Chùa long phước và lưỡng xuyên phật học hội trong phong trào chấn hưng phật giáo ở nam kỳ (giai đoạn 1920 1951) - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ MẾN

CHÙA LONG PHƢỚC VÀ LƢỠNG
XUYÊN PHẬT HỌC HỘI TRONG PHONG
TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO Ở NAM
KỲ (GIAI ĐOẠN 1920 - 1951)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC

HÀ NỘI - 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ MẾN

CHÙA LONG PHƢỚC VÀ LƢỠNG
XUYÊN PHẬT HỌC HỘI TRONG PHONG
TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO Ở NAM
KỲ (GIAI ĐOẠN 1920 - 1951)
Ngành: TÔN GIÁO HỌC
Mã số: 8.22.90.09

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC


sớm hoàn thành luận văn này.
Xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những bạn bè, đồng nghiệp, đã gắn bó và
giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, cũng như trong quá trình thực hiện luận văn
này.
Tôi xin tri ân đến Ni trưởng thượng NHƯ hạ ĐỨC, Viện chủ Ni trường
Dược Sư, người đã động viên, sách tấn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tu học tại
Ni trường, cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin cảm ơn đến TT.TS Thích Đồng Bổn, người Thầy - người đã
khuyến khích, ủng hộ tạo mọi điều kiện để tôi có thể tham gia khóa học và hoàn
thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, những người thân và đặc biệt là
người Cha khả kính suốt một đời vất vả hy sinh để giáo dưỡng để tôi nên người.
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Thị Mến


MỤC LỤC
Tran
g
MỞ ĐẦU

1

Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT
GIÁO Ở NAM KỲ VÀ LƢỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
HỘI

12


HỌC VÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ
3.1. Một số đặc điểm của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học

50

3.2. Những bài học lịch sử

73

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

76


NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT

VIẾT TẮT

NỘI DUNG CHỮ VIẾT TẮT

1

CHPG

Chấn hưng Phật giáo

2


8

THPG

Thành hội Phật giáo

8

HT

Hòa thượng

9

TT

Thượng tọa

Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa học xã hội Việt Nam


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“ Lịch sử là sự vận hành của thời gian” [14, tr.5]
Thật vậy, dù thời gian có biến chuyển, dù lịch sử có sang trang với bao
giai đoạn thịnh suy, thăng trầm biến đổi, nhưng ngày nay khi nhắc đến “Chùa
Lưỡng Xuyên” ắt hẳn ai cũng biết đến ngôi già lam này, xưa kia có tên là Long
Phước Tự, chính nơi đây đã đánh dấu sự ra đời của “Lưỡng Xuyên Phật Học

Phước và Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, trong phong trào chấn hưng Phật giáo,
đặc biệt là ở Nam Bộ. Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này theo hướng
tiếp cận lý thuyết thực thể tôn giáo, nhằm làm sống lại một thời kỳ lịch sử của
Phật giáo Nam Bộ, hơn nữa là để tìm hiểu Lưỡng Xuyên Phật Học Hội đã có
những đóng góp thiết thực gì cho Phật giáo nước nhà, trong giai đoạn 1920
-1951? Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “CHÙA LONG
PHƢỚC VÀ LƢỠNG XUYÊN PHẬT HỌC HỘI TRONG PHONG TRÀO
CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO Ở NAM KỲ, GIAI ĐOẠN 1920 -1951”, như một
món quà tinh thần để dâng lên chư Tổ, đồng thời hướng về Phật học đường Lưỡng
Xuyên nơi đào tạo ra những vị tăng tài cho Giáo hội, với mong muốn làm sống lại
một giai đoạn lịch sử mà các nhà nghiên cứu trước đây đã dày công vun đắp.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Những công trình nghiên cứu về Phật giáo Nam Bộ
Nguyễn Quảng Tuân, Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên (1994), Những ngôi
chùa ở Nam Bộ, Nxb.Tp.Hồ Chí Minh. Trình bày khái quát về quá trình hình
thành và phát triển của những ngôi chùa ở Nam Bộ, trong đó có chùa Lưỡng
Xuyên (Long Phước Tự).
Trần Hồng Liên (1996), Phật giáo Nam Bộ (từ thế kỷ 17 đến 1975),
Nxb.Tp.HCM, mặc dù tác giả không nêu lên tất cả các sự kiện của Phật giáo từ
thế kỷ 17 đến năm 1975, nhưng cũng phân chia các giai đoạn lịch sử để tương
ứng với những bước ngoặc lớn, làm thay đổi cuộc sống xã hội và văn hóa, trong
đó có Phật giáo, giúp người đọc khái quát về một chặng đường lịch sử Phật giáo.
Đặc biệt có đề cập đến Phật giáo thời chấn hưng. Với sự ra đời của

2


các tổ chức hội Phật giáo, sách báo, tạp chí Phật giáo và phong trào kháng Pháp
của chư tăng Nam Bộ.

