ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------NGUYỄN ĐÌNH HƯNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG ĐA HÀNH VĂN TỰ
Ở CÁC BẢN IN PHẬT GIÁO TRONG
PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO
MIỀN BẮC VIỆT NAM (1924 – 1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ HÁN NÔM
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------NGUYỄN ĐÌNH HƯNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TƯỢNG ĐA HÀNH VĂN TỰ Ở
CÁC BẢN IN PHẬT GIÁO TRONG PHONG TRÀO
CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO MIỀN BẮC VIỆT NAM
(1924 – 1954)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH HÁN NÔM
Mã số: 60220104
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Tuấn Cường
Hà Nội - 2017
........................................................................................................................65
2.2.2. Song hành phiên – dịch ............................................................................67
1
2.2.2.1. Nguồn tư liệu.....................................................................................67
2.2.2.2. Phân tích nhóm tư liệu phiên – dịch .................................................73
2.2.3. Song hành dịch .........................................................................................77
2.3 Song hành văn tự Nôm – Quốc ngữ ................................................................78
2.4. Vị trí của đa hành văn tự Phật giáo giai đoạn 1924 – 1954 trong lịch sử đa
hành văn tự Việt Nam ............................................................................................81
KẾT LUẬN ...............................................................................................................89
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................93
PHỤ LỤC ..................................................................................................................98
2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Số đề thi Quốc ngữ trong bốn khoa thi Hương cuối cùng ở trường Hà
Nam
Bảng 1.2: Số đề thi Quốc ngữ trong bốn khoa thi cuối ở những trường thi khác
Bảng 1.3: Số đề thi Quốc ngữ ở bốn khoa thi Hội cuối cùng
Bảng 1.4: Một số ví dụ về chữ Quốc ngữ đầu thế kỉ 17
Bảng 1.5: Nội dung giảng dạy trong các cấp học của giáo dục khoa cử cải lương sau
cải cách giáo dục 1906
Bảng 1.6 : Các tổ chức và tạp chí Phật giáo trong phong trào chấn hưng Phật giáo
(trước 1945)
Bảng 2.1: Ví dụ minh họa cho các hiện tượng song tồn văn tự Hán Nôm
Bảng 2.2: Phân loại hiện tượng đa hành văn tự Phật giáo miền Bắc Việt Nam 1924
thấy, ban đầu là những văn bản thuần tuý chữ Hán, sau đó đến giai đoạn tồn tại
“song hành văn tự” và “tam hành văn tự” chữ Hán + chữ Nôm + chữ Quốc ngữ
cùng ghi một nội dung văn bản. Những trường hợp “song hành” hoặc “tam hành”
văn tự như thế, chúng tôi tạm gọi là “đa hành văn tự”.
Hiện tượng đa hành văn tự xuất hiện phổ biến trong các văn bản thuộc nhiều
lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực Phật giáo. Trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo ở
miền Bắc 1924 – 1954, trong bối cảnh chữ Quốc ngữ đã dần phổ biến, vì nhu cầu
hoằng pháp nên nhiều tư liệu Phật giáo có hiện tượng đa hành văn tự có chữ Quốc
ngữ tồn tại song song với chữ Hán hoặc chữ Nôm đã được ra đời. Đây là một nhóm
tư liệu đáng chú ý trong lịch sử ngữ văn Việt Nam. Tuy nhiên, cho tới thời điểm
hiện tại thì nhóm tư liệu này chưa được tập hợp và nhận diện, những nghiên cứu về
các tư liệu đa hành văn tự Phật giáo nửa đầu thế kỉ 20 ở miền Bắc cũng chưa được
tiến hành.
