Lịch sử Hlh thanh niên Việt nam - Pdf 50

Web Site Tìm Kiếm
18 Tháng Tư 2009 - Đăng Ký - Đăng
Nhập

Nội dung chi tiết LỊCH SỬ
HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN VIỆT NAM
(1925-2004)
"Thanh niên cần phải có tinh thần gan dạ, sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến
lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng…"
Hồ Chí Minh.
Phần thứ nhất
NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SÁNG LẬP, RÈN LUYỆN
MẶT TRẬN ĐOÀN KẾT THANH NIÊN VIỆT NAM
(1925-1945)
Chương I:
Nguyễn ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước
và chủ trương thức tỉnh thanh niên,
đưa thanh niên vào con đường tranh đấu
giải phóng dân tộc giải phóng giai cấp
Sau khi nổ súng xâm lược nước ta, thực dân Pháp phải mất gần 30 năm mới đặt được bộ máy
thống trị của chúng do sự ươn hèn của vua quan nhà Nguyễn ký Hiệp ước công nhận quyền bảo hộ
cho bọn thực dân năm 1884. Từ đó, nhân dân ta phải sống trong cảnh lầm than, cơ cực dưới hai
tầng áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến. Bọn cướp nước và bè lũ tay sai bán nước đã thi
hành một chính sách cai trị cực kỳ dã man, tàn bạo. Chúng trắng trợn đàn áp về chính trị, bóc lột
tàn tệ về kinh tế, đầu độc thâm hiểm về văn hoá và tinh thần. Trong tình cảnh đó, các tầng lớp
thanh niên nước ta không sao thoát khỏi số phận đen tối. Một trong muôn vàn tội ác của bọn thực
dân phong kiến đối với thanh niên là buôn người đưa họ bán đi biệt xứ làm phu trên các đảo xa
xôi. Bán được một thanh niên, chúng lãi ba nghìn frăng (tiền Pháp). Hàng vạn thanh niên đã trở

Campuchia và các nước thuộc địa khác.
Với nhiệt huyết của tuổi thanh niên, Nguyễn ái Quốc sáng lập ra “Nhóm những người Việt Nam yêu
nước” tại Pháp. Thành viên của nhóm hầu hết là thanh niên công nhân, binh lính và những người
du học (thực dân Pháp đã bắt hơn 10 vạn thanh niên nông dân, công nhân sang phục vụ chiến
tranh thế giới lần thứ nhất tại Pháp). Nhóm hoạt động mạnh mẽ làm cho giới cầm quyền Pháp rất
lo ngại. Do công tác tuyên truyền, tổ chức của nhóm được tiến hành tích cực nên cơ sở của nhóm
phát triển khá mạnh. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chân thành mời hai nhà yêu nước Phan Châu
Trinh và Phan Văn Trường tham gia “Nhóm những người Việt Nam yêu nước”, song cả hai ông
không tán thành, vì các ông cho rằng “nhóm thanh niên ấy là trẻ con”.
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Hội nghị Vécxây (Versailles) giữa các nước thắng trận
họp tại Thủ đô Paris vào ngày 18/6/1919. Nguyễn ái Quốc thay mặt nhóm những người Việt Nam
yêu nước ở Pháp đưa tới Hội nghị tám điểm đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền tự do, dân
chủ, quyền bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách này được gửi đến các đoàn
đại biểu Đồng minh và tất cả các nghị viên của Quốc hội Pháp. Báo “Nhân đạo” (L'Humanité) và
nhiều nhật báo khác ở Pháp đã đăng nguyên văn hoặc trích đăng bản yêu sách chính trị quan
trọng này. Nguyễn ái Quốc cùng những đồng chí của Người đã cho in bản yêu sách thành truyền
đơn gửi về trong nước. Dư luận ở Paris cũng như ở Pháp coi việc làm của người thanh niên yêu
nước Nguyễn ái Quốc như quả bom chính trị nổ ngay giữa Paris.
Tháng 7 năm 1920, Nguyễn ái Quốc sung sướng, vui mừng vì được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất
những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin, khẳng định lập trường
kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông của Quốc tế Cộng sản.
Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba.
Tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua (Tours – 12/1920), Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán
thành việc gia nhập Quốc tế III, và cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế III tuyên bố
thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế cộng sản (Section Fran?aise de I’Internationale Communiste,
viết tắt là S.F.I.C). Sự kiện Nguyễn ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, tham gia
thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước
ngoặt trong hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con
đường cách mạng vô sản. Sự kiện này cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng
hoảng về đường lối giải phóng dân tộc Việt Nam.

Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa
Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh?
Anh em ta phải tính làm sao…?
Chẳng mấy chốc nhóm bạn thân trường Bưởi đã truyền cho nhau bài thơ chứa chan lòng yêu nước,
thương nòi và trăn trở bởi câu hỏi cụ đặt ra: “Anh em ta phải tính làm sao?”
Nhưng rồi tin vui bỗng đến, mấy thanh niên từ Hải Phòng, Nam Định lên Hà Nội kể chuyện chính
họ đã được đọc báo từ Pháp mang về có đăng “Yêu sách đòi quyền tự do, tự quyết” gửi đến các đại
biểu nhiều nước dự Hội nghị Vécxây tại Paris của Nguyễn ái Quốc. Họ say sưa kể về ông Nguyễn
lập Hội, xuất bản báo ngay trên đất Pháp để đấu tranh với Pháp. Quả là chuyện lạ mà có thật vì
báo chí đã đăng, giấy trắng mực đen rõ ràng chứ đâu như thơ của cụ Phan phải truyền khẩu bí
mật.
Anh em cử người về Hải Phòng và liên hệ với cả trong Nam để bắt liên lạc với thuỷ thủ trên các
con tàu viễn dương từ Macxây (một hải cảng lớn của Pháp) sang, mong có thêm sách báo và tin
tức về người lãnh đạo mới mà họ đang hướng tới: Nguyễn ái Quốc. Trong bối cảnh bế tắc, nghi
ngờ của lớp thanh niên, học sinh, sinh viên về con đường do các sỹ phu lớp trước chủ trương bị
thất bại, Nguyễn ái Quốc đưa ra nhận định sáng suốt trong bài viết về Đông Dương: “Một luồng
gió giải phóng mạnh mẽ đang làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Người Airơlen, Ai Cập, Triều
Tiên, ấn Độ… tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đang đấu tranh dũng cảm
cho nền độc lập ngày mai của họ”. Và Người khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người
Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm”.
Thư của Nguyễn ái Quốc gửi thanh niên Việt Nam, báo Người cùng khổ và tác phẩm Bản án chế độ
thực dân Pháp của Người từng bước thức tỉnh các tầng lớp thanh niên nước ta. Nguyễn ái Quốc là
nhà yêu nước trẻ tuổi Việt Nam đầu tiên đã giải thích một cách đúng đắn rằng mọi sự chưa thành
của lớp người đi trước là do thiếu tổ chức và thiếu người biết tổ chức, chưa có một đường lối đúng
đắn, một tổ chức chặt chẽ.
Mùa hè năm 1923, Nguyễn ái Quốc đến Liên Xô, đất nước của Cách mạng Tháng Mười và V.I.
Lênin vĩ đại. Tại Mátxcơva, Người tham gia nhiều Đại hội và Hội nghị quốc tế, viết nhiều bài đăng
trên các báo Sự thật (?pabga) và Thư tín quốc tế (Correpondance Internationnale).
Ngày 17/6/1924, Nguyễn ái Quốc là đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V
khai diễn tại Nhà hát lớn Mátxcơva.

tế Thanh niên Cộng sản và Nguyễn ái Quốc đã may mắn sớm có mối liên hệ với tổ chức này. Luận
cương nhận định rằng thanh niên các thuộc địa dần dần hướng phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Họ đi theo ngọn cờ của Lênin vì họ tìm thấy
ánh sáng soi đường trong Luận cương về vấn đề dân tộc nổi tiếng của Người.
Tiếp đến, Luận cương về thanh niên thuộc địa nêu lên yêu cầu cấp bách phải tổ chức, tập họp lực
lượng thanh niên cách mạng và xây dựng cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản ở các thuộc địa. Đây là
mâu thuẫn gay gắt nổi lên trong những năm đầu thế kỷ ở các thuộc địa, giữa đòi hỏi của nhiệm vụ
cách mạng và những khả năng để giải quyết những nhiệm vụ đó. Vấn đề “Thiếu tổ chức và thiếu
người tổ chức” mà sau này vào năm 1925 trong “Thư gửi thanh niên An Nam” của đồng chí
Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ là tình hình chung của nhiều nước thuộc địa khác trên thế giới chứ không
chỉ riêng ở Việt Nam. Luận cương về thanh niên thuộc địa đặt ra yêu cầu khẩn thiết về việc hình
thành các đoàn thể thanh niên cách mạng và tiến tới xây dựng các tổ chức thanh niên cộng sản ở
thuộc địa là nhằm giải quyết mâu thuẫn nêu trên.
Cuối cùng, Luận cương về thanh niên thuộc địa nhấn mạnh việc tăng cường mối liên hệ giữa các tổ
chức thanh niên cách mạng, thanh niên cộng sản ở các thuộc địa với tổ chức thanh niên cộng sản
ở chính quốc.
Luận cương vạch ra những công việc cụ thể về giúp đỡ vật chất, tinh thần của các tổ chức TNCS
chính quốc với các tổ chức TNCS ở thuộc địa.
Nghiên cứu toàn bộ Luận cương về thanh niên thuộc địa do đồng chí Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn
thảo tại Đại hội lần thứ IV Quốc tế TNCS (1924) chúng ta tìm thấy nhiều ý tưởng, quan điểm về
vấn đề thanh niên thuộc địa mà trước đó đồng chí Nguyễn ái Quốc đã nhiều lần đề cập đến trong
các bài viết của Người trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp hoặc trong các cuộc tranh luận nội bộ
về các vấn đề có quan hệ đến trách nhiệm của Đảng đối với phong trào thuộc địa cũng như các bài
viết của Nguyễn ái Quốc đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản và báo Sự thật
của Đảng Cộng sản Liên xô.
Luận cương về thanh niên thuộc địa đã đưa ra những quan điểm rất cơ bản và chỉ rõ nhiệm vụ cụ
thể về tổ chức, giáo dục và hướng dẫn cuộc đấu tranh vì những mục tiêu độc lập, tự do, giải phóng
giai cấp, giải phóng dân tộc của thanh niên các nước thuộc địa.
Luận cương vừa có giá trị như một cương lĩnh chính trị, vừa như một chương trình hành động phù
hợp với tình hình, nguyện vọng của hàng chục triệu thanh niên đang bị áp bức, đoạ đày do chính

Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều… cùng một số thầy giáo trẻ ở miền Trung nhóm họp tại
Vinh và quyết định thành lập Hội Phục Việt sau này là Tân Việt. Tháng 3 năm 1926, nhà yêu nước
trẻ tuổi Nguyễn An Ninh tập hợp một số thanh niên viên chức, thầy giáo yêu nước vào tổ chức
Thanh niên Cao Vọng. Những tổ chức thanh niên yêu nước đó hoạt động rất hăng hái, như: Hội
Phục Việt đã vận động hội viên tham gia cuộc đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu với nhiều hình
thức phong phú, hô hào thanh niên biến cuộc đưa đám tang cụ Phan Chu Trinh thành cuộc biểu
dương lực lượng của quần chúng.
Vào thời gian có nhiều sự kiện đặc biệt đó, sau khi dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần
thứ IV, Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) với trách nhiệm nặng nề đối
với phong trào cách mạng ở Đông Dương và Châu á. Người đã khẩn trương tìm hiểu tình hình và
tìm cách bắt liên lạc với những thanh niên Việt Nam yêu nước tại đây, qua sự giúp đỡ một phần
của Phái đoàn cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.
Liên tiếp trong hai ngày 18 và ngày 19 tháng 12 năm 1924, Nguyễn ái Quốc gửi thư và báo cáo
cho Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản, trong đó Người đánh giá cao tinh thần cách mạng của một số
thanh niên yêu nước mà Người đã tiếp xúc.
Từ tháng 12 năm 1924 cho đến tháng 2 năm 1925 là thời gian Nguyễn ái Quốc làm việc mật thiết
với nhóm thanh niên trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Người đã thẳng thắn nêu lên những thiếu sót
trong nhận thức, hành động của nhóm này và tỏ rõ sự khâm phục tinh thần yêu nước của các
chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi như trường hợp Phạm Hồng Thái. Dưới hình thức những lớp bồi dưỡng
nhỏ, phân tán, Nguyễn ái Quốc đã giới thiệu với anh em về Cách mạng Tháng Mười Nga, về Quốc
tế Cộng sản, về Chủ nghĩa xã hội khoa học, về học thuyết Mác – Lênin. Tác dụng của các lớp học
đầu tiên này đối với số thanh niên đang khát khao lý tưởng thật là to lớn. Kết luận mà Nguyễn ái
Quốc rút ra cho các học trò của Người là muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải dựa vào quần
chúng nhân dân, nhất là công nhân, nông dân, phải có một Đảng tiên phong theo chủ nghĩa Mác –
Lênin lãnh đạo.
Với lý luận sắc bén, kinh nghiệm phong phú, tác phong cởi mở, Nguyễn ái Quốc đã tạo nên niềm
tin mạnh mẽ cho số thanh niên yêu nước và đưa dần họ đến với chân lý cách mạng.
Lúc này, Nguyễn ái Quốc chủ trương tổ chức một nhóm bí mật. Tuy về quy mô chỉ là nhóm đầu
tiên nhưng có đầy đủ Chương trình, Điều lệ…
Hoàn thành xong nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử này, ngày 19/2/1925, Nguyễn ái Quốc đã gửi báo

sản Việt Nam đầu tiên vào đầu năm 1925 đã góp phần minh chứng tính đúng đắn của Luận cương
về thanh niên thuộc địa do Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn thảo.
Từ nhóm bí mật 9 người, chỉ trong vòng hơn 4 tháng sau, các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi dưới sự
hướng dẫn của Nguyễn ái Quốc vừa lo tổ chức, huấn luyện, bồi dưỡng cho những thanh niên ở
trong nước ra, vừa lo chuẩn bị chương trình, điều lệ, vv… để đến tháng 6-1925, Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên chính thức tuyên bố thành lập và bắt đầu mở rộng các hoạt động tạo được bước
ngoặt quan trọng trong phong trào yêu nước của nhân dân, đặc biệt là của thanh niên ta.
Tuân theo di huấn của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”,
Nguyễn ái Quốc lần lượt mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu. Mục đích học tập là: “Học
làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Học xong họ lại bí mật về nước truyền bá lý luận, giải
phóng dân tộc và tổ chức nhân dân".
Nguyễn ái Quốc cùng với các cộng sự đắc lực của Người như các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng
Phong, Lê Hồng Sơn vv… đã mở liên tiếp các lớp huấn luyện thu hút khá đông thanh niên yêu nước
ở các miền Bắc, Trung, Nam sang Quảng Châu học tập.
Theo báo cáo của Nguyễn ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, từ năm 1924 đến năm
1927, Người đã mở được ba khoá huấn luyện cho 75 người, xuất bản được 3 tờ báo nhỏ. Đây là
vốn quý mà Người đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Hy vọng tuyệt đại bộ phận được trở về
Trung Kỳ, Nam Kỳ, Bắc Kỳ, về Xiêm để hoạt động, tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc và tổ
chức nhân dân. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những học viên được cử phụ trách các cơ sở
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở các tỉnh phía Nam nước ta.
Học viên tuy là những người có trình độ văn hoá (phần lớn là học sinh, giáo viên) nhưng còn hết
sức bỡ ngỡ với biết bao khái niệm chính trị, triết học… mà họ chưa biết đến.
Tất cả những điều mới mẻ trên có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với lớp thanh niên đang khát khao lý
tưởng, khát khao tìm đường cứu nước, cứu dân. Họ hấp thụ chân lý chủ nghĩa Mác – Lênin như
hấp thụ ánh sáng mặt trời.
Đối với công tác thanh niên, học viên được nghe giới thiệu về Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Đây là
đường lối công tác thanh niên theo chủ nghĩa Mác – Lênin lần đầu tiên được truyền bá vào Việt
Nam.
Các bài giảng của Nguyễn ái Quốc tại các lớp huấn luyện thanh niên yêu nước ở Quảng Châu đã
được tập hợp và in thành sách với tên chung là Đường kách mệnh.

Về nội dung, báo Thanh niên có các loại bài xã luận, bình luận, truyện lịch sử thế giới, truyện lịch
sử dân tộc và tin tức, đặc biệt có thêm việc hướng dẫn tổ chức các đoàn thể, kinh nghiệm các cuộc
cách mạng trên thế giới và giới thiệu về những thành tựu của Liên Xô.
Nhìn lại các bài viết trên báo Thanh niên, chúng ta thấy rõ mục đích của báo là:
- Phát động phong trào yêu nước, căm thù giặc, đặc biệt là trong các tầng lớp thanh niên, bồi
dưỡng quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược để giành lại độc lập, tự do cho đất nước.
- Giới thiệu kinh nghiệm lịch sử, nhất là kinh nghiệm các cuộc vận động cách mạng ở nhiều nước
để vận dụng vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, giới thiệu về chủ nghĩa cộng sản và
những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như những vấn đề chủ yếu về chiến lược,
sách lược của cách mạng Việt Nam.
- Từng bước lý giải về sự cần thiết phải thành lập một Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lê
nin; giáo dục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tuổi trẻ trước sự nghiệp giải phóng dân
tộc và giai cấp.
Với lối viết giản dị nhưng chứa đựng tinh thần tố cáo và cổ vũ sâu sắc, báo Thanh niên kêu gọi
nhân dân và tuổi trẻ đứng lên đấu tranh.
Về mức độ phổ biến của báo Thanh niên, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng những cơ sở của Hội Việt
Nam Cách mạng Thanh niên đã cố gắng giới thiệu báo Thanh niên cho hội viên và những người
cảm tình với Hội đọc. Các đầu mối tiếp nhận báo ở trong nước lúc đó là Cảng Hải Phòng, Hà Nội,
Nam Định v..v.. và một số cơ sở ở Sài Gòn (Nhận báo Thanh niên qua đường từ Băng Cốc đưa về).
Tên mật thám cáo già Lui Mácti đã nhận xét khái quát qua 88 số báo Thanh niên mà y có như sau:
“Trong số báo đầu tiên, Nguyễn ái Quốc nhấn mạnh trước hết sức mạnh và sự đoàn kết đã đem lại
cho một tập thể, nhấn mạnh đến lợi ích mà những cá nhân trong tập thể ấy thu được. Nguyễn ái
Quốc đã thức tỉnh tinh thần độc lập và tình cảm dân tộc, đặc trưng cho tính khí người An Nam.
Tiếp đó, dần dà ông cung cấp cho độc giả của mình những hiểu biết về lịch sử An Nam và các trào
lưu tư tưởng nước ngoài, và lịch sử các cường quốc thế giới vv… Rồi lần lượt ông đưa ra từng thuật
ngữ Hán – Việt tương ứng với một cuốn từ vựng mới về chủ nghĩa cộng sản và nêu ra một định
nghĩa rõ ràng, chính xác về thuật ngữ ấy. Từng bước, lúc đầu còn ít và về sau thường xuyên hơn,
ông công bố một câu hoặc một bài báo ngắn thông báo cho độc giả biết sự tồn tại của Liên Xô và
hạnh phúc mà nhân dân Xô Viết đã được hưởng. Nguyễn ái Quốc cũng không ngần ngại dành đến
60 số báo của mình để chuẩn bị tinh thần cho độc giả, trước khi ông nói rõ ý đồ của mình, khi ông