Viện Hóa Đạo. Phần đầu khái quát quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam,
trải qua các triều đại phát triển, nhưng phần lớn nội dung đề cập nhiều về phong
trào chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam và sự ra đời của các Hội Phật học, các tạp
chí Phật học của cả ba miền Bắc - Trung - Nam. Tuy nhiên, theo tác giả, tập sách
này chỉ là tài liệu sơ khởi và còn nhiều thiếu sót, nhưng đó là nguồn tài liệu tham
khảo có giá trị cho những công trình nghiên cứu sau này.
Thích Minh Tuệ (biên soạn 1992), Lược sử Phật giáo Việt Nam, Thành
hội Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh ấn hành. Nội dung tác giả khái lược về Phật giáo
Việt Nam qua các thời kỳ. Trong đó chương VI nói về phong trào chấn hưng
Phật giáo với bối cảnh thời đại và đặc biệt là sự ra đời của các Hội Phật giáo 3 kỳ
(thập niên 1930).
Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, (tập 1,2 3), Nxb.Văn
học. Tác giả khái quát về lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại.
Góp phần làm sống lại diện mạo của sinh hoạt Phật giáo qua các thời đại. Trong
chương XXVI và XXVII, nói về chấn hưng Phật giáo, những động cơ của cuộc
chấn hưng, các hội Phật giáo thực hiện được những gì trong thời gian 1930 1945 và vai trò của Thiền sư Khánh Hòa với công cuộc vận động ở Nam Kỳ, đề
cập đến sự ra đời của Hội Lưỡng Xuyên Phật học và Tạp chí Duy Tâm Phật học.
Thích Đồng Bổn (chủ biên) (1996), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX.
(Tập 1,2,3), Thành hội Phật giáo Tp.HCM. Tác giả đã biên soạn một cách đầy đủ và
khái quát về cuộc đời, sự nghiệp của các vị danh tăng Phật giáo Việt Nam và đặc
biệt là sự cống hiến của các danh tăng trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo.

Thành hội Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh (2001), Biên niên sử Phật giáo Gia
Định - Sài Gòn Tp.Hồ Chí Minh (1600 -1992), Nxb.Tp.Hồ chí Minh. Nhóm tác
giả trình bày về những biến động của xã hội tại thành phố và các tỉnh thành phía
Nam gắn liền với các sự kiện lịch sử của Phật giáo. Đặc biệt, trong chương V, nói
về Phật giáo Gia Định - Sài Gòn trong giai đoạn chấn

4




Nguyệt san Pháp Âm, Phật hóa Tân Thanh Niên….Trong đó có nhiều bài kêu
gọi chấn hưng Phật giáo.
Nguyễn Quốc Tuấn (2012), Đặc điểm và vai trò của Phật giáo Việt Nam
thế kỷ XX, Nxb.Từ điển Bách khoa, Hà Nội. Tác giả chỉ ra mối quan hệ giữa Phật
giáo Việt Nam và Phật giáo quốc tế. Với sự phân kỳ của tác giả, đã làm nổi bật
các sự kiện của lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Đặc biệt, trong chương 2,
tác giả khái quát về Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX, và một số nguyên nhân đưa
đến phong trào chấn hưng Phật giáo từ những năm 1920 -1951.
Trí Không (2012), Vĩnh Long Phật giáo sử lược, Nxb.Tổng Hợp, Tp.Hồ
Chí Minh. Nội dung trình bày về sự hình thành và phát triển của Phật giáo Vĩnh
Long, trong đó có nói về Lưỡng Xuyên Phật Học Trà Vinh năm 1934, với mục
đích là chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ, mở các lớp Phật học để đào tạo Tăng tài.
Hội Lưỡng Xuyên không ngừng chấn chỉnh và phát huy chân giá trị của đạo Phật
trên mãnh đất này.
Lê Tâm Đắc (2012), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc Việt Nam
(1924 - 1954), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội. Tác giả khái quát về sự ra đời của
phong trào chấn hưng Phật giáo miền Bắc, một số nội dung cơ bản của phong trào
chấn hưng Phật giáo miền Bắc và đặc điểm, vai trò của phong trào này trong giai
đoạn (1924 -1954). Tuy nhiên, tác giả đặc biệt xoáy sâu về phạm vi chấn hưng ở
miền Bắc, một trong ba trung tâm của phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ
XX, đây là công việc cần thiết để làm sáng tỏ quan điểm của tác giả.