Xuất phát từ lý do đó nên chúng tôi thực hiện luận văn này với mục đích tập
hợp, nhận diện các tư liệu đa hành văn tự trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở
miền Bắc giai đoạn 1924 – 1954, làm nổi bật được đặc điểm của nhóm tư liệu này
trong lịch sử ngữ văn Việt Nam, đồng thời góp phần làm rõ được vai trò của chúng
đối với công cuộc chấn hưng Phật giáo khi xã hội Việt Nam bắt đầu chuyển mình
4
sang giai đoạn hiện đại. Nghiên cứu này cũng có thể là cơ sở khoa học để tiếp tục
tìm hiểu về phiên dịch học Phật giáo đầu thế kỉ 20 ở Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đa hành văn tự là hiện tượng xuất hiện phổ biến trong các văn bản có tồn tại
chữ Hán và chữ Nôm. Vậy nên đã có khá nhiều nghiên cứu sử dụng những tư liệu
này, có thể kể đến những công trình như: Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm
Phật thuyết Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, 1 Thiền Tông khóa hư ngữ lục, 2 Khái
luận văn tự học chữ Nôm, 3 Nghiên cứu chữ Nôm tự tạo trong bản giải âm Truyền kỳ
山大学, 2016 年 11 月 27 日.
5
cung cấp cơ sở lý thuyết cho chúng tôi tiếp tục tiến hành nghiên cứu trong quá trình
thực hiện luận văn này.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào tìm hiểu đối tượng nghiên cứu là hiện tượng đa
hành văn tự Hán – Quốc ngữ, Nôm – Quốc ngữ trong các văn bản in Phật giáo giai
đoạn chấn hưng Phật giáo ở miền Bắc 1924 – 1954.
Phạm vi tư liệu nghiên cứu được giới hạn ở các văn bản in của Phật giáo miền
Bắc 1924 – 1954, tập trung nhiều vào các văn bản được xuất bản bởi các cơ quan
chính thức của giáo hội Phật giáo miền Bắc đương thời (báo Đuốc Tuệ, nhà in Đuốc
Tuệ, chùa Quán Sứ, Hội Phật tử Việt Nam…). Lý do các xuất bản phẩm từ các cơ
quan chính thức của giáo hội được chú tâm nghiên cứu là vì công cuộc chấn hưng
Phật giáo của các tổ chức này đã thúc đẩy sự ra đời của các tài liệu đa hành văn tự;
các tư liệu đó thông qua kênh giáo hội đã có phạm vi ảnh hưởng lớn trong cộng
đồng Phật giáo đương thời, cũng như vẫn còn tác động tới hiện tại. Những tư liệu
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đang tồn tại dưới nhiều dạng chất liệu định hình
ngôn từ (sách in, tạp chí, tờ bướm, micro film, mộc bản) và hiện nay được lưu trữ
trong các thư viện (Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư
viện chùa Quán Sứ), hoặc được lưu giữ trong các tủ sách của các chùa hoặc các cá
nhân.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện dựa trên phương pháp ngữ văn học
(philology). Phương pháp này quan tâm đến mặt ngôn ngữ - văn tự của ngôn từ và
văn bản, bao gồm việc giải thuyết các nội dung ngữ nghĩa trong mối liên hệ biện
chứng và lịch sử với các yếu tố hình thức (bao gồm ngôn ngữ, chữ viết và cả
phương thức định hình) của nó. Trên cơ sở phương pháp ngữ văn học, chúng tôi
hành văn tự trong các bản in Phật giáo được phân loại và phân tích cụ thể đối với
từng trường hợp. Ở cuối chương, hiện tượng đa hành văn tự trong các bản in Phật
giáo 1924 – 1954 được đặt trong lịch sử đa hành văn tự Việt Nam để đối chiếu.
7
Chương 1: LƯỢC SỬ ĐA HÀNH VĂN TỰ Ở VIỆT NAM VÀ BỐI CẢNH NGỮ
VĂN PHẬT GIÁO ĐẦU THẾ KỈ 20
Tiểu dẫn: Trong lịch sử ngữ văn Việt Nam, hiện tượng đa hành văn tự đã xuất hiện từ
sớm trong các văn bản song hành Hán – Nôm thuộc các lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng,
văn học, từ thư, kinh điển Nho gia, sách học chữ, văn bản pháp luật, quân sự… Tới đầu thế
kỉ 20, chữ Quốc ngữ đứng song song với chữ Hán và chữ Nôm trong các văn bản đa hành
văn tự thuộc lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng và giáo dục.
