BỘ VĂN HÓA THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG TIÊU DÙNG VĂN HÓA Ở
XÃ BẮC PHONG , HUYỆN THUẬN BẮC
TỈNH NINH THUẬN
Môn: Kinh Tế Học Văn Hóa
Lớp: Quản lý văn hóa_Ninh Thuận
Sinh viên: Trần Quang Luân
Nơi công tác: UBND xã Bắc Phong
KHÓA: 2013 - 2018
HDKH: TS. Nguyễn Tiến Mạnh
Bắc Phong, tháng 8 năm 2016
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình theo học lớp Đại học quản lý văn hóa, bản thân được tiếp
cận bộ môn kinh tế học văn hóa, đây là một bộ môn với nội dung hoàn toàn mới
mà trong thực tiễn của các tổ chức hoạt động văn hóa chưa được triển khai. Qua
nội dung của môn kinh tế học văn hóa bản thân rất tâm đắc với phần tiêu dùng văn
hóa. Với sự hướng dẫn nhiệt tình cho lớp của Giảng viên tiến sỹ - Nguyễn Tiến
Mạnh, bản thân lĩnh hội được phần nào về vấn đề kinh tế văn hóa nói chung cũng
như tiêu dùng văn hóa nói riêng. Từ đó bản thân nhận ra được với thực trạng hoạt
động văn hóa ở địa phương mình cũng như ở một số địa phương khác trong nước
còn hạn chế trong quá trình quản lý cũng như thực hiện các chương trình hoạt động
về lĩnh vực văn hóa. Bản thân thực hiện đề tài “nghiên cứu thực trạng tiêu dùng
văn hóa” trên địa bàn xã Bắc Phong, ngoài để hoàn thành học phần của mình còn
mong được góp một phần nhỏ cho hoạt động văn hóa trên địa bàn xã Bắc Phong
dùng văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân cần được đặc biệt quan tâm, nhằm để
cung ứng các thương phẩm văn hóa kịp thời và phù hợp với thị hiếu trên thị trường
văn hóa, góp phần nâng cao hiệu quả cho tuyên truyền giáo dục, đồng thời thúc
đẩy nền công nghiệp văn hóa cho phát triển kinh tế của địa phương nói riêng và cả
nước nói chung.
2. Lý do chon đề tài:
Thông qua Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, về việc
ban hành nghị quyết mới về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Hội nghị thống nhất nhận định, sau
hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về văn hóa, tư duy lý
luận văn hóa đã có bước phát triển; thể chế văn hóa từng bước được xây dựng,
hoàn thiện; đời sống văn hóa ngày càng được phong phú. Các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc được kế thừa và phát huy; nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo
đức mới được hình thành. Sản phẩm văn học nghệ thuật ngày càng đa dạng; nhiều
phong trào văn hóa đem lại hiệu quả thiết thực... Về phương hướng, nhiệm vụ
trong thời gian tới, Trung ương chỉ rõ phải tiếp tục kế thừa, bổ sung và phát triển
quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa đã được nêu trong Nghị
quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đồng thời nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh
thần của xã hội, là mục tiêu, động lực và nguồn nội lực sinh quan trọng cho phát
triển bền vững đất nước; văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị,
xã hội; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội. Thực tiễn đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống văn hóa
ở nước ta những năm gần đây đang diễn ra cực kỳ phong phú, phức tạp, có nhiều
dấu hiệu và đặc điểm hoàn toàn mới. Sự tác động cả tích cực lẫn tiêu cực của cơ
chế thị trường ngày càng mạnh và sâu đối với đời sống xã hội và đời sống con
người, trong đó văn hóa chịu sự tác động trực tiếp hàng ngày, tinh vi và phức tạp.