Thích Như Niệm - Đinh Thu Xuân (2016) Thiện Chiếu danh sư, trí thức
cách mạng 1898-1974). Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật. Tác giả đã khái quát
tương đối đầy đủ về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Hòa thượng Thiện
Chiếu. Đặc biệt giới thiệu nguyên bản hai cuốn sách đầu tiên là công trình dịch
thuật, biên soạn của Hòa thượng Thiện Chiếu và tác phẩm cuối cùng của ông.
Dương Thanh Mừng (2016), Phong trào chấn hưng Phật giáo ở miền

quá trình hình thành và phát triển của phong trào chấn hưng Phật giáo, qua cuộc đời
và sự nghiệp của các vị danh tăng Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Đây sẽ là những
tư liệu quý cho chúng tôi kế thừa khi thực hiện luận văn này.

7


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra được vai trò của chùa Long Phước và Hội Lưỡng Xuyên Phật Học
trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ (1920 - 1951). Dựa trên các nghiên
cứu thực tiễn, nêu lên những đặc điểm của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học, với
những đóng góp thiết thực trong việc xây dựng và phát triển Phật giáo nước nhà.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Dựa trên phần tổng quan, trình bày bối cảnh xã hội Nam Kỳ trước thời
kỳ chấn hưng Phật giáo, với sự ra đời của Hội Lưỡng Xuyên Phật học. Đồng thời
khái quát lịch sử hình thành chùa Long Phước và Hội Lưỡng Xuyên Phật học,
trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX (chương 1)
- Làm rõ vai trò của Hội Lưỡng Xuyên Phật học trong giai đoạn chấn
hưng Phật giáo Nam Kỳ (giai đoạn 1920 -1951) (chương 2)
- Những đặc điểm mà Hội Lưỡng Xuyên Phật học đã đạt được từ phong
trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX (chƣơng 3).
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tương nghiên cứu
Chùa Long Phước và Lưỡng Xuyên Phật Học Hội trong phong trào chấn
hưng Phật giáo Nam Kỳ. (Nêu rõ mối quan hệ giữa các chùa, các vị Hòa thượng
tài đức, lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo thời bấy giờ).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu trường hợp

được gọi là chức năng [22, tr.43]. Vận dụng lý thuyết này để tìm hiểu chức năng
của phong trào chấn hưng Phật giáo, của chùa Long Phước và Lưỡng Xuyên
Phật học hội, của người khởi xướng phong trào.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi vận dụng một số phương
pháp sau:

9


- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng trong chƣơng 1 (Tổng
quan về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ và Lưỡng Xuyên Phật Học
Hội). Chƣơng 2 (Vai trò của Lưỡng Xuyên Phật Học Hội trong phong trào chấn

hưng Phật giáo ở Nam Kỳ, giai đoạn 1920 - 1951). Sau khi thu thập tài liệu,
chúng tôi sẽ vận dụng hai phương pháp trên để phân tích, tổng hợp các nguồn tài
liệu có liên quan đến Hội LXPH, kết hợp với việc đi thực tế, để có thêm nguồn
tài liệu tham khảo phong phú, phục vụ cho việc nghiên cứu được tốt hơn.
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: Trong quá trình thực hiện, phương
pháp này sẽ được vận dụng trong toàn bộ luận văn, nhằm làm bật lên vị trí, vai
trò, chức năng của chùa Long Phước và Lưỡng Xuyên Phật học hội so với một
số nơi khác, vùng khác, hội khác trong cả nước.
- Phương pháp phỏng vấn hồi cố: thực hiện các cuộc phỏng vấn đối với những
người có tuổi, am hiểu, nắm được thông tin về lịch sử, về hoạt động của chùa và của

phong trào trước đây, nghe họ kể lại những vấn đề có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu lịch đại: có tính chất hồi cố theo chiều dài thời
gian với những đặc trưng về sinh hoạt của phong trào chấn hưng trong lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu đồng đại: là nghiên cứu trong một giai đoạn lịch
sử nhất định (bối cảnh, hoàn cảnh lịch sử cụ thể) trên một vùng không gian cụ thể.