trường Thành Chung, Nam Định cũng về Hà Nội.
Sân toà đại hình Hà Nội đông nghịt cả trong, ngoài với các tầng lớp nhân dân nội, ngoại thành và
các tỉnh, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên. Đây là quang cảnh chưa từng có từ khi thực dân
Pháp đặt ách đô hộ lên nước ta ở Hà Nội. Toà đọc cáo trạng buộc cụ Phan phạm tội nổi loạn chống
Nhà nước bảo hộ và Triều đình. Cụ đanh thép trả lời làm nức lòng đồng bào. Đặc biệt, viên trạng
sư người Pháp đứng ghế bào chữa cũng phải thốt lên: “Thưa quý toà, trong mấy chục năm gần
đây, lịch sử Việt Nam hoà cùng lịch sử Phan Bội Châu. Dù tôi là người Pháp, đối với Phan Bội Châu
tôi cũng phải hâm mộ. Tôi hâm mộ cái thân thế quang vinh, tinh thần cao thượng, nghị lực bất
khuất của ông…”.
Tuy nhiên, bất chấp tất cả, bọn quan toà vẫn tuyên án xử tử Phan Bội Châu. Hàng nghìn người
trong đó đông nhất vẫn là thanh niên, học sinh, sinh viên thét lên phản đối cùng với nhiều tiếng
khóc phẫn uất. Không khí đang náo loạn bỗng lắng xuống khi có một người đầu đội khăn xếp, mặc
áo the, vừa thét lớn vừa băng băng chạy thẳng lên vành móng ngựa quát to:
- Không được, không được… cụ Phan Bội Châu không thể chết được! Tôi, tôi tự nguyện xin chết
thay cho cụ Phan!
Đôi mắt ông quắc lên dữ dội nhìn thẳng vào kẻ thù trong lúc rừng người đang xáo động, cảm phục
hành động chưa từng thấy. Người ấy là ông Tú Doanh - Tú Khắc Doanh, một tri thức yêu nước ở
Nam Trực (Nam Định) dẫn đầu đoàn học sinh thành Nam lên dự phiên toà.
Ngay chiều hôm ấy và suốt cả những tuần lễ sau, học sinh, sinh viên Hà Nội rồi đến các tỉnh miền
Trung, tới Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ thay nhau bỏ học biểu tình rầm rộ đòi thả cụ Phan Bội
Châu. Hàng nghìn bức điện, đơn, thư gửi đến phủ Toàn quyền và gửi cho chính Toàn quyền Pháp
Varen đòi phải thả cụ Phan.
Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh, đúng 30 ngày sau, Toàn quyền Varen buộc phải xoá bỏ bản
án tử hình đối với nhà yêu nước Phan Bội Châu rồi đưa cụ về giam lỏng ở Huế.
Những năm cuối đời dù phải sống trong cảnh chim lồng, cá chậu nhưng cụ được lớp con cháu
thanh niên, học sinh, thầy giáo, trí thức trẻ luôn tìm tới để thăm nom, yết kiến “Ông già Bến Ngự”.
Cụ luôn “Chúc phường hậu tử tiến mau” và không quên nói về Nguyễn ái Quốc.
Sau phiên toà xử cụ Phan ở Hà Nội, bọn mật thám và cảnh binh Pháp lùng sục vào các trường lần
tìm manh mối bắt những anh chị em chúng nghi là cầm đầu các cuộc bỏ học. Tại trường Bưởi, Ngô
Gia Tự và Trịnh Đình Cửu lúc này đang học đệ tứ niên. Hai anh tức thì bị đuổi học, Tự và Cửu

tuyên truyền đường lối mà phải vận động quần chúng thực hiện đường lối và lấy công nông làm
gốc cách mạng. Hội đã cố gắng đưa hội viên của mình đi vào công nông bằng cuộc vận động “Vô
sản hoá”.
Từ giữa năm 1929 trở đi, làn sóng đấu tranh của thanh niên, công nhân trong cả nước ngày một
dâng cao, là lực lượng xung kích đi đầu đấu tranh chống địch, bất chấp mọi hành động khủng bố
tàn bạo của đế quốc và phong kiến.
Cùng với phong trào đấu tranh của thanh niên công nhân, các phong trào đấu tranh của học sinh
cũng được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên quan tâm lãnh đạo. ở nông thôn, Hội vận động
thanh niên bài trừ hủ tục, chống phù thu lạm bổ, vạch mặt bọn quan lại địa phương. Đặc biệt Hội
Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đấu tranh mạnh mẽ chống chính sách mộ phu của bọn tư bản,
thực dân.
Trước yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng và sau một quá trình đấu tranh, chi bộ Đảng
Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam ra đời vào tháng 3/1929 tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) đến
tháng 6 – 1929 thì Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời. Tiếp sau đó là An Nam Cộng sản Đảng ra
đời ở Nam Kỳ và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời ở Trung Kỳ. Năm 1930, Nguyễn ái Quốc
thay mặt Quốc tế Cộng sản chủ trì cuộc họp thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam.
Trước năm 1929 đã có một số đoàn viên, thanh niên cộng sản do các cán bộ của Hội Việt Nam
Cách mạng Thanh niên vốn là đoàn viên, thanh niên cộng sản được kết nạp ở Quảng Châu về nước
trực tiếp tuyên truyền và tổ chức, nhưng các đồng chí đoàn viên này chưa được tổ chức vào các tổ
chức cơ sở của Đoàn mà hoạt động trong mối quan hệ trực tiếp với các cán bộ Hội Việt Nam Cách
mạng Thanh niên. Chỉ từ sau khi các tổ chức Đảng ở nước ta hình thành, nhất là từ sau khi Đông
Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ ra đời thì các tổ chức Đoàn cơ sở mới được thành lập. Mỗi chi bộ
Đoàn phân công các đoàn viên nhiệm vụ thu hút, tập họp một số thanh niên có tinh thần yêu
nước, vận động họ hoạt động tuỳ theo từng hoàn cảnh, trình độ.
Tháng 6/1929, hai chi bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản được thành lập ở Hải Phòng trong phong trào
đấu tranh rộng lớn của quần chúng.
Chi bộ Đoàn thứ nhất ra đời ở Nhà máy Xi măng Hải Phòng. Chi bộ Đoàn nhà máy Xi măng Hải
Phòng được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, một học viên của
trường Chính trị Quảng Châu do đồng chí Nguyễn ái Quốc đào tạo. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh

Nhuận (tức đồng chí Lê Duẩn, sau này trở thành Tổng Bí thư của Đảng) lúc ấy hoạt động trong Sở
Hoả xa Bắc Đông Dương giác ngộ và kết nạp.
Nhiệm vụ của nhóm đoàn viên này dưới sự hướng dẫn của đồng chí Lê Duẩn là tuyên truyền cách
mạng trong thanh niên giúp việc liên lạc cho Đảng, phát hành báo Búa liềm đi các tỉnh. Nhân kỷ
niệm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm đó (7/11/1929) nhóm Đoàn viên Thanh
niên Cộng sản ga Hàng Cỏ đã chuyển nhiều truyền đơn của Thành uỷ lâm thời Hà Nội về các tỉnh.
Cùng thời gian trên, nhiều cơ sở “sinh hội” bí mật xuất hiện trong một số trường học ở Hà Nội như
các trường Sinh Từ, Đỗ Hữu Vị, Trần Nhật Duật, Mạc Đĩnh Chi… Tháng 9/1929, Tổng Hội Sinh viên
ra đời ở Hà Nội và xuất bản báo Người sinh viên do Đặng Xuân Khu (tức đồng chí Trường Chinh,
sau này trở thành Tổng Bí thư của Đảng) phụ trách. Nhiều bài báo hay có tác dụng cổ vũ sinh viên
đứng lên cùng nhân dân đánh đuổi đế quốc của Trường Chinh đã có tiếng vang lớn không những
trong hàng ngũ sinh viên mà còn thức tỉnh các lớp thanh niên trí thức, tiểu tư sản, tham gia vào
hàng ngũ cách mạng.
ở Nghệ An, trong những năm 1928-1929 đã có một số thanh niên ưu tú được tổ chức vào Thanh
niên Cộng sản Đoàn do Vương Thúc Oánh, Nguyễn Ngọc Ba… là những đoàn viên, thanh niên cộng
sản được dự lớp chính trị ở Quảng Châu trở về nước xây dựng cơ sở.
Năm 1929, sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ cử Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung
vào Nghệ Tĩnh xây dựng cơ sở Đảng ở Trung Kỳ thì một số nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản
ở các địa phương nói trên cũng được hình thành.
Cũng trong năm này, các đảng viên cộng sản hoạt động ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ đã tuyên
truyền, giác ngộ và tổ chức được nhiều thanh niên vào Đoàn. Riêng ở Sài Gòn, tại một số cơ sở
quan trọng đã có những nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của các đảng viên.
Đến năm 1930, những nhóm đoàn viên này đã nhanh chóng chuyển thành các chi bộ Đoàn.
Vào thời gian nêu trên, trước yêu cầu của phong trào học sinh càng lên cao, Nguyễn Phong Sắc, Bí
thư Kỳ bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Trung Kỳ đã chủ trương thành lập Ban Chấp hành Tổng
sinh hội Nghệ An do Nguyễn Tiềm - học sinh trường Quốc học Vinh làm Bí thư, Tổng sinh hội phát
hành tờ báo “Xích sinh” (Học sinh đỏ) kịch liệt tố cáo chính sách giáo dục nô dịch của thực dân
Pháp, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản …
Như vậy, cùng với sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản từ cuối năm 1929, trên đất nước ta
hình thành những cơ sở đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản, đó là các chi bộ Đoàn và các

đông. Đó là một hạng lao động bị bóc lột, bị đè nén hơn hết, thanh niên và trẻ con đi làm, tuy làm
một công việc như người lớn nhưng ăn ít tiền công hơn, vả lại còn bị đánh đập ngược đãi hơn
nhiều nữa…”. Sự phân tích này có ý nghĩa rất quan trọng, đã làm sáng tỏ tình trạng bị áp bức, bóc
lột nặng nề của các tầng lớp thanh niên lao động ở Đông Dương về cả 3 mặt dân tộc, giai cấp, lứa
tuổi.
Từ sự phân tích này, án nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lại là một hạng người ít bị những cái
ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc chủ nghĩa nó trói buộc họ hơn người lớn, cho nên từ khi
phong trào cách mạng nổi khắp trong xứ, chúng ta thấy quần chúng thanh niên tham gia rất hăng
hái. Những cuộc công nhân bãi công và nông dân biểu tình trong năm nay tỏ rõ rằng thanh niên
lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng không thể kể tới được…”.
Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 ra đời trong hoàn cảnh phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân và nhân dân ta đang tiến tới cao trào: Hàng trăm cuộc bãi công của
công nhân, biểu tình của nông dân đi đầu là thanh niên đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tác
dụng tích cực và có ý nghĩa quyết định của thanh niên với tư cách là đội quân xung kích đã được
Nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng”.
Như vậy, đến lúc này ảnh hưởng mạnh mẽ của Đảng trong thanh niên và tác động cụ thể của các
tổ chức Đoàn trong việc tập hợp và hướng dẫn thanh niên đã dấy lên được một phong trào yêu
nước trong tuổi trẻ.
Phong trào ấy như Nghị quyết của Đảng đã nhận định là “làm cho nhiều thanh niên trong hạng
tiểu tư sản, nhất là học sinh, tham gia vào cuộc sinh hoạt chính trị ở Đông Dương”.
Chính vì nhận thức được vai trò to lớn và lực lượng quan trọng của thanh niên nên các đảng phái
chính trị đã tìm cách tranh thủ, lôi kéo thanh niên như Nghị quyết đã nêu rõ: “Hết thảy những
đảng phái ấy đều hiểu cái địa vị trọng yếu của thanh niên lao động …”. Và kết luận được rút ra
trong Nghị quyết là: “Vì những điều đã nêu trên cho nên Đảng Cộng sản phải cần kíp công tác
trong quần chúng thanh niên, phải lãnh đạo quần chúng thanh niên lao động thành phố, nhà quê
tranh đấu hàng ngày và phải kéo họ ra khỏi ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc. Muốn được
như vậy thì chỉ có tổ chức ra một đoàn thể của thanh niên mới được…”.
Trong phần này, Nghị quyết đặt vấn đề: “Phải hết sức tổ chức ra những đoàn thể như là các bộ
phận thanh niên trong công, nông hội, thanh niên vệ đội, Hội Phản đế, Hội Thể dục…” Quan điểm
về mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên đã được xác lập vững chắc trong Nghị quyết

đã bùng lên mạnh mẽ, lan đi nhanh chóng mà đỉnh cao là sự xuất hiện các Xô viết làm chức năng
chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo ở nhiều vùng rộng lớn trong hai tỉnh Nghệ
An, Hà Tĩnh.
Bài ca Thanh niên cận vệ hùng tráng đã cổ vũ các chiến sỹ Xô viết Nghệ Tĩnh trẻ tuổi vùng lên:
…Chúng ta là thanh niên cận vệ!
Chúng ta là đội cận vệ của ngày mai
Sinh trưởng trong nơi đớn đau, khốn cùng
Một là toàn thắng, hai là hy sinh
Vì công lý ta ra tranh đấu…
Chỉ trong tháng 9 và tháng 10 năm 1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh: 29 cuộc ở miền Bắc,
316 cuộc ở miền Trung, 17 cuộc ở miền Nam.
Phong trào cách mạng của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được
đồng chí Nguyễn ái Quốc theo dõi chặt chẽ và báo cáo thường xuyên cho Quốc tế Cộng sản.
Ngày 29/9/1930, Người gửi thư cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản phản ánh về tình hình đấu
tranh ở Nghệ Tĩnh và yêu cầu Quốc tế Cộng sản cho ý kiến chỉ đạo.
Ngày 5 tháng 11 năm 1930, Người gửi thư cho Quốc tế Nông dân phản ánh về phong trào nông
dân trong nước, đặc biệt là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.
Ngày 19 tháng 2 năm 1931, Nguyễn ái Quốc gửi báo cáo lên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về
cuộc đấu tranh ở Nghệ Tĩnh trong đó khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh… đều
bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh”.
Xô viết Nghệ Tĩnh là kết quả phát triển của cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Điều
kiện cơ bản để tạo nên cao trào đó là do Nghệ Tĩnh sớm hình thành được khối liên minh công
nông, sớm xây dựng nên đội xung kích cách mạng của Đảng là Đoàn Thanh niên Cộng sản và đoàn
kết, tập hợp được đông đủ thanh niên tham gia theo những hình thức thích hợp.
Vai trò của đoàn viên và thanh niên trong Xô viết Nghệ Tĩnh được nhân dân và thanh niên cả nước
ta đánh giá rất cao. Đó là những chiến sỹ quả cảm, chiến đấu quên mình vì lý tưởng của Đảng.
Nhìn lại lực lượng đoàn viên và thanh thiếu niên có tổ chức trong phong trào Xô viết Nghệ tĩnh
chúng ta có thể nêu lên những số liệu tiêu biểu sau đây:
2356 đoàn viên, thanh niên cộng sản được tập hợp trong hàng trăm chi bộ Đoàn.
9158 đội viên tự vệ đỏ (tuyệt đại bộ phận là thanh niên) được tập hợp trong 411 đơn vị do đảng