Trước tình hình đó toàn bộ công tác quản lý của nhà nước đối với tất cả các lĩnh
vực, đặc biệt là lĩnh vực quản lý văn hóa, cần có sự thay đổi, bổ sung, điều chỉnh
Đối tượng: “Những hộ gia đình tiêu dùng văn hóa trên địa bàn xã Bắc
Phong- huyện Thuận Bắc- tỉnh Ninh Thuận”(thực trạng tiêu dùng văn hóa rất
phong phú, bản thân chỉ nghiên cứu tiêu dùng văn hóa phân vùng dân cư trên địa
bàn xã Bắc Phong).
5. Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: tại xã Bắc Phong- huyện Thuận Bắc- tỉnh Ninh Thuận.
Về thời gian: từ năm 2014- 2016.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Phương pháp khảo sát điền dã thực tế
Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, đánh giá.
7. Ý nghĩa của đề tài:
Nghiên cứu về tiêu dùng văn hóa nhằm nắm bắt thực trạng tiêu dùng văn
hóa của người dân trên địa bàn xã Bắc Phong trong quá trình phát triển kinh tế xã
hội. Bên cạnh đó, đề xuất một số một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong
hoạt động cung ứng dịch vụ văn hóa trên địa bàn xã. Đồng thời có những kiến nghị
với Cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban ngành đoàn thể để xây dựng thị trường văn
hóa, góp phần phát triển kinh tế- xã hội địa phương hiện nay.
8. Cấu trúc tiểu luận:
Ngoài phần đặt vấn đề và kết thúc vấn đề, phần phụ lục, tài liệu tham khảo,
phần giải quyết vấn đề tiểu luận được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tiêu dùng văn hóa.
Chương 2: Tổng quan về đơn vị hành chính xã Bắc Phong huyện Thuận
Bắc.
Chương 3: Thực trang tiêu dùng văn hóa ở xã Bắc Phong huyện Thuận bắc
tỉnh Ninh Thuận.
Chương 4: Nhứng kiến nghị về đáp ứng nhu cầu tiêu dùng văn hóa và quản
lý kinh tế văn hóa tại xã Bắc Phong huyện Thuận Bắc.
phổ biến đã trở thành sự phổ biến tiêu dùng, phổ biến nét sinh hoạt mới. Đó chính
là hiện tượng văn hoá trong tiêu dùng. Nhân loại có nhiều xã hội, bao gồm cả xã
hội Việt Nam, lấy thái độ tiêu dùng lại xem xét, đa số có thể phân thành 3 giai
đoạn:
Giai đoạn 1: Từ các khoản tiết kiệm nghiêm ngặt để bắt đầu thời kỳ tiêu
dùng.
Thời kỳ đầu, con người thiếu thốn vật chất, nhiều nền kinh tế xã hội đã sớm
khuyến khích sự chặt chẽ trong tiêu dùng như một nét phẩm chất đẹp. Coi như vì
sự sinh tồn người tiêu dùng phải tiêu dùng, nhưng không khuyến khích vì niềm
vui, niềm hạnh phúc mà tiêu dùng. Một số môi trường xã hội vẫn còn bị ảnh hưởng
bởi một số học thuyết tôn giáo mà đã có những biểu hiện loại trừ những yếu tố giải
trí trong hoạt tiêu dùng. Thậm chí còn coi tính giải trí trong tiêu dùng như một biểu
hiện vi phạm đạo đức. Ví dụ, MaxWeber đã mô tả thì đạo Tin lành trong giai đoạn
này còn phản đối cả sự ham muốn vật chất. cho đến những nămđầu của thế kỷ XX,
xã hội Mỹ và Tây Âu bắt đầu bước vào thời kỳ đại công nghiệp, với mức thu nhập
mọi người có thể sống thoải mái hơn, nhận thức về tiêu dùng cũng bắt đầu có sự
thay đổi. Từ những sự thay đổi đó mà thời kỳ tiêu dùng đại chúng đã bắt đầu.
Giai đoạn 2: Từ sự tiêu dùng đơn điệu (tiêu dùng vật chất thông thường)
đến việc tiêu dùng niềm vui.
