nhận độ tuổi trẻ em được xã hội, pháp
luật bảo vệ chăm sóc là những công dân dưới 16 tuổi. Tại dự thảo khi xây dựng
Luật trẻ em năm 2016 đều quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 18 tuổi. Quy định
tuổi thì bị phạt từ từ bảy năm đến mười lăm năm” (khoản 1 Điều 112 BLHS năm
1999) và “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm
trẻ em...” (khoản 4 Điều 112 BLHS năm 1999); Tội cưỡng dâm trẻ em quy định
“Người nào cưỡng dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi dến 16 tuổi thì bị phạt tù từ bảy năm
đến mười năm” (khoản 1 Điều 114 BLHS năm 1999); Tội giao cấu với trẻ em quy
định “Người nào đã thành niên mà giao cấu với trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16
tuổi thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm” (khoản 1 Điều 115 BLHS năm 1999).
Căn cứ các quy định trên, có thể hiểu luật hình sự quy định: Trẻ em là bao gồm tất
cả những người dưới 16 tuổi, và ở từng điều luật cụ thể thì nhà làm luật quy định
mốc độ tuổi là dưới 13 tuổi hay từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và đều dùng chung
thuật ngữ là trẻ em.
Bên cạnh khái niệm trẻ em, pháp luật Việt Nam còn sử dụng khái niệm
“Người chưa thành niên”. Điều 18 Bộ luật dân sự 2005 nêu định nghĩa về người
chưa thành niên: “Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên”. Theo
đó, Bộ luật Dân sự cũng quy định năng lực hành vi dân sự của người chưa thành
niên từ đủ 16 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi [35, Điều 20] và người chưa đủ mười sáu
tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự [35, Điều 21]. Bộ luật hình sự trên
cơ sở cách hiểu đồng nhất với quan điểm của Bộ luật Dân sự, tuy không đưa ra khái
niệm thế nào là người chưa thành niên, nhưng quy định về trách nhiệm đối với
người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm
rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; từ đủ mười sáu tuổi
8
trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm [33, Điều 12]. Như vậy trong pháp luật
Việt Nam, để xác định một người là trẻ em hay là người chưa thành niên đều dựa
vào độ tuổi được xác định của người đó, theo đó độ tuổi của người chưa thành niên
là dưới 18 tuổi, còn trẻ em là dưới 16 tuổi. Có thể thấy, khái niệm trẻ em và khái
niệm người chưa thành niên có sự giao thoa, trong đó khái niệm “người chưa thành
niên” rộng hơn khái niệm “trẻ em”.
quy định trong một văn bản pháp luật duy nhất đó là Bản tổng kết và hướng dẫn
đường lối xét xử tội hiếp dâm và một số tội khác về mặt tình dục số 329-HS2 ngày
15/5/1967 của Tòa án nhân dân tối cao như sau: “Giao cấu là sự cọ sát trực tiếp
dương vật vào bộ phận sinh dục của người phụ nữ (bộ phận từ môi lớn trở vào) với
ý thức ấn vào trong không kể sự xâm nhập của dương vật là sâu hay cạn, không kể
có xuất tinh hay không…”.