Chương 1: Tổng quan về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ và
Lưỡng Xuyên Phật Học Hội.
Chương 2: Vai trò của Lưỡng Xuyên Phật Học Hội trong phong trào chấn
hưng Phật giáo ở Nam Kỳ (giai đoạn 1920 - 1951).
Chương 3: Một số đặc điểm của Hội Lưỡng Xuyên Phật học và bài học
lịch sử.

11


Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO
Ở NAM KỲ VÀ LƢỠNG XUYÊN PHẬT HỌC HỘI
Để tìm hiểu về chùa Long Phước và Lưỡng Xuyên Phật Học Hội trong
phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ, giai đoạn 1920 -1951. Trước hết
chúng tôi khái quát về tình hình xã hội Nam Kỳ với sự ra đời của phong trào
chấn hưng Phật giáo trong giai đoạn này có những diễn biến gì? Đồng thời giới
thiệu sơ lược về lịch sử hình thành chùa Long Phước và Hội Lưỡng Xuyên Phật
học trải qua quá trình phát triển cho đến nay.
1.1. Khái quát về phong trào chấn hƣng Phật giáo ở Nam Kỳ
Từ những năm thế kỷ XVI - XVIII xã hội Nam Kỳ xảy ra nhiều biến động
lớn, dẫn đến cảnh thiên tai mất mùa, khiến cho cuộc sống của người dân vô cùng cơ
cực, đói khổ khắp nơi, sản xuất nông nghiệp bị đình trệ. Vào khoảng năm 1732, các
cuộc nội chiến xảy ra liên tục, làm ảnh hưởng không ít đến xã hội Nam Kỳ, trong đó
có tỉnh Trà Vinh. Đây là vùng đất có nhiều tộc người sinh sống như: Việt, Khmer,
Hoa…Họ sống theo các thôn, làng cuộc sống chủ yếu vẫn là nông nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp. Vào thời điểm đó, tuy dân cư còn thưa thớt, đời sống người dân
chưa phát triển nhiều, nhưng họ vẫn biết khai thác tiềm năng thiên nhiên, biết vận
dụng sự linh hoạt để thích nghi với môi trường sống, nhằm phục vụ cho nhu cầu của
con người. Cũng trong thời gian đó (1732) “ Chúa Nguyễn Phúc Chu thiết lập đơn

đời, “m tín dị đoan”, coi Đức Phật như một Thượng Đế toàn năng một số tăng,
tín đồ th lần lần đi a nguồn gốc giáo lý chính thống. Thật là bi đát ”. Nội bộ như
thế thì làm gì Phật giáo không đi vào con đường suy thoái [73, tr.474].
Mặt khác, Pháp hết lòng ủng hộ giúp đở Thiên Chúa giáo, kỳ thị ch n p
Phật giáo, không cho phát triển, gây khó khăn về mọi hoạt động của Phật giáo.
Như việc kiểm tra tăng chúng, việc dựng chùa phải có giấy ph p, phá hoại các di
tích của Phật giáo, một số ngôi chùa rơi vào cảnh điêu tàn, hoang phế, chỉ trong
thời gian từ 1860 - 1865 “ Nhiều ngôi chùa cổ ở Gia Định đã bị Pháp xâm
chiếm, đập phá và sử dụng để làm phòng tuyến, đồn bót. Số Sư tăng phải trốn
bắt lính Kinh sách quý bị thất lạc Một số Sư tăng âm thầm tham gia kháng

13


chiến” [60, tr.41]. Đây là giai đoạn Phật giáo trong cộng đồng người Việt ở Nam
Bộ có mầm móng suy thoái và có sự chuyển biến lớn về mọi mặt sinh hoạt của
đời sống.
Vào những thập niên cuối của thế kỷ XVIII, diễn ra cuộc chiến giữa quân
Tây Sơn và Nguyễn Ánh làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, chính tri, văn hóa, xã
hội của người dân Nam Kỳ, hơn nữa là họ rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp.