Thời kỳ đầu, đa số tiêu dùng đều chưa thóat khỏi sự đơn điệu. Sự đơn điệu
trong tiêu dùng chính là việc người tiêu dùng chỉ quan tâm đến tính hữu dụng của
một sản phẩm nào đó, dạng thức sản phẩm có tính đơn nhất, trong tiêu dùng sản
phẩm. Sau này, kinh tế phát triển lên một bước nữa, xã hội không còn chỉ quan tâm
ở những sản phẩm gia dụng mà còn ngày càng kỳ vọng đạt được những sự thoả
mãn về nhu cầu tinh thần trong tiêu dùng sản phẩm. Chính vì vậy, thế giới sản
phẩm sau này có tính tình cảm, nhân tính, cảm xúc hơn.
Giai đoạn 3: Từ những niềm vui trong tiêu dùng đến tiêu dùng văn hóa.
Nếu chỉ nhìn vào “nhân tính”, “niềm vui” trong sản phẩm thì vẫn chưa đủ để
về nội dung mang tính tinh thần.
3.2. Tính tầng bậc trong năng lực tiêu dùng văn hoá:
Tính tầng bậc trong năng lực tiêu dùng là chỉ tính không đồng nhất trong
năng lực, trình độ của các cá thể người tiêu dùng.Năng lực tiêu dùng vật chất và
năng lực tiêu dùng văn hoá đều thuộc về năng lực tiêu dùng nhưng hai loại năng
lực này có những điểm khác biệt với nhau.
-Năng lực tiêu dùng vật chất: Khai thác và sử dụng công năng…
-Năng lực tiêu dùng văn hoá: Hiểu, Cảm nhận,Giải thích, phân tích…
3.3. Tính gia hạn trong thời gian tiêu dùng văn hoá:
Trong hoạt động tiêu dùng, việc xác định hiệu xuất tiêu dùng của tiêu dùng
vật chất và tiêu dùng văn hoá hoàn toàn không giống nhau. Đối với tiêu dùng vật
chất, thời gian tiêu dùng ngày càng ít đi còn hiệu xuất tiêu dùng ngày càng cao.
Đối với tiêu dùng văn hoá có tính ngược lại, thời gian tiêu dùng càng dài thì hiệu
xuất tiêu dùng càng cao, gia hạn thời gian tiêu dùng thì có thể nâng cao hiệu xuất
tiêu dùng văn hoá.
3.4. Tính xúc tiến văn minh xã hội của tiêu dùng văn hoá:
Tiêu dùng văn hoá thể hiện mức độ kiến thiết của văn minh tinh thần xã hội,
là tiêu chí xem xét hiện trạng phát triển xã hội và sự tiến bộ phát triển xã hội của
nhân loại.
Thông qua truyền thông, giá trị sản phẩm được nâng cao; thông qua ý nghĩa,
hình tượng thẩm mỹ tiếp thống văn hoá được nối truyền và phát huy những giá trị
trong di sản văn hoá.
3.5. Tính thẩm thấu trong tiêu dùng văn hoá:
Tiêu dùng vật chất thuộc về quá trình tiêu dùng “hữu hình”, tiêu dùng văn
hoá thuộc về quá trình tiêu dùng “vô hình”, vai trò của hai loại tiêu dùng này hoàn
toàn không giống nhau. Tiêu dùng vật chất làm thoả mãn con người về nhu cầu
sinh lý, tiêu dùng văn hoá làm thoả con người về nhu cầu tinh thần, nâng cao vai
trò tinh thần của con người, có thể có những khuôn mẫu về niềm tin, tình cảm, linh
Có sự hỗ trợ của số hoá, nội dung truyền thông đã thông qua hệ thống mạng
mà được chuyển tải. Hệ thống mạng là nền tảng cho hoạt động chuyển tải nội dung
truyền thông và sự gia tăng của rất nhiều loại hình phục vụ mạng, cơ cấu truyền
thông truyền thống đã có sự gia tăng của dịch vụ mạng.