rực rỡ của tinh thần bất khuất và lạc quan cách mạng tuyệt vời. Anh về nước công tác theo sự
phân công của tổ chức nhằm góp phần xây dựng cơ sở Đoàn ở miền Nam nước ta trong phong trào
đấu tranh 1930–1931, ngoài ra anh còn làm nhiệm vụ giao liên cho Trung ương và Xứ uỷ Đảng. Lý
Tự Trọng đã tỏ rõ tinh thần gan dạ vô song đối với mọi công việc mà anh đảm nhận. Để cứu nguy
cho đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên mật thám cáo già Lơgơrăng ngay trên
đường phố Sài Gòn (chiều chủ nhật ngày 8/2/1931). Sa vào tay giặc và bị chúng dùng mọi cực
hình dã man để tra tấn song chính khí tiết của anh đã làm cho kẻ thù phải kính nể. Chúng gọi anh
là: “Ông nhỏ” và kinh ngạc mỗi lúc nghe anh ngâm Kiều trong xà lim tử hình. Tra tấn không khuất
phục được anh, kẻ địch lại dùng thủ đoạn mua chuộc hèn hạ, nhưng chúng cũng lại bị thất bại
nhục nhã.
Trước toà án của kẻ thù, Lý Tự Trọng đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi hành động có suy nghĩ, tôi hiểu
việc tôi làm. Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường
nào khác”.
Theo dõi chặt chẽ hành động anh hùng của Lý Tự Trọng, ngày 21/2/1931, Nguyễn ái Quốc đã gửi
thư cho Bộ Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo tin này và đề nghị Bộ Phương Đông yêu cầu Đảng
Cộng sản Pháp tổ chức biểu tình đòi trả tự do cho Lý Tự Trọng.
Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, khi tiến hành Hội nghị lần
thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó Trung ương dành một phần quan trọng trong
chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên đã đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc
biệt như các cấp bộ Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các cấp uỷ viên của Đảng
phụ trách công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Trước sự phát triển và lớn mạnh của phong
trào thanh niên cũng như sự phát triển và lớn mạnh của Đoàn trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam, ở
nước ta đã xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng hơn 1500 đoàn viên và một số địa
phương đã hình thành hệ thống tổ chức Đoàn xã, huyện lên đến tỉnh. Đến cuối năm 1931 số lượng
đoàn viên trong cả nước lên đến khoảng hơn 2500 đồng chí và số lượng thanh niên cảm tình,
thanh niên tham gia hoạt động trong các nhóm, hội công khai, đặc biệt là hội thể dục, thể thao,
văn hoá, nghệ thuật… lên đến hàng vạn người trong cả nước, chứng tỏ tác động tích cực của
những quyết định quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3 năm 1931). Bao tấm
gương đoàn viên, thanh niên đã dũng cảm chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
HẾT

quốc của Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), tháng 7 năm 1936, Hội nghị Trung ương Đảng đã định ra
đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới.
Nhiệm vụ trước mắt của Đảng và nhân dân ta lúc này là tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn
phản động thuộc địa và tay sai của chúng ở Đông Đương, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiện
đời sống, chống chiến tranh phát xít, bảo vệ hoà bình. Vì vậy, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận
Nhân dân Phản đế rộng rãi (về sau đổi thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ) bao gồm tất cả các
giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau để cùng đấu tranh đòi
những điều kiện dân chủ tối thiểu cho nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương.
Để phù hợp với sự chuyển hướng về nhiệm vụ, Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí
mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp.
Tiếp sau đó, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 7 năm 1936 đã ra
những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động
thanh niên. Các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương trong các kỳ họp tháng 3/1937, tháng
9/1937 và tháng 3/1938 đều có những quyết nghị về công tác vận động thanh niên, chỉ ra phương
hướng, nhiệm vụ công tác tư tưởng và tổ chức của Đoàn trong thời kỳ này.
Tháng 9/1937, Đảng nhấn mạnh phải ra sức tổ chức các hội quần chúng phổ thông của thanh niên
(Thanh niên dân chủ, tân tiến, thể thao, khuyến học…vv) để thu phục quảng đại quần chúng thành
một Mặt trận Thống nhất Thanh niên. Đến tháng 3/1938 Đảng quyết định tổ chức Thanh niên tân
tiến Hội để giúp Đảng vận động các tầng lớp thanh niên phù hợp với hoàn cảnh, trình độ, tâm lý
của họ để có khẩu hiệu và hình thức tổ chức thích hợp (phổ thông và công khai hoặc bán công
khai, như hội đá bóng, đọc báo, âm nhạc…vv). Trong thời kỳ 1936 – 1939, Đoàn Thanh niên có
nhiều tên gọi khác nhau song đều nhằm mục đích đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, vì
vậy chúng ta thường gọi tên chung là Đoàn Thanh niên Dân chủ. Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn là
vừa củng cố tổ chức vững mạnh vừa ra sức tập hợp đoàn kết các tầng lớp thanh niên vào các tổ
chức rộng rãi, hình thành nên nhiều Hội quần chúng của thanh niên theo sở thích, nghề nghiệp, lợi
ích… nhằm lôi kéo thanh niên đấu tranh cho các quyền dân chủ, dân sinh, nghĩa là phải hình thành
cho được một mặt trận thanh niên thật sự rộng rãi.
Thanh niên là lực lượng hăng hái, tích cực nhất trong các Uỷ ban Hành động, trong việc đi thu thập
nguyện vọng của nhân dân. Những yêu cầu về quyền dân sinh, dân chủ này cũng là nguyện vọng
bức bách của đông đảo thanh niên và quần chúng lao động vì rằng: “Trừ một số ít thanh niên con

độ lao động như chế độ học nghề, tiền lương tối thiểu, cấm cúp phạt bằng tiền, chế độ nghỉ đẻ,
nghỉ cho con bú trong thời gian làm việc…
Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp đã ra sắc lệnh “ân xá” tù chính trị ở Đông Dương, vào các năm
1936 và 1937. Trên 2500 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản được thoát ra khỏi các nhà
tù của bọn đế quốc.
Những thắng lợi trên đây tuy mới là bước đầu nhưng hết sức quan trọng đã nâng cao uy tín của
Đảng trong nhân dân ta.
Mặc dù bọn phản động thuộc địa ngoan cố ngăn cấm và đàn áp, nhưng phong trào đấu tranh của
quần chúng vẫn không ngừng phát triển. Trong năm 1937 có gần 400 cuộc đấu tranh của công
nhân, có những cuộc bãi công lớn có tổ chức và kéo dài như cuộc bãi công của 300 công nhân nhà
máy Tơ Hải Phòng (tháng 1/1937); của 7000 công nhân Dệt Nam Định (tháng 2/1937); của 4000
công nhân Ba Son (tháng 4/1937); công nhân mỏ Uông Bí (tháng 7/1937), tiêu biểu nhất là bãi
công của 3000 công nhân xe lửa Trường Thi (Vinh) và miền Nam Đông Dương (tháng 7/1937).
ở nông thôn, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh thu hút hàng chục vạn nông dân tham gia đòi giảm
sưu, giảm thuế, chống cướp ruộng đất, đòi chia lại ruộng công, xoá bỏ hủ tục hương thôn, chống
bọn cường hào, lý hương tham nhũng… Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân và thanh
niên Cà Mau (tỉnh Bạc Liêu cũ) chống bọn địa chủ cướp đất và ức hiếp dân nghèo (cuối năm
1938). Cuộc đấu tranh này có tiếng vang lớn trong cả vùng đồng bằng Nam Bộ. Thanh niên các
tỉnh Mỹ Tho, Gia Định – Sài Gòn, Vĩnh Long, Bạc Liêu vv… đã tích cực hưởng ứng cuộc đấu tranh
của nông dân và thanh niên Cà Mau.
Dưới ngọn cờ của Đảng, phong trào đấu tranh ngày càng phát triển mạnh mẽ và thanh niên đã thể
hiện là một lực lượng xã hội to lớn luôn giữ vai trò đi đầu trên các trận tuyến chống quân thù.
Đoàn Thanh niên Dân chủ từng bước được củng cố và phát triển tổ chức. Thông qua đấu tranh, ý
thức giác ngộ của quần chúng thanh niên được nâng cao và ảnh hưởng của Đảng trong thanh niên
ngày càng thêm sâu rộng.
Trong thời kỳ này, Đảng ta triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh cách mạng.
Nhờ khôn khéo lợi dụng mọi khả năng hợp pháp, từ năm 1937, báo chí công khai do Đảng lãnh
đạo phát triển nhanh chóng. Hàng chục tờ báo của Đảng, của Mặt trận Dân chủ, Đoàn Thanh niên
Dân chủ ra đời.
Tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lương Khánh Thiện,

bài báo quan trọng của Người đã được đăng trên các báo công khai của Đảng ta như Dân chúng và
Notre voix (Tiếng nói của chúng ta bằng Pháp ngữ) phát hành công khai khắp Đông Dương. Đây là
những tài liệu rất quý báu cho Đoàn và các hội quần chúng của thanh niên do Đoàn làm nòng cốt.
Đầu năm 1938, Đảng ta chủ trương thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ để nâng cao trình độ hiểu
biết cho dân lao động. Thanh niên học sinh, sinh viên là lực lượng nòng cốt của phong trào này.
Đảng còn cử nhiều đảng viên và đoàn viên Thanh niên Dân chủ tham gia công tác ở cơ quan
thường trực của Hội và cả các ban chuyên môn, nhất là các ban Dạy học và Cổ động. Thanh niên
công nhân, nông dân hăng hái đi học. Do những cố gắng của Đoàn Thanh niên Dân chủ, trong hai
năm 1938–1939, riêng ở Hà Nội đã thanh toán nạn mù chữ cho hàng nghìn người.
Một thắng lợi lớn của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương là tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế
Lao động 1/5/1938 một cách công khai, biểu dương được sức mạnh của giai cấp công nhân, của
các tầng lớp thanh niên và nhân dân ta tại nhà Đấu xảo Hà Nội.
Đoàn Thanh niên Dân chủ và các Hội Thanh niên Hà Nội là thành viên tích cực trong ban tổ chức,
đã huy động đông đảo thanh niên tham gia cuộc mít tinh lớn gồm hàng vạn người này.
Nhiều đại biểu thanh niên công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức,… đã lên diễn đàn kêu
gọi tuổi trẻ siết chặt hàng ngũ chung quanh Mặt trận Dân chủ đẩy mạnh cuộc đấu tranh vì hoà
bình, cải thiện dân sinh, chống phản động thuộc địa, quan lại phong kiến thối nát. Sau đó đại biểu
thanh niên cùng các giới đồng bào tham gia mít tinh đã tổ chức diễu hành qua nhiều đường phố
Hà Nội. Hoạt động rầm rộ trong ngày 1/5/1938 đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của tuổi trẻ
Hà Nội và nhiều địa phương lân cận.
Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938 còn được tổ chức rầm rộ ở các địa phương trong cả nước, đặc
biệt là các thành phố lớn, các tỉnh Nam Bộ…như một ngày hội của quần chúng và tuổi trẻ.
Tiêu biểu cho lớp thanh niên trong giai đoạn cách mạng này là Trần Hải Kế, Nguyễn Văn Trạch…
Trần Hải Kế sinh năm 1917, trong một gia đình công nhân hoả xa ở ngõ chợ Khâm Thiên. Anh giác
ngộ cách mạng và tham gia phong trào học sinh ở trường Thăng Long. Trần Hải Kế đi theo cách
mạng với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Anh là một thanh niên khỏe mạnh lại giỏi võ thuật nên
thường được phân công bảo vệ các cán bộ lãnh đạo trong các cuộc mít tinh, diễu hành cũng như
nhiều hoạt động lớn của Đoàn.
Sau cao trào Dân chủ, Trần Hải Kế được điều động vào Nghệ An công tác. Tại đây anh bị địch bắt
và tra tấn dã man, song anh không hề hé răng khai nửa lời.

