Quản lý nhà nước về xây dựng từ thực tiễn tỉnh nghệ an ( Luận văn thạc sĩ) - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THU THỦY

QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ XÂY DỰNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số

: 60.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. NGUYỄN HOÀNG ANH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn

ĐỖ THỊ THU THỦY

- VPHC: Vi phạm hành chính


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Số hiệu

Tên bảng biểu, sơ đồ

Trang

Bảng 2.1

Tổng hợp đánh giá đất xây dựng

26

Sơ đồ 2.2

Cơ cấu tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về
xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh

31

Bảng 2.3

Tổng hợp, thống kê số lượng dự án được phê

36

duyệt đầu tư và cấp phép xây dựng từ năm 2013

có tốc độ đô thị hóa là 3,4%, mục tiêu đô thị hóa 50% đến năm 2025. Xu hướng
mở rộng đô thị, xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư đang ngày càng
phát triển, đặc biệt là ở các đô thị lớn.
Thành phố Vinh nói riêng, tỉnh Nghệ An nói chung có vị trí, vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và vùng BTB (BTB). Bộ
Chính trị khóa IX đã ban hành Kết luận số 20-KL/TW ngày 02 tháng 06 năm
2003 về một số chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An đến năm
2005 và 2010, bao gồm nhiệm vụ xây dựng thành phố Vinh trở thành trung tâm
kinh tế văn hóa của vùng BTB. Ngày 30 tháng 09 năm 2005, Thủ tướng Chính
phủ đã ký Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phát triển Thành
phố Vinh, tỉnh Nghệ An trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng BTB”. Qua
mười một năm triển khai thực hiện, đứng trước sự thay đổi nhanh chóng của tình
hình trong nước và quốc tế, ngày 30 tháng 07 năm 2013, Bộ Chính trị đã ban
hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ
An đến năm 2020 trong đó có nhiệm vụ “Xây dựng thành phố Vinh thành trung tâm
vùng BTB về tài chính, thương mại, du lịch, khoa học - công nghệ, công nghệ thông
tin, công nghiệp công nghệ cao, y tế, văn hóa, thể thao, giáo dục - đào tạo”.
Trong những năm qua, tình hình đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh phát
triển mạnh mẽ, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong đó, thành phố Vinh đã đẩy mạnh phát triển theo hướng trở thành trung

1


tâm của quá trình đô thị hóa và động lực phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An
và vùng kinh tế BTB mà Nghị quyết 26 của Bộ Chính Trị đã định hướng. Ngày
05/09/2008, thành phố Vinh vinh dự đón nhận Quyết định số 1210/QĐ- TTG
của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là
đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nghệ An. Thành phố Vinh với quyết tâm lớn đã
hoàn thành công tác xây dựng nông thôn mới tại 9 xã ngoại thành, tạo đà cho sự

- Luận văn cao học của Nguyễn Thế Anh- Trường Đại học Kinh tế về
“Quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách trên địa bàn
huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An”
- Luận văn cao học của Phạm Văn Bá-Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
về “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Quỳnh Lưu,
tỉnh Nghệ An”.
- Trần Ngọc Chính (2016), Quy hoạch xây dựng thành phố Vinh thành đô
thị hiện đại và đặc sắc miền Trung.
- Nguyễn Đình Chúc (2016), Xây dựng thành phố Vinh thành thành phố
sinh thái.
- Nguyễn Đình Long (2017), Phát triển thành phố Vinh trong kết nối đô
thị nông thôn hiện đại.
- Luận văn cao học của Nguyễn Minh Phương- Trường Đại học Vinh về
“Tăng cường QLNN đối với đầu tư xây dựng trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh
Nghệ An”.
- Luận văn cao học của Đặng Thị Thảo- Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
về “ Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước tại Kho bạc
Nhà nước Nghệ An”.
- Trần Đình Thiên (2017), Phát triển thành phố Vinh trong thế liên kết
vùng: Cơ hội để thay đổi tầm nhìn và tư duy phát triển.
Đây là những tư liệu có thể tham khảo được trong quá trình nghiên cứu
viết luận văn. Tuy nhiên, hầu hết các đề tài này đều đi sâu vào khía cạnh chuyên
môn- kỹ thuật hoặc một nội dung cụ thể của hoạt động xây dựng, hoặc tiếp cận
từ QLNN, chưa có đề tài nào nghiên cứu về công tác QLNN đối với hoạt động
xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư trên địa bàn thành phố Vinh từ góc
độ pháp luật.