Thông qua các định nghĩa trên về giao cấu cho thấy các quan điểm đều thống
nhất cho rằng giao cấu là sự cọ sát trực tiếp giữa dương vật và bộ phận sinh dục nữ
hoặc đưa dương vật nam vào bộ phận sinh dục người phụ nữ (quan hệ tình dục thâm
nhập) mà không thừa nhận các hành vi quan hệ tình dục khác (quan hệ tình dục
không thâm nhập). Tức là gián tiếp thừa nhận hành vi giao cấu chỉ xảy ra giữa hai
người khác giới. Tuy nhiên, với cách hiểu như trên là không còn phù hợp với khái
niệm giao cấu thông thường, thực tiễn cũng như xu hướng lập pháp của các nước
trên thế giới hiện nay. Trong việc quan hệ tình dục nhằm thỏa mãn khoái cảm của
bản thân, con người không chỉ đơn thuần sử dụng một hành vi duy nhất là đưa
dương vật vào âm hộ. Trong cuốn “Tình dục học đại cương” của bác sỹ Đào Xuân
Dũng có đề cập đến khái niệm tình dục như sau: “Tình dục là hành vi để tìm kiếm
khoái cảm hoặc để sinh sản, có nội hàm rộng, không chỉ có nghĩa là giao hợp giữa
người nam và người nữ mà còn bao gồm cả nhiều hành vi khác nhằm đem lại khoái
cảm bằng tay hay bằng miệng, ở vùng cơ quan sinh dục hay ở những bộ phận khác
của cơ thể. Cũng vẫn là tình dục khi thực hành tìm kiếm khoái cảm với bạn tình
khác giới hay cùng giới, với một hay nhiều hơn một người, tự mình gây ra khoái
cảm hay gây khoái cảm cho nhau, mơ tưởng đến chuyện tình dục hay sử dụng dụng
cụ chuyên dụng” [3, tr.35]. Có thể thấy hành vi tình dục ở con người là rất rộng,
ngoài hành vi đưa dương vật vào âm hộ, họ còn có thể đưa dương vật vào nhiều bộ
phận khác trên cơ thể như miệng, hậu môn,… của bạn tình nhằm thỏa mãn khoái
cảm; không những sử dụng dương vật, người tham gia quan hệ tình dục còn có thể
10
11
Thứ hai, tính có lỗi – theo đó, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là
tội phạm nếu chủ thể có lỗi khi thực hiện hành vi đó. Lỗi được xác định là kết quả
của sự tự lựa chọn của người phạm tội trong điều kiện khách quan và chủ quan để
thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
Thứ ba, tính được quy định trong BLHS: có một số quan điểm cho rằng đặc
điểm này nên là “tính trái pháp luật hình sự” vì “có trường hợp được phép thực
hiện hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự và khi đó hành vi đã thực hiện
không phải là tội phạm” [18, tr.23]. Tuy nhiên, theo quan điểm của người nghiên
cứu, tính được quy định trong BLHS bao quát hơn cho mọi trường hợp, đồng thời
có thể hiểu hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong BLHS
là tội phạm là cách định nghĩa hợp lí, phù hợp với cách xây dựng của BLHS.
Từ phân tích khái niệm giao cấu với trẻ em và tội phạm, có thể hiểu:
Tội giao cấu với trẻ em là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người đã thành
niên, có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện việc giao cấu thuận tình với người
từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, gây tổn hại hoặc đe dọa danh dự, nhân phẩm, quyền
được phát triển bình thường về tình dục của trẻ em.
1.1.3. Sự cần thiết quy định tội giao cấu với trẻ em trong Luật hình sự
Việt Nam
Trên cơ sở phân tích khái niệm trẻ em ở phần 1.1.1, có thể khẳng định trẻ em
là chủ thể đặc biệt trong các chủ thể của quyền con người. Pháp luật Việt Nam luôn
tôn trọng, đề cao và bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền trẻ em. Tại Đại hội
Đảng lần thứ IX, lần đầu tiên từ “Quyền trẻ em” được dùng trong các văn kiện của
Đảng. Từ đó, quyền trẻ em với tư cách là quyền con người được thảo luận công
khai và rộng rãi ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng các quyền của trẻ
em, quy định cụ thể các quyền của trẻ em trong hệ thống chủ trương, chính sách và
pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã
hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm
lý, nên khi trẻ bị xâm hại tình dục sẽ dẫn đến những hậu quả rất nặng nề, nó không
chỉ gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe mà còn tác động tiêu
cực đến tâm lý và sự phát triển bình thường của trẻ. Một nghiên cứu cho thấy hậu
quả lớn nhất khi trẻ bị XHTD là trẻ tổn thương về tinh thần và ảnh hưởng đến tương
lai (84,3%). Trẻ dễ bị mặc cảm, phát triển không bình thường (65,7%). Trẻ khó hòa
nhập với xã hội (55,7%). Tổn thương về sức khỏe thể chất chiếm (69,1%). Gây ra
13
những tổn thương nặng nề tại bộ phận sinh dục: bị nhiễm trùng đường tiết niệu,
chảy máu kéo dài ở bộ phận sinh dục hoặc các tổn thương thể chất khác. Trẻ em có
thể bị nhiễm các bệnh xã hội, bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS
[52].Với các em nữ việc bị XHTD có thể khiến các em mang thai ngoài ý muốn gây
nguy hiểm cho bản thân và thai nhi (vì cơ thể các em chưa phát triển hoàn chỉnh)
hoặc gây ra nhiều nguyên nhân dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
sinh sản và hạnh phúc gia đình của các em về sau. Vì vậy, trẻ em là đối tượng đặc
biệt cần được toàn xã hội bảo vệ.