Bắc Kỳ và Đoàn giao cho anh trách nhiệm cùng nhiều cán bộ khác nghiên cứu xây dựng căn cứ
cho Xứ uỷ Bắc Kỳ ở Phú Thọ khi dự đoán đúng đắn tình hình có thể xấu đi, bọn phản động thuộc
địa sẽ trở lại chính sách khủng bố, đàn áp dã man. Nguyễn Văn Trạch đã bị bắt ở Hà Nội do “Hoạt
động tuyên truyền cộng sản” cùng với nhiều đồng chí như Trần Huy Liệu, Lương Khánh Thiện, Văn
Tiến Dũng… Lần đầu tiên, trong trại giam Hoả Lò, Hồng Quang được tiếp xúc với các chiến sỹ cách
mạng đàn anh nổi tiếng. Anh tìm cách gần gũi các đồng chí để học tập thêm kinh nghiệm đấu
tranh như giúp đồng chí Văn Tiến Dũng bồi dưỡng thêm tiếng Pháp qua các tác phẩm văn học
Pháp, anh còn kể lại những đoạn văn, thơ bất hủ trong các tác phẩm của V.Huygô, Pôn Véclen,
Lamáctin, Êmin Dola, Anphônxơđôđê… nên được các đồng chí càng thêm yêu mến.
Ngày địch đưa anh ra toà, gia đình thuê Luật sư Trần Văn Chương là người có thế lực bào chữa cho
anh. Anh từ chối khéo với lý do mình đã là sinh viên trường Luật, hơn thế bản thân anh không có
tội gì cả.
Phiên toà xử án Hồng Quang có rất đông người dự, nhất là sinh viên, học sinh các trường Hà Nội.
Hồng Quang dõng dạc hỏi vặn lại quan toà: "Chủ nghĩa cộng sản có gì là không tốt, biết bao công
dân Pháp đi theo chủ nghĩa cộng sản một cách công khai… nếu cần bỏ tù thì các ông hãy bỏ tù
những người đó, những người đó đã từng tham gia chính phủ của các ông kia mà!”.
Hồng Quang bước ra khỏi nhà tù Hoả Lò với bản án treo 1 năm! Anh đã thắng và đã góp phần
nâng cao uy tín của Đảng ta. Đảng bố trí cho anh thoát ly gia đình. Anh vinh dự được đứng vào
hàng ngũ của Đảng sau những năm thử thách.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nội các do Daladier thiên hữu lên cầm quyền ở Pháp tiến
hành đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng ở Đông Dương. Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng
ta ra “Thông cáo gửi các cấp bộ Đảng” giải thích tình hình, đồng thời đề ra một số chủ trương quan
trọng để ứng phó với tình hình mới.
Khu căn cứ của Xứ uỷ Bắc Kỳ được hình thành ở một số huyện vùng cao tỉnh Phú Thọ. Hồng
Quang được Đảng điều đến đó làm việc cùng với các đồng chí Lương Khánh Thiện, Thành Ngọc
Quản, Đào Duy Kỳ, Trần Thị Minh Châu, Bùi Công Trừng… một thời gian sau, Hồng Quang được Xứ
uỷ điều động về miền xuôi tham gia Tỉnh uỷ Hải Dương.
Nguỵ trang dưới hình thức một công nhân vận tải đường sông, anh xây dựng được nhiều cơ sở tại
địa phương. Chùa Trại Sơn (huỵên Thuỷ Nguyên) do bà nội anh là sư cụ Huệ Trâm chủ trì trở
thành một trong những cơ sở bảo vệ cán bộ. Hang Dốc Tít bên cạnh chùa là cơ sở ấn loát của Tỉnh

chiến sỹ cộng sản kiên trung cắn tay lấy máu viết lên tường nhà lao: “Cách mạng Việt Nam thành
công muôn năm”. Hồng Quang đã để lại nhiều bài thơ hay ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi Đảng và gửi
cho gia đình, bè bạn, nhất là người vợ yêu quý những tình cảm nồng thắm và khí phách hiên
ngang của người sinh viên cách mạng.
HẾT
CHƯƠNG II
Cơ quan chủ quản: TỈNH ĐOÀN QUẢNG TRỊ
Giấy phép xuất bản số 557/GP-BC ngày 13/12/2007 của Bộ TT&TT – Cục Báo chí
ĐT: 053. 856348 - Fax: 053. 850101
Email:
Thiết kế và Thường trực mạng: Trung tâm CNTT & VT Quảng Trị
Web Site Tìm Kiếm
18 Tháng Tư 2009 - Đăng Ký - Đăng
Nhập

Nội dung chi tiết CHƯƠNG III
ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, PHÁT XÍT – NHẬT TIẾN TỚI TỔNG KHỞI
NGHĨA THÀNH CÔNG TRONG CẢ NƯỚC
Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát-xít Đức tiến công Ba Lan. Ngày 3 tháng 9 năm 1939, Anh, Pháp
tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình mọi
mặt ở Đông Dương và Việt Nam.
Để phục vụ cho chiến tranh, thực dân Pháp ở Đông Dương ban bố lệnh tổng động viên, ra sức
cướp của, tăng giờ làm việc, giảm tiền lương của công nhân và bắt thanh niên đi lính. Chúng thẳng
tay đàn áp, khủng bố các phong trào cách mạng. Các quyền tự do, dân chủ mà thanh niên và
nhân dân ta giành được trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ đều bị xoá bỏ. Các tổ chức của công nhân
và thanh niên đều bị chúng giải tán. Chúng ra sức bắt bớ, truy lùng những chiến sỹ cộng sản.
Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng ta ra: “Thông cáo cho các đồng chí các cấp bộ” giải thích tình

chí vượt ngục thành công trở về hoạt động trong đội ngũ của Đoàn.
Tháng 6/1940, nước Pháp bị quân đội pháp xít Hitle chiếm đóng. Nhân cơ hội này, tháng 9/1940,
pháp xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật. Từ đây
nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù cùng thống trị là phát xít Nhật và thực dân Pháp. Nhưng nhân
dân Việt Nam bất khuất nổi dậy chống cả Nhật lẫn Pháp. Tháng 9/1940, nhân dân châu Bắc Sơn
vùng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương. Tháng 11/1940 dưới sự lãnh đạo
của Xứ uỷ Nam Kỳ, nhân dân ở nhiều tỉnh Nam Bộ cũng đã vùng lên đấu tranh quyết liệt chống
quân thù. Tháng 1/1941, nổ ra cuộc nổi dậy của anh em binh lính ở đồn Chợ Rạng và đồn Đô
Lương (Nghệ An). Các cuộc khởi nghĩa này là bước đầu đấu tranh vũ trang của cả dân tộc Việt
Nam, báo hiệu một thời kỳ mới, thời kỳ chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền
trong toàn quốc.
Theo chủ trương của Đảng, lực lượng vũ trang khởi nghĩa Bắc Sơn được chuyển vào rừng hoạt
động du kích. Mùa xuân năm 1941, tại khu rừng Khuổi Nọi (xã Vũ Lê, châu Bắc Sơn) đội du kích
Bắc Sơn được thành lập. Đội gồm hơn 30 chiến sĩ mà hầu hết là đảng viên trẻ và đoàn viên, tất cả
đều đã tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn và chiến đấu chống sự đàn áp khủng bố của quân thù ngay từ
đầu. Trong buổi lễ thành lập, trước đông đảo đồng bào địa phương đến tham dự, đồng chí Hoàng
Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng giao nhiệm vụ giết giặc cứu nước cho đơn vị.
ít lâu sau, đội du kích đổi tên là Cứu quốc quân do đồng chí Phùng Chí Kiên, Uỷ viên Trung ương
Đảng làm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân. Tuy lực lượng còn nhỏ bé, súng đạn và lương thực thiếu
thốn, nhưng đã luôn giữ vững chí khí chiến đấu ngoan cường.
Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ mặc dù đã có lệnh hoãn của Trung
ương Đảng nhưng không truyền đạt kịp. ở hầu khắp các tỉnh miền Nam nhất là ở Mỹ Tho, quần
chúng nổi dậy chiến đấu rất dũng cảm. Chính quyền của địch ở một số xã và quận hoang mang,
tan rã. Đội viên các đội tự vệ và du kích trong cuộc khởi nghĩa hầu hết là trẻ tuổi. Họ hăng hái
chiến đấu chống địch bằng vũ khí thô sơ. Trong trận đánh quân tiếp viện của quân địch từ Tây
Ninh đến ứng cứu cho quân lỵ Hóc Môn bị quân khởi nghĩa vây hãm, du kích đã bắn chết một tên
thực dân ác ôn cùng nhiều lích địch ở Cầu Bông. ở Mỹ Tho, các đội tự vệ cùng nhân dân phá tan bộ
máy chính quyền của địch ở 54 trong tổng số 57 xã thuộc hai huyện Châu Thành và Cai Lậy. ở
những xã này, các tổ chức Đảng và quân khởi nghĩa đã tịch thu các kho thóc của bọn địa chủ chia
cho dân nghèo. Cũng tại Mỹ Tho, lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng sau này trở thành lá cờ