Ngữ văn Phật giáo đầu thế kỉ 20 ở Việt Nam được đặt trong bối cảnh khoa cử - giáo
dục Hán học đã chấm dứt kéo theo sự thất thế của chữ Hán; chữ Quốc ngữ được đưa vào
chương trình giáo dục, được phổ biến qua báo chí và các hoạt động truyền bá Quốc ngữ
của trí thức đầu thế kỉ 20.
1.1. Hiện tượng đa hành văn tự trong văn bản ngữ văn cổ điển Việt Nam
1.1.1. Bối cảnh ngữ văn ở Việt Nam trước 1945
Bối cảnh ngữ văn ở Việt Nam trước năm 1945 khá phức tạp. Nhà ngữ học nổi
tiếng người Mĩ là John DeFrancis cho rằng lịch sử ngữ văn Việt Nam từ năm 1945
trở về trước có thể chia thành bốn giai đoạn:
(1) giai đoạn thực dân Trung Quốc (năm 111 trước CN – năm 939)
- có hai ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hán)
- có một văn tự (chữ Hán)
(2) giai đoạn độc lập quân chủ (939-1651)
- có hai ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Hán)
- có hai văn tự (chữ Hán, chữ Nôm)
thế kỉ 11-12 (mặc dù có giả thuyết khác là thế kỉ 15). Trong văn bản này, phần
chính văn chữ Hán được in cỡ lớn, nội dung bản dịch bằng chữ Nôm được in song
song bằng chữ nhỏ phía bên tay phải, tạo thành bản dịch ra văn xuôi cho toàn bộ tác
phẩm.
Hiện tượng song hành văn tự Hán - Nôm có ở các bản giải âm các văn bản tôn
giáo (Phật giáo, các tín ngưỡng dân gian), văn học (văn xuôi, thơ ca), từ thư, kinh
điển Nho gia, sách học chữ, văn bản pháp luật, quân sự…
Ở lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng, sau Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng
kinh (xem ảnh 1), hiện tượng song hành văn tự Hán – Nôm còn xuất hiện ở nhiều
văn bản khác, như tác phẩm Khoá hư lục giải nghĩa, 9 nhưng nổi tiếng nhất vẫn là
các bản giải âm của hòa thượng Minh Châu Hương Hải (thế kỉ 18) và hòa thượng
Phúc Điền (thế kỉ 19). Ngoài tác phẩm của hai tác giả lớn trên, hiện tượng đa hành
Hoàng Thị Ngọ (1999), Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân
trọng kinh, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
9
Trần Trọng Dương khảo cứu - phiên chú (2009), Thiền tông khóa hư ngữ lục, NXB Văn học, Hà
Nội.
8
9
văn tự còn xuất hiện ở nhiều văn bản Phật giáo khác xuất hiện rải rác cho tới đầu
thế kỉ 20 trên phạm vi cả nước. 10
Ở lĩnh vực văn học, văn bản song hành Hán – Nôm sớm nhất là Tân biên
truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú 新編傳奇漫錄增補解音集註
11
10
- Tây nam hai mươi tám hiếu diễn ca 西南孝演歌 (VNv.62)
- Đường thi quốc âm 唐詩國音(AB.172)
- Quốc âm diễn thi 國音演詩 (AB.174)…
Điểm khá đặc biệt trong một số văn bản văn học có hiện tượng song hành Hán –
Nôm là nội dung văn học của Việt Nam bằng tiếng Việt, (được ghi chép bằng chữ
Nôm) lại được dịch ra chữ Hán như: Nam phong giải trào 南風解嘲 (AB.348,
AB.232), Nam thi tân tuyển 南詩新選 (R.1857)… Các bản dịch này đều góp nhặt
thơ ca dân gian của Việt Nam rồi đem dịch ra chữ Hán, phỏng theo thể Phong trong
Thi kinh, thể hiện tư duy chữ Hán và Nho học tồn tại bền chặt trong tư duy của trí
thức Nho học ở Việt Nam.