BLHS năm 1985 đã tội phạm hóa các hành vi xâm hại tình dục trẻ em, trong
đó có hành vi giao cấu với trẻ em thành Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi quy
định tại Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phâm, danh dự của
cong người. Đến lần pháp điển hóa thứ hai, BLHS năm 1999 đã thay đổi tên tội
danh thành Tội giao cấu với trẻ em. Việc quy định tội phạm này trong BLHS là hết
sức quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác phòng, chống, bảo vệ trẻ em khỏi
nạn xâm hại tình dục trẻ em.
1.2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội giao cấu với trẻ em
Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam cũng như trên thế giới, tội giao cấu với
trẻ em là loại tội được quy định từ rất sớm. Tuy nhiên tại mỗi thời kỳ các quy định
cụ thể về loại tội này là khác nhau.
1.2.1. Giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước pháp
điển hóa lần thứ nhất – Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985
cùng những sắc lệnh sửa đổi sắc lệnh ấy vẫn thi hành ở Nam bộ.”
Tinh thần của điều luật trên còn được nhắc lại trong Sắc lệnh số 51/SL ngày
17/4/1946 với nội dung: “Những luật lệ hiện hành vẫn giữ nguyên như cũ, trừ
những điều khoản trái với sắc lệnh này cùng trái với chủ quyền và chính thẻ dân
chủ cộng hòa của nước Việt Nam”.
Trẻ em là đối tượng cần được đặc biệt quan tâm bảo vệ. Xuất phát từ quan
điểm bảo vệ trẻ em đồng nghĩa với việc bảo vệ thế hệ mai sau của đất nước, quốc
gia, dân tộc, là bảo vệ lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của
cha ông, là bảo vệ những người không có khả năng hoặc hạn chế khả năng tự vệ,
khi hành vi phạm tội tác động đến trẻ em là tác động đến đối tượng yếu thế cần
được bảo vệ. Chính vì thế, lịch sử Việt Nam qua các triều đại phong kiến từ xưa ít
15
nhiều cũng đã quan tâm đến việc bảo vệ trẻ em trước tội xâm phạm tình dục và
cũng đã có những hình phạt trừng trị nghiêm khắc kẻ phạm tội.
Trước hết phải kể đến Bộ luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc triều hình luật
(biên soạn từ thời Lê Thái Tổ đến Lê Thành Tông, thế kỷ XV), bộ luật này đã có
những quy định bảo vệ trẻ em khỏi sự xâm hại tình dục. Điều 404 trong chương
“Thông gian” quy định: “Gian dâm với con gái nhỏ từ 12 tuổi trở xuống, dù người
con gái có thuận tình cũng xử như tội hiếp dâm”. Như vậy, đối tượng được pháp
luật bảo vệ trong điều luật này là người con gái dưới 12 tuổi, dù người con gái đó có
thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm vì ở tuổi này con gái vẫn chưa trưởng thành,
dễ bị lừa gạt, khống chế. Bộ luật Hồng Đức do đó đã quy định tuổi được phép quan
hệ tình dục với người nữ là trên 12 tuổi.