Với công nghệ kỹ thuật sốmà các tài nguyên, chất liệu như: hình ảnh, âm
thanh và văn bản có thể được nén thành những định dạng tương tự và được truyền
thông qua các thiết bị truyền dẫn, nó đã thúc đẩy các loại phương tiện truyền thông
khác nhau, tách rời nhau cùng tương tác, nhận được nhau.
Nội dung khi được nén vào các phương tiện lưu trữ kỹ thuật số thuận tiện rất
nhiều so với cách lưu trữ truyền thống chính vì vậy mà việc bảo lưu, quản lý, cách
thức sản phẩm và biên tập, chỉnh sửa sản phẩm cũng rất dễ dàng. Việc số hoá sẽ
làm giảm chi phí cho khâu sản xuất. Chi phí sản xuất thấp hơn sẽ làm cho các
chương trình sản xuất có hiệu quả hơn về mặt kinh tế.
Sự phát triển của số hóa và Internet sẽ giảm bớt các rào cản tiếp cận thị
trường, tạo cơ hội cho công nghệ sản xuất mới (chẳng hạn như chơi game online)
và cơ hội sáng tạo cho những doanh nghiệp vừa và nhỏ.
b. Đa dạng hoá văn hoá và toàn cầu hoá tiêu dùng văn hoá:
Toàn cầu hóa kinh tế và tăng cường giao lưu văn hóa: Ngày 16 tháng 11
năm 1972, tại kỳ họp thứ 17 của tổ chức UNESCO đã đưa ra vấn đề bảo vệ các giá
trị văn hóa đa dạng của thế giới, thông qua Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và
thiên nhiên thế giới. Nội dung công ước có viết: "sự phá hủy hoặc biến mất của bất
kỳ nền văn hóa quốc gia nào sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về di sản của các dân tộc,
quốc gia trên thế giới, văn hoá truyền thống dân tộc truyền lại cho các thế hệ tương
lai, là nguồn lực cho sự phát triển hài hòa và phong phú về văn hóa cho hiện tại và
tương lai".
c. Ngoại lệ văn hóa:
Phải đối mặt với sự phát triển mạnh mẽ của “kinh đô” điện ảnh Hollywood
trên thị trường quốc tế, nhiều quốc gia và Liên minh châu Âu đã bày tỏ thái độ
Đất trồng cây hàng năm: 544,18 ha
Đất nuôi trồng Thuỷ sản : 2,94 ha
Còn lại là đất thổ cư, giao thông, thuỷ lợi và đất chưa sử dụng.
1.3. Địa hình: Xã Bắc Phong là một xã thuộc vùng đồng bằng, địa bàn dân cư
sống trải là chủ yếu.
1.4. Thời tiết khí hậu: nắng hạn lưu lượng mưa ít,mưa thường vào tháng 8 đến
tháng 12, vào tháng 11 đến tháng 2 hàng năm phải chịu gió mùa đông bắc.
1.5. Thủy Văn: Trên địa bàn xã có kênh bắc và đập dự trữ nước sông Trâu.
1.6. Tài nguyên thiên nhiên:
a.Tài nguyên nước:
Nguồn nước mặt trên địa bàn xã do kênh Bắc, đập dự trữ nước sông Trâu và
các suối nhỏ cung cấp.
Nguồn nước ngầm: khai thác bằng đào và khoan giếng.
b. Tài nguyên đất : đất phù xa màu mỡ do kênh Bắc bồi lắng, có khoảng 295,6 ha
đất rừng chưa được canh tác.
1.7. Giao Thông : Bắc Phong có hệ thống giao thông gồm: chủ yếu là quốc lộ 1A
chạy qua ngoài ra còn có các hệ thống đường giao thông liên thôn và liên xã thuận
lợi cho xã Bắc Phong phát triển kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp, thương mại dịch
vụ...
2. Đặc điểm xã hội.