Từ thư 詞書 cũng là một mảng sách mà hiện tượng song hành Hán – Nôm
xuất hiện phổ biến.
13
Theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Cường, “do đặc điểm
của từ thư, tức là các đơn vị tự/từ được lắp ghép với nhau theo môn loại (nội dung
nhóm từ, ví dụ thiên văn, địa lý, nhân luân…), nên giữa các từ liền nhau không có
mối quan hệ về nội dung ý nghĩa, mà thường chỉ có quan hệ về ngữ âm (ghép lại
thành thơ). Về bản chất, những bộ từ thư này không phải là “dịch văn bản” (text
translation) mà chỉ là “dịch từ” (word translation)”. 14 Sách từ thư dạng này có khá
nhiều, như:
- Trùng thuyên Chỉ nam bị loại các bộ dã đàm tịnh bổ di đại toàn 重鐫指南備
類各部野譚并補遺大全 (AB.372)
- Nhật dụng thường đàm 日用常談 (AB.17, VNv.134)
Ảnh 3: Một trang của Chu dịch quốc âm ca (R.2020)
Nửa trên của trang sách có hiện tượng song hành văn tự Hán Nôm, trong đó phần chính văn chữ
Hán in to, bản dịch chữ Nôm in lưỡng cước nhỏ hơn nối tiếp chính văn.
12
Việc hiện tượng song hành Hán – Nôm xuất hiện phổ biến ở các văn bản thuộc
khá nhiều môi trường hành chức chứng tỏ ngay từ trong quá khứ, văn tự và ngôn
ngữ bản địa đã cần thiết đối với người Việt để có thể đọc hiểu được các văn bản
Hán văn.
1.1.3. Đa hành văn tự có xuất hiện chữ Quốc ngữ
Tới khoảng đầu thế kỉ 20, khi chữ Quốc ngữ đã được đưa vào chương trình giáo
dục và dần phổ biến ở Việt Nam, văn tự này cũng được bổ sung vào các văn bản đa
hành văn tự, trở thành các dạng song hành Hán – Quốc ngữ, Nôm – Quốc ngữ, và
tam hành Hán – Nôm – Quốc ngữ. Hiện tượng đa hành văn tự có chữ Quốc ngữ
xuất hiện chủ yếu trong các văn bản thuộc lĩnh vực tôn giáo – tín ngưỡng và giáo
dục.
Trong các văn bản tôn giáo – tín ngưỡng, chữ Quốc ngữ được sử dụng để
phiên âm chữ Hán hoặc Nôm để cung cấp thêm một kênh văn tự khi tụng đọc các
nghi thức; hoặc được sử dụng để dịch nguyên bản chữ Hán, giúp cho tín đồ hiểu
được nghĩa lý kinhh điển. Các văn bản dạng này phổ biến trên phạm vi cả nước.
Ngoài văn bản Phật giáo, các văn bản tín ngưỡng dân gian cũng có hiện tượng đa
hành văn tự có chữ Quốc ngữ: Quan đế cứu kiếp chân kinh 關帝救劫真經(R.3951),
Quang minh tu đức kinh văn 光明修德經文(R.1619), Thổ địa táo vương kinh 土地
竈王經(R.3950), Quan đế đào viên minh thánh kinh 關帝桃圜明聖經(R.3956)…
Ảnh 4: Một trang của Quan đế cứu kiếp chân
kinh (R.3951) có hiện tượng song hành Nôm –
văn, địa lý, địa cầu, kinh độ, vĩ độ…
15
14
in theo bố cục một tờ chữ Hán kèm với một tờ Quốc ngữ in thường là bản dịch,
không có phiên âm Hán Việt. Do nội dung sách được biên soạn để bổ túc những tri
thức mới mẻ cho người Việt ở thời điểm đầu thế kỉ 20 nên việc sử dụng hai loại văn
tự song song là để mở rộng đối tượng độc giả hơn (người biết chữ Hán hay biết
Quốc ngữ đều có thể đọc được). Vì không có mục đích dùng để dạy và học chữ Hán
nên cuốn sách này không có phiên âm của chữ Hán ra Quốc ngữ.