3



đô thị, khu nhà ở và chung cư ở tỉnh Nghệ An hầu hết chỉ tập trung trên địa bàn
thành phố Vinh (chiếm hơn 80% của cả tỉnh), hơn nữa các dự án ở các thị xã và
huyện trên địa bàn tỉnh hầu hết triển khai chậm tiến độ hoặc chậm khởi công nên
đã có kiến nghị thu hồi hầu hết dự án. Do vậy, để việc nghiên cứu có trọng tâm
và đi sâu vào thực tế, học viên mạnh dạn giới hạn việc nghiên cứu chỉ tập trung

4


vào vấn đề QLNN về xây dựng trong lĩnh vực xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và
chung cư trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động QLNN về xây dựng
khu đô thị, khu nhà ở và chung cư trên địa bàn thành phố Vinh từ năm 2013 đến
năm 2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong
nghiên cứu và giải quyết vấn đề.
- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên
cứu để giải quyết những vấn đề cụ thể như: phương pháp tiếp cận hệ thống,
phương pháp kế thừa, phương pháp khảo sát, tổng hợp, phân tích, thống kê, so
sánh...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác QLNN trong lĩnh vực
xây dựng khu đô thị, khu nhà ở và chung cư có ý nghĩa thực tiễn đối với địa bàn
thành phố Vinh theo mô hình đô thị “đa cực, sinh thái phi tập trung” với mục
tiêu phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo đối với
QLNN ở các địa phương khác cũng như trong công tác giảng dạy và nghiên cứu.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn

Khi nhà nước xuất hiện thì phần lớn (và là phần quan trọng) các công việc
của xã hội do nhà nước quản lý. QLNN được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và
nghĩa hẹp. QLNN theo nghĩa rộng bao hàm QLNN theo nghĩa hẹp. Cách hiểu
“QLNN theo nghĩa hẹp” chính là nghĩa vốn có của thuật ngữ “QLNN” trong
khoa học Luật hành chính Xã hội chủ nghĩa cũng như ở Việt Nam từ trước đến
nay, cụ thể là:
Theo nghĩa rộng, QLNN là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói
chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức
năng của nhà nước. Nói cách khác, QLNN là hoạt động của nhà nước trên các

6


lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội,
đối ngoại của nhà nước. QLNN được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, các tổ
chức chính trị, chính trị- xã hội, các cá nhân được nhà nước giao quyền thực
hiện chức năng nhà nước. QLNN được hiểu là quản lý mang tính chất nhà nước,
do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước và pháp luật là phương tiện
chủ yếu để QLNN. Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa QLNN và các hình
thức quản lý khác (quản lý của các tổ chức chính trị- xã hội, của các tổ chức xã
hội...) là tính quyền lực nhà nước. Xét về mặt chức năng, QLNN theo nghĩa rộng
bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Còn theo nghĩa hẹp, QLNN là hoạt động quản lý do một loại cơ quan đặc
biệt thực hiện mà Hiến pháp và luật gọi là cơ quan hành chính nhà nước. Đó là
hoạt động chấp hành Hiến pháp, luật và điều hành trên cơ sở Hiến pháp và luật
đó, vì thế còn gọi là hoạt động chấp hành và điều hành nhà nước. Tính chấp
hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thực hiện ở sự thực hiện
trên thực tế Hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lập pháp. Tính
điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện: để đảm bảo cho
các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế thì các




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status