2.1. Lịch sử hình thành:
Trước ngày 01/10/2005 thì xã Bắc Phong cò tên là xã Tân Hải và kể từ
ngày 01/10/2005 thì xã Bắc Phong được tách ra từ xã Tân Hải dựa trên:
Căn cứ luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 84/2005/NĐ- CP ngày 07/7/2005 của Chính phủ về
việc thành lập huyện Thuận Bắc tỉnh Ninh Thuận;
Căn cứ Nghị quyết số 35/NQ-TU ngày 20/7/2005 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Ninh Thuận về lãnh đạo thực hiện Nghị định số 84/2005/ NĐ-CP của Chính phủ;
chiếm 34,5%.
So với tiêu chí nông thôn mới sửa đổi, tỷ lệ người làm việc trên dân số trong
độ tuổi lao động” đạt ≥ 90%
Thời gian sử dụng lao động khu vực nông thôn ở xã Bắc Phong: do sản xuất
nông nghiệp chủ yếu là cây lúa và chăn nuôi nên lao động nông nhàn ở Bắc Phong
rất cao. Thời gian sử dụng lao động khu vực nông thôn đạt
phẩm văn hóa, ngành văn hóa Xã Bắc Phong đang từng bước xây dựng và phát
triển các loại hình dịch vụ sao cho phù hợp, vừa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ
của người dân, vừa đảm bảo được bản sắc dân tộc trong thời lỳ hội nhập. Cụ thể
qua cơ cấu tiêu dùng văn hoá, các loại sản phẩm văn hóa và dịch vụ văn hóa trên
địa bàn xã như sau:
a. Thương phẩm văn hóa hình thái vật hóa:
Toàn xã có 4 tụ điểm kinh doanh karaoke, 5 hộ kinh doanh dịch vụ Internet,
10 hộ kinh doanh cà phê, hiện nay đang phát triển thêm dịch vụ cho thuê Karaoke
di đông có 6 hộ kinh doanh loại dịch vụ này. Về dịch vụ văn hóa đọc trên địa bàn
huyện có 3 Thư Viện và 3 phòng đọc cơ sở, với tổng số sách thư viện hiện có
8.541 bản, ngoài ra có các hộ kinh doanh mặt hàng chủ yếu là sách giáo dục; số
điểm đại lý bưu điện là 1; phát triển hệ thống văn hóa cơ sở đến nay toàn huyện có
3 nhà văn hóa/3 thôn trang thiết bị âm thanh, được trang bị đủ để phục vụ cho các
hoạt động VH-VN-TT. Hệ thống truyền thanh 3/3 thôn đã phủ đều các tuyến
đường trong thôn riêng Đài truyền thanh đạt tại trung tâm hành chính xã.
b. Thương phẩm văn hóa hình thái hành vi:
Trong năm, các chương trình biểu diễn nghệ thuật mang tính tuyên truyền
được tổ chức và thực hiện như: Tổ chức văn nghệ mừng Đảng – mừng xuân; giải
bóng chuyền nam mừng đảng mừng xuân, giải bóng chuyền nữ ngày 8/3 hàng
năm, các cuộc thi tìm hiểu về cây nông nghiệp, an toàn giao thông, hội thi nhà
nông đua tài... Ngoài ra còn có câu lạc bộ như: CLB. Người cao tuổi,
c. Hướng công nghiệp cung cấp văn hóa kèm gia tăng giá trị:
Các sản phẩm về công nghiệp văn hóa trên địa bàn xã chủ yếu là văn nghệ
thể thao trên địa xã có 3 sân bóng chuyền và 1 sân đá bóng.
Tổng số trạm phát sóng di động trên địa bàn xã có 3 trạm; viettel và
VietNamMobil đặt tại thôn Mỹ Nhơn,Vinaphone đặt tại thôn Ba Tháp.
Số lượng cơ sở lắp ráp điện tử - tin học: 4 cơ sở.