Về chính trị, họ thực hiện chính sách cai trị thực dân, tước bỏ mọi quyền
hành của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, chia đất nước Việt Nam thành ba
kỳ là: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp. Với
chính sách thâm độc chúng cấu kết với giai cấp địa chủ nhằm bóc lột kinh tế và
áp bức chính trị đối với người dân Việt Nam.
Về kinh tế, thực hiện chính sách tước đoạt ruộng đất của nhân dân để lập
đồn điền, xây dựng một số cơ sở công nghiệp, khai thác tài nguyên thiên nhiên,
xây dựng hệ thống đường giao thông….để phục vụ cho chính sách khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp. Từ đó, dẫn đến hậu quả là nền kinh tế Việt Nam bị

chỉnh, phục hồi lại những giá trị truyền thống đã bị mai một, cũng là để thích
ứng nhu cầu, bối cảnh của thời đại. Như vậy, chấn hưng Phật giáo là sửa đổi, cải
tiến, làm mới tinh thần của Phật giáo, mới cả nội dung lẫn hình thức. Hay nói
đúng hơn là củng cố lại đường lối, chủ trương, cách thức tu tập hành trì theo giáo
lý của Đức Phật làm cho nó hoàn thiện và tốt đẹp hơn.
Vì tinh thần của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng
trực tiếp từ phong trào chấn hưng Phật giáo quốc tế, mà nhất là Trung Quốc, kể
từ khi Hòa thượng Thái Hư lập Phật học viện Vũ Xương, tiếp theo là nhiều Phật
học viện tuần tự ra đời và các tạp chí Phật học cũng được xuất bản. Tuy nhiên
nhân tố chính để hình thành nên phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ là vì
Nho học sụp đổ, chữ Hán được thay thế bằng chữ quốc ngữ, do đó các Tăng ni
Phật tử cũng đòi hỏi có sự đổi mới trong sinh hoạt tâm linh và hoằng dương
chánh pháp.
Mặt khác, sự phát triển của các đạo giáo lúc bấy giờ làm cho những người
theo Phật giáo cần nhìn lại chính mình, phải làm thế nào để thay đổi, cải cách và

15


chấn chỉnh lại một nền Phật giáo sống động, thiết thực hơn. Chúng ta cũng nên
nhìn nhận rằng, chính sự suy yếu của Phật giáo lúc bấy giờ, làm cho dân chúng
mất đi niềm tin đối với đạo. Hơn nữa, các hình thức lễ nghi của Phật giáo lâu nay
chỉ là phương tiện, không thích hợp với những người chuộng lý trí và khoa học.
Vì vậy, phát huy giáo nghĩa của Phật giáo để trình bày một đạo Phật tân tiến hơn,
sống động hơn, đáp ứng được nhu cầu của những thế hệ mới là điều cần thiết,
tức “ Phải làm sống lại, làm mới và đưa tinh thần chân chính của đạo Phật vào
cuộc đấu tranh đẩy lùi các thứ ma chướng của thời đạị Xây dựng lại hình ảnh
con người với những phẩm chất Phật giáo: Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi, Vô úy,
Bao dung và Hòa b nh ” [102, tr. 699].
Đứng trước tình cảnh ấy, các tăng ni, Phật tử, các nhà trí thức phản ánh bằng