Khởi nghĩa Nam Kỳ là một trong những trang chói lọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ
và nhân dân Việt Nam, là tiếng kèn xung trận vang vọng núi sông từ Nam ra Bắc dưới ngọn cờ
cách mạng.
Tháng 11/1940, Hội nghị lần thứ 7 Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) có đồng chí
Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ... tham dự Hội nghị đã phân tích tình hình chiến
tranh thế giới lần thứ 2 và tác động của chiến tranh đối với Đông Dương. Hội nghị đã đi đến sự dự
đoán rất sáng suốt: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh
lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động
giành quyền tự do, độc lập”.
Bước sang năm 1941, tình hình thế giới và trong nước diễn biến ngày một khẩn trương và phức
tạp.
Từ khi quân đội Nhật vào Đông Dương, mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp ngày càng sâu sắc, tuy phải
tạm thời thoả hiệp với nhau nhưng cả hai đều tìm cách triển khai thế lực đợi thời cơ tiêu diệt nhau.
Nhân dân Đông Dương chịu cảnh “một cổ hai tròng”, dưới ách thống trị tàn bạo của Nhật – Pháp
nên ngày một bần cùng, đói khổ… do vậy, ngày càng nhanh chóng giác ngộ cách mạng.
Ngày 28/1/1941, Nguyễn ái Quốc, lãnh tụ của Đảng và dân tộc đã bí mật về nước ở vùng Pác Pó
để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Đây là một sự kiện hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta. Nguyễn
ái Quốc đã bắt tay vào việc xây dựng căn cứ địa, tổ chức đoàn thể Cứu quốc và chuẩn bị Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó (Cao Bằng) do đồng chí
Nguyễn ái Quốc, đại diện của Quốc tế Cộng sản triệu tập và chủ trì. Tham gia Hội nghị có các đồng
chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt…
Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, Hội nghị xác định: Cuộc
cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc, các lực lượng cách mạng của dân tộc cần
tập trung mũi nhọn vào bọn phát xít xâm lược Pháp – Nhật, bởi vì: “Trong lúc này, nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì
chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp trâu ngựa, mà quyền lợi của bộ phận
giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại đựơc”.
Để tập hợp và động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp, Hội nghị

ở Hà Nội, từ tháng 10 đến tháng 12/1941, đoàn viên và thanh niên đã có những hoạt động gây
ảnh hưởng sâu rộng theo lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Thành Đoàn tổ chức được một cơ
sở in bí mật đặt tại phố Hàng Nón. Theo thống kê của Sở mật thám Pháp, chỉ trong tháng 12/1941
có 13 vụ rải truyền đơn và treo cờ đỏ trong thành phố.
Hà Nội là trung tâm các trường đại học của cả Đông Dương nên công tác vận động sinh viên luôn
được chú trọng. Đoàn TNCQ tiếp nối truyền thống của Đoàn Thanh niên Phản đế với sứ mệnh lịch
sử mới là đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp thanh niên đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đoàn đã chú trọng đẩy mạnh công tác vận động giới học sinh, sinh viên bằng nhiều hình thức.
Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công
khai chịu ảnh hưởng trực tiếp của Đảng được tiếp tục xúc tiến nhằm liên kết lực lượng sinh viên
yêu nước, có cảm tình với cách mạng ở các trường cao đẳng, đại học trong cả nước, đặc biệt là ở
Hà Nội. Các đồng chí lãnh đạo Đảng ta đã tiếp xúc trực tiếp với một số trí thức yêu nước có uy tín
và một số sinh viên có nhiệt tâm để hình thành nên một Ban Trị sự lâm thời của Tổng Hội do anh
Dương Đức Hiền làm Hội trưởng niên khoá 1941–1942. Anh Dương Đức Hiền đã đỗ Cử nhân luật
niên khoá trước đó. Trong Ban Trị sự còn có các sinh viên Đặng Ngọc Tốt, Phan Mỹ, Vũ Văn Cẩn,
Nguyễn Ngọc Minh vv… Ban Trị sự được sự tín nhiệm của đông đảo sinh viên, mặc dầu lúc này
ngoài sinh viên của ba miền Bắc, Trung, Nam còn có sinh viên Ai Lao, Cao Miên và cả sinh viên
Pháp.
Việc làm đầu tiên của Tổng Hội là xây dựng khối đoàn kết trong sinh viên, chống lại mọi âm mưu
chia rẽ của kẻ thù, khơi dậy lòng yêu nước, thương nòi của đông đảo sinh viên, đưa họ tham gia
vào các hoạt động hữu ích. Khẩu hiệu của Tổng Hội đưa ra là “Đoàn kết để phụng sự quốc gia, tin
tưởng vào tương lai đất nước, truyền lòng tin đến mọi người”.
Tổng Hội đã lập ra một Ban Vệ sinh và Ban Y học để giúp đồng bào hiểu biết về vệ sinh, phòng
bệnh, chữa bệnh chống lại các hiện tượng mê tín, dị đoan được bà con thôn xóm ngoại thành Hà
Nội và các tỉnh lân cận rất hoan nghênh. Ngoài ra Tổng Hội cũng lập một số ban cố vấn về luật để
giúp đồng bào mỗi khi có oan ức cần đấu tranh trong quan hệ với giai cấp thống trị… Giám đốc
Nha học chính Đông Dương đã cảm nhận thấy điều đó trong hoạt động của sinh viên nên ra lệnh
phải ghi vào bản Điều lệ của Tổng Hội câu đầu tiên là “Tổng Hội không được phép bàn cãi về chính
trị và tôn giáo”. Cuộc đấu tranh giữa những người lãnh đạo yêu nước của Tổng Hội và tên Giám
đốc (Tabule) đã diễn ra gay gắt nhưng ta kiên quyết không chịu ghi câu đó vào Điều lệ dù Tổng

do nhạc sĩ sinh viên Lưu Hữu Phước sáng tác như Suối Lồ Ô, Khải hoàn ca… được phổ biến rộng
rãi. Phát huy kết quả của trại Suối Lồ Ô, trong năm 1943, Tổng Hội còn có sáng kiến tổ chức một
số trại luân chuyển với phạm vi nhỏ hơn ở miền Đông Nam Kỳ và Trung Kỳ.
Có thể nói để cổ vũ lòng yêu nước trong học sinh, sinh viên vào những năm đầu của thập kỷ 40
(thế kỷ XX) Đảng ta đã chỉ đạo tổ chức Đoàn dùng nhiều hình thức hoạt động văn hoá, văn nghệ,
báo chí, coi đó là con đường tuyên truyền, giáo dục sinh động dễ đi vào tình cảm của lớp trẻ có
học thức. Nhóm Đồng vọng do nhạc sĩ Hoàng Quý (quê Hải Phòng) ra đời được học sinh, sinh viên
hưởng ứng đông đảo. Nhóm Tráng ca gồm những bài hát lịch sử nổi tiếng do Lưu Hữu Phước –
nhạc sĩ sinh viên tài năng mãi mãi ghi lại dấu ấn trong lòng học sinh, sinh viên như Bạch Đằng
Giang, Đi hội Đền Hùng, Hận sông Gianh, ải Chi Lăng, Ta cùng đi, Người xưa đâu xá, Xếp bút
nghiên, Lên đàng, Việt nữ gọi đàn, nhất là bài ca Sinh viên hành khúc (Sau này tác giả thay tên là
Tiếng gọi thanh niên)… đều là những ca khúc hùng tráng lay động lòng người, thúc giục học sinh,
sinh viên đứng lên cứu nước. Lưu Hữu Phước cùng với các sinh viên Nam Bộ khác như Đặng Ngọc
Tốt, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, TrầnVăn Khuê, Diệp Minh Châu…đã thể hiện tinh thần yêu
nước sâu sắc của mình qua nhiều hoạt động sôi nổi về nhạc, kịch, thơ. Các vở kịch Đêm Lạng Sơn,
Nửa đêm truyền hịch, đặc biệt là vở kịch Hội nghị Diên Hồng của Huỳnh Văn Tiểng có tiếng vang
lớn. Trong một lần công diễn trước đông đảo người xem là học sinh, sinh viên và đại diện các giới
đồng bào Hà Nội, khi các nhân vật trên sân khấu quay về khán giả hỏi: “Trước nhục nước nên hoà
hay nên chiến?”, liền đó là những tiếng hô rầm trời “Chiến”. Bọn thực dân và phong kiến hết sức
hoảng sợ trước khí thế này, chúng tung ra hàng trăm tên mật vụ, chỉ điểm theo dõi, đe doạ và bắt
bớ những người đứng đầu.
Cùng với sự phát triển của phong trào sinh viên, phong trào học sinh các trường trung học ngoài
Bắc, trong Nam cũng phát triển ngày càng mạnh bởi ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chung do Mặt
trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc hướng dẫn. ở trường Bưởi (Chu Văn An), nơi đã hình
thành nên lớp học sinh yêu nước đầu tiên mà tiêu biểu là Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh
Đình Cửu…, những học sinh về sau đã tham gia thành lập chi bộ Đảng, nay như đang tiếp thêm
sức mạnh mới cho lớp theo sau. Đó là thế hệ các anh Võ Duy Tường tức Vũ Oanh (sau này là Uỷ
viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng), Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Viết Triết, Lê Đức Bình, Nguyễn
Ngọc Giám, Cao Ngọc Liễn, Lê Quân, Vũ Mai tức Vũ Quang (sau này là Uỷ viên Trung ương Đảng,
Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn trong nhiều năm)… đã bắt liên lạc với cán bộ của Thành uỷ Hà