2. Thị trường tiêu dùng:
30,5%.
d. Thị trường vật phẩm văn hóa: Có các cơ sở cung cấp các thiết bị công nghệ
như: máy quay phim, máy chụp hình….Thị trường này thường phát triển theo sở
thích và kinh tế nên mức hiệu quả trên địa bàn đạt khoảng 19%.
e. Thị trường mỹ thuật: Gồm có điêu khắc và chạm trổ, thị trường này dành cho
giới thượng lưu, người đam mê mỹ thuật nên hạn chế đối tượng tiêu thụ, hiệu quả
đạt khoảng 0,6%
f. Thị trường văn hóa giải trí: Gồm có cơ sở kinh doanh Internet, quán karaoke;
Café chiếu phim; tụ điểm hát với nhau; sân chơi thể thao... Thị trường này thu hút
nhiều đối tượng, không phân vùng, gần gũi với người dân nên phát huy hiệu quả
tối đa 85%.
4. Đầu tư văn hóa:
Theo thực trạng hoạt động văn hóa trên địa bàn xã Bắc Phong, mức độ đầu
tư văn hóa ở một số hạng mục cho lĩnh vực đầu tư phi sản xuất và đầu tư sản xuất
như sau:
4.1. Đầu tư phi sản xuất:
Đầu tư cho các họat động văn hóa nghệ thuật như: đầu tư cho Trung tâm văn
hóa hoạt động các chương trình hội thi, ca nhạc, thông tin cổ động…; đầu tư
Đầu tư khôi phục các di sản văn hóa truyền thống như: cấp kinh phí tổ chức
các ngày lễ ở xã cũng như việc gìn giữ các phong tục tập quán truyền thống ở các
vùng dân tộc thiểu số.
4.2. Đầu tư sản xuất:
Đầu tư cho các mô hình thể dục thể thao như: các sân bóng chuyền, sân đá
bóng.
Đầu tư cho du lịch như: xây dựng, tu bổ các công trình khu vui chơi giải trí,
như khu di tích Ba Tháp…
CHƯƠNG 4
b. Về sản phẩm:
Lĩnh vực văn hóa là một hoạt động đa năng, đáp ứng nhu cầu giao lưu,
hưởng thụ và sáng tạo văn hóa ở mọi tầng lớp dân cư trên địa bàn xã. Các lễ hội,
hoạt động thi đấu, văn hóa – thể thao, vui chơi giải trí, câu lạc bộ hát với nhau, câu
lạc bộ hưu trí…khuyến khích phát huy khả năng sáng tạo văn hóa – nghệ thuật
quần chúng, thể dục thể thao…thỏa mãn nhu cầu sáng tạo văn hóa của mỗi cá
nhân, phát hiện tài năng. Ngoài ra, mở câu lạc bộ nâng cao kiến thức chuyên ngành
mà mỗi cá nhân ưa thích, câu lạc bộ giúp người ta trang bị một nghề mới hay nâng
cao tay nghề qua các lớp hướng dẫn: Quay phim, chụp ảnh, tin học, ngoại ngữ,
thiêu đan, nữ công gia chánh, trồng cây cảnh…Hoạt động hấp dẫn và đáp ứng nhu
cầu của quần chúng, thu hút đông đảo quần chúng đến tham gia hưởng thụ và sáng
tạo văn hóa.
1.2. Điềm yếu:
Hiện nay, ngành văn hóa - thông tin, nhà văn hóa là đơn vị sự nghiệp thực
hành ngiệp vụ mang tính sự nghiệp văn hóa – thông tin ở cơ sở, nhà nước bảo trợ
kinh phí. Ngành văn hóa - thông tin, nhà văn hóa chỉ nhấn mạnh tính đặc thù của
sự nghiệp văn hóa – thông tin cơ sở, mà không tính hiệu quả kinh tế nên nảy sinh
ra chờ đợi, thiếu sáng tạo trong hoạt động không đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã
hội. Mặc khác nếu chỉ nhấn mạnh hiệu quả kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế làm thước
đo sẽ chạy theo kinh doanh đơn thuần, lãng quên tính mục đích, buông lỏng nội
dung và chất lượng nghiệp vụ. Tuy nhiên kinh tế là phương tiện giúp thực hành
nghiệp vụ văn hóa – xã hội đạt hiệu quả cao hơn.
