Lịch sử ngày nhà giáo việt nam 20/11 - Pdf 67

Lịch sử ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo 20/11Lịch sử ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo được bắt đầu từ tháng 01 năm 1946, có một tổ chức quốc tế
các nhà giáo tiến bộ ra đời ở Pari-Pháp lấy tên là FISE (Féderation International Syndicale des Enseignants-
tức là Liên hiệp quốc tế các Công đoàn Giáo dục).
Năm 1949, tại Hội nghị quốc tế Vacsava-Ba Lan tổ chức FISE xây dựng một bản "Hiến chương các nhà
giáo" gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến; xây dựng
nền giáo dục tiến bộ; bảo vệ những quyền lợi vật chất và tinh thần chính đáng của nghề dạy học và nhà giáo
Trong kháng chiến chống Pháp, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã quan hệ với FISE để tranh thủ các diễn
đàn quốc tế tố cáo âm mưu tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên
và học sinh đồng thời giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng
hộ của toàn thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.
Năm 1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn dẫn đầu đã dự Hội nghị quan
trọng kết nạp Công đoàn Giáo dục của một số nước vào tổ chức FISE tại Viên- Áo, trong đó có Công đoàn
Giáo dục Việt Nam. Như vậy, chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập (22.7.1951), Công đoàn giáo dục
Việt Nam đã được kết nạp là một thành viên của FISE.Từ ngày 26 đến 30/8/1957, tại Thủ đô Vacsava, Hội
nghị FISE có 57 nước tham dự, trong đó có cả Công đoàn Giáo dục Việt Nam, quyết định lấy ngày 20
tháng 11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo.
Ngày 20/11/1958, lần đầu tiên ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền
Bắc nước ta. Những năm sau đó, ngày Lễ 20 tháng 11 còn được tổ chức tại các vùng giải phóng ở miền
Nam. Hàng năm vào dịp Kỷ niệm 20- 11, cơ quan tiểu ban giáo dục thường xuất bản, phát hành một số tập
san đặc biệt để cổ vũ tinh thần đấu tranh của giáo giới trong vùng tạm chiếm, động viên tinh thần chịu đựng
gian khổ hy sinh của anh chị em giáo viên kháng chiến.
* 20-11- Ngày Nhà giáo Việt NamSau ngày miền Nam giải phóng 30/4/1975, đất nước được thống nhất,
non sông quy về một mối. Giáo giới Việt Nam đoàn kết nhất trí xây dựng nền giáo dục thống nhất trong cả
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ý nghĩa của ngày "
Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử với giáo giới Việt Nam.
Song ngày 20 -11 đã trở thành truyền thống với nội dung mới của giáo giới Việt Nam và của nhân dân Việt
Nam. Chính vì thế theo đề nghị của ngành Giáo dục, ngày 28/9/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ) đã ban hành Quyết định số 167 - HĐBT về ngày Nhà giáo Việt Nam.

hành nghề giáo dục, Chu Văn An đã dạy hầu hết các học sinh từ thấp đến cao, từ bình dân đến quý tộc. Ông
nỗ lực giảng giải các học thuyết kinh điển của Nho gia, tạo điều kiện để đưa lý thuyết Khổng Mạnh đi dần
đến chỗ độc tôn. Ông có một phương pháp giảng dạy rất đặc biệt nên hấp dẫn được học trò và làm cho mọi
người phải tôn kính. Tài, đức của ông làm cho quỷ thần cũng phải kính phục và đến để học tập. Phan Huy
Chú đã ca ngợi: Học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt trước sau chỉ có một ông,
các ông khác không thể nào so sánh được.Cuộc đời thanh bạch của ông là tấm gương sáng của thời phong
kiến. Ông là một trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu. Sự nghiệp của ông được ghi lại trong
văn bia ở Văn Miếu- Quốc Tử Giám.
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888):
Cụ Đồ Chiểu sinh ra ở phủ Tân Bình (Gia Định). Cuộc đời ông gặp rất nhiều đau khổ (đỗ tú tài nhưng bỏ
thi Hội về chịu tang mẹ, trên đường về ốm nặng, khóc thương mẹ đến nỗi mù mắt, vợ chưa cưới bội ước).
Vượt lên hoàn cảnh, ông mở trường dạy học, làm thuốc. Khi giặc Pháp xâm lược, Nguyễn Đình Chiểu vẫn
giữ vững khí tiết, dùng văn chương làm vũ khí, ca ngợi nghĩa quân. Nguyễn Đình Chiếu đề cao trung, hiếu,
tiết, nghĩa, bộc lộ lòng yêu nước, yêu nhân dân. Tác phẩm nổi tiếng: Lục Vân Tiên, Ngư tiều y thuật vấn
đáp, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 - 1585):
Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491), tại thôn Cổ Am, Hải
Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái
bảo Nghiêm quận công Nguyễn Văn Định, thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ
Văn Lan, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã hấp thụ truyền thống
gia giáo kỷ cương. Vì ông đỗ trạng nguyên và được phong tướcTrình Tuyền hầu nên dân gian gọi ông là
Trạng Trình. Làm quan được 7 năm, ông dâng sớ hạch tội 18 lộng thần nhưng không được vua nghe nên
xin cáo quan năm 1542. Khi về trí sĩ, ông dựng am Bạch Vân và lấy hiệu Bạch Vân Cư Sĩ mở trường dạy
học cạnh sông Hàn giang, do đó còn có tên Tuyết giang và học trò gọi ông là "Tuyết giang Phu tử". Học trò
của ông có nhiều người cũng nổi tiếng như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, một nhà ngoại giao hay
Nguyễn Dữ, tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Quyền. Trong hoàn cảnh lịch sử thế
kỷ XVI, có thể nhận thấy rằng nhân dân Việt Nam đang có một sự trông ngóng về một con người có tài
năng siêu việt và là chỗ dựa tinh thần cho mọi người. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện và
ngay lập tức được đón nhận. Người ta thấy rằng ông quả là bậc hiền tài mà họ trông chờ, ông mang đủ tư
cách của một ông thầy đáng để cho họ quý trọng. Bằng vốn văn hoá phong phú của mình, ông đã cô đúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status