Ảnh 7 & 8: Trang chữ Hán và trang Quốc ngữ của hai bài đầu trong Phổ thông độc bản (R.365,
TVQGVN)
Ngoài hai lĩnh vực chính là tôn giáo – tín ngưỡng và giáo dục, hiện tượng đa
hành văn tự có chữ Quốc ngữ còn xuất hiện lẻ tẻ trong một vài văn bản dành cho
những đối tượng đặc biệt. Ví dụ như đối với cộng đồng tín đồ Thiên chúa giáo thì
Quốc ngữ là loại văn tự được sử dụng nhiều, tuy nhiên để làm việc với chính quyền
thì họ vẫn phải sử dụng các loại giấy tờ hành chính bằng chữ Hán. Để thuận tiện
hơn cho tín đồ trong việc làm việc với chính quyền, linh mục Vũ Đăng Khoa ở Phát
Diệm/Diễm (發艷) đã soạn Từ hàn cử ngung dịch quốc ngữ 詞翰舉隅譯國語
(R.107, 1907). Đây là một văn bản in từ ván khắc, nội dung là một bộ tập hợp các
giấy tờ hành chính, mẫu giấy tờ, thư từ trong xã hội đương thời; cụ thể gồm có 147
mẫu giấy tờ thuộc 5 mục: khế khoán, đặt bầu, thư thiếp, từ trạng, chương sách. Sách
được kết cấu song ngữ: một tờ in chữ Hán (gồm 2 trang, in dọc) rồi đến một tờ in
15
thế kỉ 17 – 18 với 20 bản dịch kinh Phật ra chữ Nôm. Theo nghiên cứu của Lê
Mạnh Thát, 16 Minh Châu Hương Hải đã dịch Nôm các bản kinh sau:
“-Giải Pháp hoa kinh 1 bộ
-Giải Kim cương kinh lý nghĩa 2 đạo
-Giải Sa di giới luật 1 quyển
-Giải Phật tổ tam kinh 3 quyển
-Giải Di Đà kinh 1 quyển
-Giải Vô lượng thọ kinh 1 quyển
-Giải Địa tạng kinh 3 quyển
-Giải Tâm kinh đại điên 1 quyển
-Giải Tâm kinh ngũ chỉ 1 quyển
-Giải Tâm châu nhất quán 1 quyển
-Giải Chân tâm trực thuyết 1 quyển
-Giải Pháp bảo đàn kinh 6 quyển
-Giải Phổ khuyến tu hành 1 quyển
-Giải Bảng điều 1 thiên” [24, tr. 24]
Tuy nhiên, chỉ có 3 tác phẩm trong số 20 tác phẩm kể trên của Minh Châu
Hương Hải tới ngày nay vẫn còn tìm thấy được là Kim cương kinh giải lý mục 金剛
經解理, Phật thuyết A di đà kinh 佛說阿彌陀經, Bát nhã ba la mật đa tâm kinh 般
若波羅宻多心經. 17 Ở ba bản kinh này, chính văn chữ Hán được phân câu, được bổ
sung bản dịch và giải nghĩa bằng chữ Nôm của thiền sư Hương Hải. Dòng chữ Hán
in to, chữ Nôm in lưỡng cước nhỏ hơn. Các bản kinh trên là tài liệu dùng cho tu sĩ
Phật giáo, một số bản kinh dùng phổ biến với tín đồ bình dân. Các bản kinh dược
Lê Mạnh Thát (2001), Toàn tập Minh Châu Hương Hải, Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.
Văn bản gốc và bản dịch được của những tác phẩm trên được công bố trong công trình của Lê
Mạnh Thát.
16
17
Hàn lâm sở 1 []寒林所一【】
18
19
Trích bài tựa Kim Cương bát nhã 金剛般若 (AB.376).
Trích bài tựa Kim Cương bát nhã 金剛般若 (AB.376).