Đến năm 1815, Bộ Hoàng triều luật lệ được ban hành, còn được gọi là Luật
Gia Long. Bộ luật Gia Long gồm 398, với 22 quyển, trong đó có một số chế định
trong việc trừng trị nghiêm khắc đối với hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Điều 330
quy định: “Cưỡng gian bé gái dưới 10 tuổi thì bị chém ngay còn cưỡng gian bé gái
Trong khi chờ pháp luật có quy định đầy đủ và toàn diện hơn thì bản tổng kết
có ý nghĩa rất lớn, vì đã tổng kết kinh nghiệm những năm qua, rút ra và chỉ thêm
một số điểm để hướng dẫn công tác xét xử một số loại tội phạm về mặt tình dục
được tốt hơn, đồng thời là cơ sở để pháp điển hóa trong BLHS năm 1985 về loại tội
danh này. Bản tổng kết 329/HS2 ngày 11/5/1976 này đã được sử dụng cho đến khi
BLHS năm 1985 ra đời và có hiệu lực.
1.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội giao cấu với trẻ em
Trước tình hình đổi mới của đất nước, với những chuyển biến về mặt kinh tế
- xã hội, để đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, tất yếu đòi hỏi Nhà
nước phải ban hành hệ thống pháp luật mới trong đó có pháp luật hình sự.
Ngày 27/6/1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa VII đã thông qua BLHS, có hiệu lực từ 1/1/1986. Đây là một bước
tiến quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta. Bộ luật đã kế thừa và phát
triển những thành tựu của Luật hình sự Việt Nam đặc biệt là sau Cách mạng tháng
8. Bộ luật hình sự đầu tiên của Việt Nam gồm hai phần: phần chung và phần các tội
phạm, gồm 20 chương với 280 điều, trong đó Tội giao cấu với người dưới 16 tuổi
được quy định tại Điều 114 – chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con người, cụ thể: “Người nào đã thành niên mà giao cấu với
17
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một
năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Như vậy, BLHS năm 1985 ra đời
chính thức quy định tội giao cấu với người dưới 16 tuổi với khung hình phạt cải tạo
không giam giữ đến một năm hoặc phạt từ từ ba tháng đến ba năm.
Bộ luật Hình sự 1985 ra đời trong giai đoạn nước ta đang chuẩn bị tiến hành
công cuộc đổi mới toàn diện về mọi mặt của đời sống xã hội đã góp phần thúc đẩy
kinh tế xã hội phát triển. Cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới, các vấn đề xã
hội và nhu cầu của cuộc sống ngày càng phức tạp. Vì vậy, để phù hợp với yêu cầu
của thực tiễn trong cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, Bộ luật Hình sự
thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, có hiệu lực thi hành trên cả nước từ ngày
01/07/2000 và đây là Bộ luật vẫn được áp dụng trong giai đoạn hiện nay. Bộ luật
Hình sự năm 1999 đã sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện, cơ bản Bộ luật Hình sự
năm 1985, phù hợp với yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm trong
tình hình mới.
Tội giao cấu với trẻ em trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thuộc nhóm các tội
xâm hại tình dục trẻ em, được quy định tại Chương XII – Các tội xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người. Kế thừa và phát triển các quy định
của Bộ luật hình sự năm 1985, tội giao cấu với trẻ em được quy định tại Điều 115
Bộ luật Hình sự năm 1999 và được bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại điểm
d khoản 2 là “gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31%
đến 60%”; tại điểm a khoản 3 là “Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ
thương tật từ 61% trở lên” và điểm b khoản 3 là “Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn
phạm tội”. Như vậy, trong Bộ luật Hình sự năm 1999, tội giao cấu với trẻ em sau
nhiều lần sửa đổi, bổ sung đã được các nhà làm luật quy định khá chặt chẽ.