Tình hình chung của ngànhvăn hóa – thông tin, nhà văn hóa cơ sở hiện nay
là, xây dựng kế hoạch hoạt động chỉ dựa vào các ngày lễ hội trong năm, nội dung
hoạt động chỉ mang tính tuyên truyền và trong chờ kinh phí cũng như sự chỉ đạo từ
cấp trên. Chưa khảo sát khai thác hết tiềm năng thị trường tiêu dùng văn hóa để
đưa ra chiến lược làm kinh tế văn hóa.
Hiện tại nguồn nhân lực về lĩnh vực văn hóa trên địa bàn huyện còn hạn chế,
cư thường có những hành vi tiêu dùng khác nhau, và điều này góp phần quyết định
thành công hay thất bại trong quá trình phát triển sản phẩm.
Sự phát triển cộng nghệ giải trí tại nhà đang trở thành mối đe dọa đối với các
chương trình văn hóa nghệ thuật biểu diễn trực tiếp. Kinh tế phát triển sẽ tạo sức
mua cao, nhưng đây cũng là thách thức, vì công chúng có thể bỏ ra số tiền cao để
mua sản phẩm có chất lượng cao. Các chính sách có thể thay đổi trong các giai
đoạn khác nhau, nên có những tác động trực tiếp đối với hoạt động văn hóa của các
tổ chức. Những yếu tố thuộc thị trường, sự cạnh tranh văn hóa - xã hội, công nghệ,
kinh tế, chính trị, pháp luật và nhân khẩu học, cần phải được phân tích và cân nhắc
như là những cơ hội hay thách thức đối với quá trình vận hành của các tổ chức văn
hóa nghệ thuật.
2. Xây dựng thị trường văn hóa:
2.1. Triển khai tài nguyên văn hóa:
Về phong tục tập quán, cộng đồng dân cư sống tập trung theo làng xã, theo
tộc người, theo dòng họ, và có phong tục thờ cúng tổ tiên, đa số làm nghề nông.
Cơ sở tôn giáo: có 1 chùa nằm trên địa bàn thôn Mỹ Nhơn và 2 đình tại 2
thôn Mỹ Nhơn và Ba Tháp.
2.2. Kim soát kinh tế vĩ mô:
Nhà nước kiểm soát quản lý qua các văn bản pháp luật ở tầm vĩ mô đối với
các hoạt động văn hóa. Đồng thời đưa ra những chính sách để kiểm soát kinh tế vĩ
mô như: Chính sách đầu tư văn hóa: làm công nghiệp văn hóa tạo ra sản phẩm, dựa
vào nội dung; chính sách thuế; chính sách giá có tính đàn hồi; chính sách hỗ trợ
hữu hiệu.
3. Chính sách đầu tư:
3.1. Nhân lực:
Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn cho đội ngũ lãnh đạo,
quản lý văn hóa các cấp đủ năng lực và phẩm chất đảm đương nhiệm vụ. Mở rộng
hình thức đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn theo từng chuyên dề, đào tạo sau đại học.
hóa.
Nguồn tài chính đầu tư cho chiến lược phát triển văn hóa ở xã về nhân lực
và vật lực ước khoảng 200 triệu đồng/năm.
3.4. Thời gian:
Do cơ cấu hệ thống về lĩnh vực hoạt động văn hóa của xã Bắc Phong chưa
đồng bộ, nên việc đầu tư nâng cao các hoạt động văn hóa trên địa bàn xã cần có
nhiều thời gian. Đầu tư phần cơ bản về nhân lực và vật lực cần có chiến lược
khoảng 15 năm. Đầu tư cho phát triển bền vững cần có chiến lược khoảng 25 năm.
4. Quản lý kinh tế văn hóa:
4.1. Điều tiết kiểm soát cơ bản trong kinh tế:
Chính sách giá thương phẩm và đặc biệt là thương phẩm văn hóa
quan hệ cung cầu về thương phẩm, thương phẩm văn hóa.