18
Vương thị cảnh thế lương ngôn 1 thiên 王氏警世良言一篇
Tân soạn Thích giáo chân ngôn 1 thiên 新撰釋敎眞言一篇
Tiên nho công luận 1 thiên 先儒公論一篇
Thượng đường quốc ngữ 1 thiên 上堂國語一篇
Hiện tại, các văn bản giải âm có hiện tượng song hành văn tự Hán – Nôm của
hòa thượng Phúc Điền tìm thấy được có: Sa di luật nghi giải nghĩa 沙彌律儀解義
(AB.527/1-2), Tam giáo nhất nguyên giải quốc âm 三敎一原解國音(AB.512, có
2 tác phẩm trong văn bản này là: Tam giáo nhất nguyên giải quốc âm 三敎一原解
國音, Thái căn đàm diễn quốc âm 菜根譚演國音), Hộ pháp luận giải âm 護法論
解音 (AB.381), Kim cương bát nhã 金剛般若(AB.367). Những bản dịch Nôm có
kèm nguyên bản chữ Hán này đóng vai trò làm tài liệu giảng dạy, học tập cho bậc
sơ cơ xuất gia.
Tới cuối thế kỉ 19, Chính Đại tiểu sĩ cũng là một tác giả quan trọng của Phật
giáo miền Bắc với một số bản dịch Nôm và tác phẩm biên soạn mới. Trong số
những trước tác của ông, có một văn bản xuất hiện hiện tượng song hành văn tự
Hán Nôm là Quy Sơn cảnh sách văn 潙山警策 (TN.042, Thư viện chùa Thắng
Nghiêm). Trong văn bản này, bản gốc chữ Hán của Quy sơn cảnh sách được in kèm
với bản diễn Nôm của Chính Đại.
Không chỉ ở miền Bắc, các kinh sách xuất bản ở miền Nam cũng có hiện
tượng song hành văn tự Hán Nôm. Năm Giáp Ngọ (1894), cuốn Tì ni Sa di Uy
Lên đến ngũ kinh. Là Dịch là Thư. Là Thi là Lễ. Thủ bút của Thánh sư. Là kinh Xuân
Thu. Tham khảo cổ kim. Rồi đến các sử. Sách tiết yếu Bắc sử. Tên là Thiếu vi. Xem
xét tường tận rộng rãi. Là Cương mục, Cương giám.Việc cũ của nước ta. Có trong
sách Quốc sử. Rộng rãi mà tìm. Tả truyện, Tính lý. Biết qua được ý sách. Rồi tập văn
chương. Lúc đầu học đối liên. Rồi tập tiểu kĩ. Tiếp đến đọc Thi vận. Mới có thể làm
thơ. Chú thích truyện, chú thích kinh. Tên là kinh nghĩa. Viết chiếu viết chế. Rồi đến
biểu văn. Ba thể đều thông. Gọi là văn tứ lục. Rằng thơ rằng phú. Là trường đệ tam.
Bàn về thành công. Là văn trường sách. Văn cổ nói chuyện cổ. Văn nay nói chuyện
nay.” 20
Nguyên văn: 先讀四書。大學中庸。論語孟子。循序而進。上及五經。曰易曰書。曰詩曰
禮。聖師手筆。是謂春秋。參考古今。爰及諸史。北史節要。名曰少微。窮究旁推。綱目
20
20
Những quy định giáo dục do người Pháp thi hành từ cuối thế kỉ 19 – đầu
thế kỉ 20 đã khiến nền giáo dục nước ta đi chệch dần khỏi hướng Nho giáo. Từ
ngày 21/9/1861, khi trường D’Adran được thành lập để đào tạo thông dịch viên và
thư kí trong các cơ quan hành chính thì chữ Quốc ngữ và chữ Latin đã xuất hiện
trong đào tạo và thi cử của trường này. Kể từ sau sự kiện đó, hệ thống các trường
học do Pháp xây dựng dần dần xuất hiện ở cả ba kì. Chương trình giáo dục được bổ
sung các môn học bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Tính tới năm 1900, ở Bắc Kì đã
có 40 địa phương có trường học Pháp – Việt với 2998 học sinh [1, tr. 27].