tinh thần yêu nước, tình đoàn kết chặt chẽ giữa sinh viên và các miền của đất nước, Tổng Hội lúc
này vẫn do anh Dương Đức Hiền làm Hội trưởng đã chủ trương xuất bản một tờ báo lấy tên là Khối
đoàn kết (Le Monôme). Chủ bút là anh Mai Văn Bộ, một sinh viên đầy tâm huyết từ Sài Gòn ra
(sau này là cán bộ cao cấp của Nhà nước ta). Tôn chỉ, mục đích của tờ báo là thúc đẩy sự tu
dưỡng phẩm chất của người tri thức trẻ, thúc đẩy tình đoàn kết trong lực lượng sinh viên, xây
dựng nền nếp học tập. Ruột báo và bìa do sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật trình bày khá đẹp,
trong đó có sự đóng góp hết sức tích cực của anh Diệp Minh Châu cũng là một sinh viên đầy tài
năng từ Nam ra. Tiếp theo sau sự ra đời của tờ báo là việc hình thành các nhóm chuyên ngành
trong Tổng Hội, thí dụ nhóm Văn học đứng đầu là Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Xuân
Sanh… nhóm Tân nhạc là Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê… ở Sài Gòn có nhóm Văn học của những
sinh viên yêu nước học ở Pháp về như nhóm Văn học Văn Lang của Phạm Ngọc Thạch, hay nhóm
Văn học Phan Thanh Giản của Ca Văn Thỉnh vv… Báo Khối đoàn kết của Tổng Hội được phát hành
ở Hà Nội và Sài Gòn. Do yêu cầu của học sinh, sinh viên ngày càng nhiều, Tổng Hội hình thành
Nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu để có điều kiện phát hành rộng rãi cả báo và các sáng tác nhạc kịch.
Nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu đã xuất bản các vở kịch Hội nghị Diên Hồng, Đêm Lam Sơn, Nợ Mê
Linh, Con thỏ ngọc,… của Huỳnh Văn Tiểng và gần như hầu hết các sáng tác nhạc của Lưu Hữu
Phước.
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, Tổng Hội Sinh viên do anh Nguyễn Ngọc Minh tiếp tục
làm Hội trưởng, anh Dương Đức Hiền (từ năm 1944) đã đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng khác của
Đảng trao cho. Tổng Hội vẫn thấy cần thiết phải tiếp tục xuất bản một tờ báo của sinh viên trong
tình hình đất nước đang sôi sục. Tờ tuần báo Tự trị ra đời. Phụ trách tờ Tự trị có các anh Hà Văn
Lộc (tức Thép Mới), Nguyễn Sĩ Quốc, Lê Bá Huấn, Xuân Diệu, Huy Cận, Lê Khánh Cận, Nguyễn
Xuân Sanh. Tổng Hội cử Lê Văn Giạng làm Chủ nhiệm, Nguyễn Xuân Sanh làm chủ bút. Báo Tự trị
ghi rõ mục đích, tôn chỉ của mình ngay trên trang bìa là "Cơ quan truyền bá tư tưởng của Tổng Hội
Sinh viên Việt Nam", đồng thời đóng khung 8 chữ: “Phụng sự Tổ quốc Việt Nam độc lập”. Bài xã
luận của báo số ra ngày 24/4/1945 có đoạn chỉ rõ: “Có độc lập thì mới sinh tồn được, có độc lập
thì mới tiến hoá được. Nghĩ lại 80 năm nô lệ ta sẽ hiểu cái thảm của cảnh vong nô”. Do báo có
nhiều bài cổ vũ sinh viên vùng lên trên cơ sở quán triệt đường lối chuẩn bị tổng khởi nghĩa của
Đảng ta nên phát xít Nhật đã cho hiến binh tấn công đập phá toà soạn, lấy đi nhiều tài liệu vào
đêm 20/6/1945 tại số nhà 32 Lê Đại Hành. Từ thời điểm ấy, phát xít Nhật đã chiếm đóng luôn toà

Phong trào “Xếp bút nghiên” được khởi phát từ các nhóm sinh viên Nam Kỳ ra Hà Nội học như Mai
Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, rồi lôi cuốn các sinh viên miền Trung, miền Bắc bỏ
trường về quê bí mật tìm bắt liên lạc với cán bộ Việt Minh. Họ tổ chức thành từng nhóm, dùng xe
đạp toả về các ngả đường. Các nhóm sinh viên Nam Kỳ rong đuổi trên đường số 1, dừng chân lại
nơi nào là họ tổ chức ca hát… các bài hát Xếp bút nghiên, Lên đàng, Quốc dân hành khúc… vang
lên trong cuộc hành trình gian lao nhưng đầy hăng hái, quyết tâm. Đây là phong trào rất đặc trưng
của sinh viên Việt Nam thời tiền khởi nghĩa.
Sau khi phát xít Nhật hất cẳng thực dân Pháp độc chiếm Đông Dương, phong trào yêu nước của
học sinh, sinh viên tham gia vào các đội tuyên truyền xung phong, đội danh dự làm công tác trấn
áp bọn mật thám, chỉ điểm, diệt ác ôn diễn ra ngay trên đường phố. Nhiều cuộc mít tinh lớn được
tổ chức ở ngoại thành Hà Nội thu hút nhiều học sinh, sinh viên nội thành tham gia. Anh chị em
công khai lên diễn đàn kêu gọi học sinh, sinh viên tham gia thanh niên cứu quốc, tham gia tự vệ…
sẵn sàng đứng lên đánh đổ phát xít và phong kiến giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Từ năm 1942, 1943 tình hình trong cả nước diễn biến nhanh chóng. Tổ chức Đoàn, các Hội quần
chúng của thanh niên cũng như các đoàn thể khác dưới sự lãnh đạo của Đảng được củng cố và
phát triển nhanh chóng.
Tại nhiều vùng nông thôn, các cuộc đấu tranh chống thu mua thóc tạ, chống phá lúa trồng đay,
trồng thầu dầu, đòi chia lại công điền của nông dân diễn ra quyết liệt dưới hình thức biểu tình có
tính chất nửa vũ trang đánh trả lính Nhật quấy nhiễu, diệt trừ Việt gian… ở Thái Bình, thanh niên
và quần chúng nông thôn Tiền Hải đấu tranh đòi chia lại công điền. ở Phúc Yên, thanh niên và
nông dân đấu tranh phản đối việc trưng mua lạc, thầu dầu… ở làng Cam (Gia Lâm, Hà Nội), thanh
niên cùng nông dân giữ bãi không cho Nhật phá ngô trồng đay. ở Gia Định, Hậu Giang, các đoàn
viên Thanh niên Cứu quốc đã tuyên truyền Điều lệ và Chương trình của Mặt trận Việt Minh đến tận
ấp xã…
Phong trào của công nhân đã lôi cuối và thu hút đông đảo thanh niên công nhân tham gia. Tháng
2/1942 công nhân mỏ than Hòn Gai đình công. Ngày 1/5/1942 công nhân xe lửa Gia Lâm mít tinh
chống chủ nghĩa phát xít mở rộng chiến tranh. Tháng 7/1942 thợ máy sân bay Gia Lâm vây bàn
giấy võ quan Nhật, phản đối lính Nhật đánh đập công nhân. Từ tháng 5/1942 đến tháng 6/1943 ở
Nam Bộ có 24 cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi bán gạo, vải, diêm,
xà phòng theo giá quy định.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status