đi đầu trong phong trào chấn hưng Phật giáo là Hòa thượng Khánh Hòa. Ngài là
bậc chân tu sớm ngộ đạo và nhiều tâm với Phật giáo nước nhà. Trong tình cảnh
Phật giáo đang suy thoái, bằng nhiều hoạt động Phật sự khác nhau, Hòa thượng
đã chấn chỉnh, cải tiến các phương pháp tu tập, sinh hoạt để thích ứng với những
biến đổi chung của đất nước, nếu không Phật giáo sẽ bị lu mờ theo thời gian.
Với lòng nhiệt huyết của chư tăng và Phật tử Nam Bộ, cùng các nhà trí
thức mến mộ đạo Phật đã đứng ra vận động chấn hưng Phật giáo, chỉ mong đem
lại hơi thở mới cho Phật giáo Việt Nam và được mọi người đồng tình ủng hộ để
cùng nhau tiến tới thành lập Phật giáo Tổng hội trong toàn quốc.
1.2. Sơ lƣợc về Hội Lƣỡng Xuyên Phật học và chùa Long Phƣớc
Tìm về quá khứ thuở sơ khai của một ngôi cổ tự, quả là điều không đơn
giản, vì những chứng tích xưa đã không còn lưu dấu, chỉ biết nương vào ký ức
của những vị Tăng sĩ một thời gắn bó với nơi đây và những gì lịch sử còn ghi lại.
Do vậy, chúng tôi cố gắng góp nhặt những mãnh ghép rời rạc để tạo nên một bức
tranh dù không hoàn hảo, nhưng cũng phác họa được những gì căn bản nhất nơi
chốn Tổ, của một thời khai sơn tạo tự.
Theo các tài liệu đã nghiên cứu trước đây cho rằng: Vào khoảng năm 1920, tại
vùng đất ở ấp Thanh Lệ, làng Long Đức, tỉnh Trà Vinh, có một ngôi chùa Phật hiệu
Long Phước, do vợ chồng Bà Dương Thị Liễu sáng lập để làm nơi lễ bái, sinh hoạt cho
người dân tại nơi đây. Nhân duyên đã đến, cộng thêm sự sùng mộ Phật pháp

17


nên Bà đã tình nguyện hiến cúng ngôi chùa này cho Ban sáng lập “ Hội Lưỡng
Xuyên Phật Học” được trọn quyền sử dụng, để làm chùa chung cho Phật giáo, làm
cơ quan cho Hội Lưỡng Xuyên. Trong Duy Tâm Phật Học có ghi nguyên văn “ Tờ
dưng chùa” của Bà Liễu : “Nguyên vuông vức miếng đất nửa mẫu số bộ địa của
chùa Long Phước đứng, còn ngôi chùa thì vợ chồng tôi ra tiền riêng sáng tạo. Nay
tôi bằng lòng giao cho: 1/ Hòa thượng L Khánh Hòa; 2/ Hòa thượng Huệ Quang;

1/Hòa thượng: Lê Khánh Hòa; 2/Hòa thượng: Huệ Quang; 3/Huyện Hàm:
Huỳnh Thái Cửu; 4/Huyện Hàm: Ngô Trung Tín; 5/Trưởng Tòa: Phạm Văn Liêu;
6/Thương gia Thái Phước.
Tờ hiến cúng vào ngày 19/03/1934, có sự đứng chứng nhận của Ban Hội
Tề xã, Cai tổng và Ông Filsible là Receveur của Sở Enregistre Trà Vinh ký tên
đóng dấu, bản văn đã được đăng tải vào tờ Duy Tâm Phật học (số 1) của Hội
Lưỡng Xuyên Phật Học.
Đến ngày 13/08/1934, Hội đã được Thống đốc Nam Kỳ phê chuẩn điều
lệ, và hợp thức hóa để bắt đầu hoạt động, gồm cả chư sơn Thiền đức và nam nữ
Phật tử trong địa hạt của hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang hòa hợp tạo nên
Hội Lưỡng Xuyên Phật học, đặt Hội quán tại chùa Long Phước để đào tạo tăng
tài, truyền bá Phật pháp.
Mười hai vị đã được toàn thể Hội viên được bầu vào Ban Trị sự đầu tiên
(xem thêm danh sách ở phần phụ lục).
Ngoài quý vị trong Ban Trị sự, còn có rất nhiều quý vị Hội viên sáng lập,
Hội viên Thi ân, Hội viên Thường trợ, Hội viên Tán trợ, Hội viên danh dự…
(xem ảnh 12 phần phụ lục).
Năm 1935, Hội khởi công kiến thiết ngôi chùa và Hội quán với đại quy
mô.
1/Đại hùng Bảo điện, 2/Tàng Kinh Bửu viện, 3/Thiền Lâm Tịnh xá,
4/Tòng Lâm Tịnh xá, 5/Sư sanh Tịnh phòng, 6/Cư sĩ Lâm viện, 7/Giảng đường,
8/Biên tập sở, 9/Nghiên cứu viện, 10/Đông trù, 11/Ưu Bà Di viện, 12/Trụ trì
phòng, 13/Phật học đường, 14/Tổng lý văn phòng, 15/Công khố [33, tr.12].
Kiến trúc xong, cử hành lễ Lạc thành và khai giảng Học đường vào ngày
17, 18, 19 và 20 tháng 5 năm 1935.

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status