Tới Chương trình cải lương giáo dục khoa cử (1906 – 1919), nhiều chính sách
mạnh mẽ được ban hành và thực thi đã khép lại cánh cửa giáo dục Nho học gần
1000 năm ở Việt Nam, mở ra một nền học vấn mới mẻ. Ngày 8/3/1906, Hội đồng
hoàn thiện nền giáo dục bản xứ (Conseil de Perfectionnement de L'Enseignement
indigène) được thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề liên quan tới việc
thiết lập hoặc cải tổ giáo dục ở Đông Dương. 21 Sau đó 2 tháng, Toàn quyền Đông
học và phép thi ở Bắc Kì [16, tr. 8 – 9].
Khoa cử Nho học sau năm 1906 vẫn có 4 khoa thi Hương (1909, 1912, 1915,
1918) và 4 khoa thi Hội (1910, 1913, 1916, 1919) được tổ chức. Tuy nhiên, trong
giai đoạn 1906 tới 1919, khoa cử Nho học từ chỗ là thiết chế sử dụng Nho học để
triều đình tuyển chọn người làm việc đã dần dần bị giảm hiệu quả, rồi bị bãi bỏ hẳn.
Bên cạnh các nội dung thi bằng Hán văn, các môn thi bằng chữ Pháp và Quốc ngữ
đã được đưa vào chương trình. Cụ thể như sau:
* Ở các khoa thi Hương:
- Trường Hà Nam 22
Bảng 1.1: Số đề thi Quốc ngữ trong bốn khoa thi Hương cuối cùng ở trường Hà Nam
Tên khoa thi
Bài thi Quốc ngữ và Pháp văn
Hương
Trường thứ
Trường thứ hai
Trường thứ ba
Trường thứ tư
nhất
(phúc hạch)
Khoa Kỉ Dậu,
- 2 đề luận Quốc - 1 đề luận Quốc
(1909)
ngữ
ngữ
Khoa Nhâm Tí
- 3 đề Quốc ngữ: (Bỏ không thi)
- 1 đề luận Quốc
(1912)
văn chương, toán
ngữ
Tên khoa thi
Bài thi Quốc ngữ và Pháp văn
Hương
Trường thứ
Trường thứ
Trường thứ ba
Trường thứ tư
nhất
hai
(Phúc hạch)
Khoa Kỉ Dậu
- 1 đề luận Quốc ngữ (Không tổ chức)
(1909)
Khoa Nhâm Tí
- 3 đề luận Quốc ngữ - 1 đề luận Quốc
(1912)
ngữ
Khoa Ất Mão
- 3 đền luận Quốc
- 1 đề luận Quốc
(1915)
ngữ
ngữ
Khoa Mậu Ngọ
- 3 đề Quốc
- 1 đề dịch từ chữ
- 1 đề luận chữ
(1918)
ngữ
Quốc ngữ ra chữ
ngữ
- 3 đề luận Quốc
ngữ
- 3 đề luận Quốc
ngữ
- 2 đề Toán pháp - 1 đề Quốc ngữ
- 1 đề luận Quốc dịch ra chữ Pháp
ngữ
- 1 đề chữ Pháp
dịch ra chữ Hán
- 1 đề luận bằng
chữ Pháp.
Tổng số môn thi của 4 kì thi này là 79 môn, trong đó số môn thi bằng chữ Quốc
ngữ là 13/79 môn. Số môn thi bằng chữ Pháp là 3/79 môn. 23
Trước năm 1916, chữ Quốc ngữ và Pháp trong các kì thi là không bắt buộc. Tuy
nhiên, “Đến đời Khải Định, phép thi của các khoa thi Hương, thi Hội đã thay đổi
nhiều: chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp là môn thi bắt buộc” [21, tr. 755]. Đồng thời
Các bảng biểu và số liệu về các kì thi ở trên thống kê từ: Đinh Văn Niêm (2014), Thi cử học vị
học hàm dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, Nxb Lao Động, Hà Nội, tr. 727 – 774.
23
23