1.2.4. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tội giao cấu với trẻ em
Bộ luật Hình sự năm 1999 khi xây dựng tội giao cấu với trẻ em đã phát huy
vai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh, phòng chống
tội phạm giao cấu với trẻ em; đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên
quyết đấu tranh, chống tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp lý góp phần nâng cao
hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế
tình hình tội phạm.
Tuy nhiên, sau hơn 15 năm thi hành, Bộ luật Hình sự 1999 đã bộc lộ những
điểm bất cập, không đáp ứng được đòi hỏi của thực tế. Trong giai đoạn nước ta
19
đang có những thay đổi về chính sách và kinh tế, sự ra đời của Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhận và đề cao quyền con
người, quyền cơ bản của công dân, yêu cầu nội luật hóa các điều ước quốc tế mà
e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục,
chữa bệnh.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn
thương cơ thể 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Các dấu hiệu pháp lý của Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ
tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Dấu hiệu pháp lý là các yếu tố của cấu thành cơ bản trong điều luật, những
yếu tố được mô tả trong cấu thành cơ bản là yếu tố cần và đủ để truy cứu TNHS
người phạm tội. Việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý cấu thành Tội giao cấu hoặc
thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có
ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất pháp lý của loại tội này, cho
phép xác định tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng
thời cho phép ta phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, đánh giá giữa hành vi
phạm tội và không phải tội phạm.
*Khách thể của Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
phạm xâm hại. Theo Luật hình sự Việt Nam đó là những quan hệ xã hội được xác
định trong Điều 8 BLHS năm 2015. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ
tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi được quy định trong chương
XIV về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.
Các tội phạm cụ thể trong chương này, cùng xâm hại đến khách thể trực tiếp đó là
“tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người”. Tội giao cấu hoặc thực
hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi xâm hại
trong Điều 115 của BLHS năm 1999 chỉ là trẻ em gái. Tuy nhiên, đối tượng của tội
phạm này có đặc điểm bắt buộc về độ tuổi, cụ thể là trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu đủ hoặc trên 16 tuổi thì hành vi không cấu thành tội
22
phạm vì nó không xâm phạm khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.
Trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với
người dưới 13 tuổi mặc dù có sự đồng ý của người dưới 13 tuổi thì vẫn bị truy cứu
TNHS về Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi theo khoản 1 Điều 142 BLHS năm
2015, với mức hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Có thể thấy, BLHS
năm 1999 quy định tình tiết “mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi
là phạm tội hiếp dâm trẻ em” tại khung tăng nặng với mức cao nhất của khung
hình phạt tù là tử hình đã làm tăng lên đáng kể mức độ nguy hiểm của hành vi này,
trong khi rõ ràng có nhiều trường hợp, nạn nhân đã dậy thì, phát triển nhanh về thể
chất, dẫn đến sự nhầm lẫn về độ tuổi của các em; cũng có trường hợp, ngay chính
bản thân nạn nhân cô tình giấu hoặc nói dối về độ tuổi của mình hoặc giao cấu
thuận tình. Việc nhà làm luật đưa tình tiết định tội trong cấu thành cơ bản là cần
thiết, phù hợp với lý luận cũng như thực tiễn. BLHS năm 2015 bổ sung tình tiết
mới “phạm tội đối với người dưới 10 tuổi”vào khoản 3 Điều 142 quy định về
Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi với khung hình phạt là “phạt từ 20 năm, tù
chung thân hoặc tử hình”. Với quy định mới này, nhà làm luật đã phân hóa
TNHS đối với các trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục
khác đối với người dưới 13 tuổi thành hai mức khác nhau. Một là đối với đối
tượng tác động là người dưới 10 tuổi, hai là đối với đối tượng tác là người từ đủ
10 tuổi đến dưới 13 tuổi. Ngoài ra, quy định như vậy nhằm thể hiện thái độ rõ
ràng của nhà làm luật đối với người lợi dụng sự non nớt của trẻ em trong độ
tuổi này để đạt được mục đích tình dục của mình, gây ảnh hưởng đến sức khỏe
cũng như tinh thần của các em.
Có thể thấy, Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với