Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia - Pdf 50

MỤC LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACB

Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu

CN

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

CN NHNNg

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

CP

Chính phủ

DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

GTCG

Giáy tờ có giá


Ngân hàng Trung ương

OECD

Tổ chức hợp tác các nước kinh tế phát triển

PGD

Phòng giao dịch



Quyết định

TCTD

Tổ chức tín dụng

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TSCĐ

Tài sản cố định

TTCP

Thủ tướng chính phủ

DANH MỤC ĐỒ THỊ - BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1:
Bảng 1:
Bảng 2:
Bảng 3:

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Tỷ lệ tiền gửi/GDP và Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP (6 tháng)
Cơ cấu nợ xấu

Hình 1:

Thị phần tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại

Hình 2:

Thị phần tín dụng của hệ thống ngân hàng

Hình 3:

Thị phần tài sản của hệ thống ngân hàng

Hình 4:

Cơ cấu vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng

Hình 5:

Tốc độ tăng trưởng vốn điều lệ và các quỹ năm 2010


Lợi nhuận khu vực ngân hàng

Hình 14:

Cơ cấu nguồn thu của hệ thống ngân hàng năm 2010

Hình 15:

Tỷ lệ chi phí ngoài lãi trên tổng thu nhập

Hình 16:

Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn


i

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, hoạt động của các Ngân
hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang ngày càng được mở rộng theo hướng hiện
đại hóa và đa dạng hóa, Mục tiêu an toàn và hiệu quả của từng ngân hàng cũng như
toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là một mục tiêu quan trọng, bởi đây là kênh
huy động vốn lớn và hiệu quả nhất của nền kinh tế. Chính vì thế việc đảm bảo cho
hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế cao là
nhiệm vụ của hoạt động giám sát ngân hàng của các cơ quan với chức năng thanh
tra, giám sát.
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với chức năng giám sát hệ thống tài chính
quốc gia, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại. Ủy ban đã sử dụng công cụ
chỉ số CAMEL để đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại để

đánh giá và tham vấn ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng để
giải quyết phần nội dung. Ngoài ra luận văn còn sử dụng hệ thống đồ thị, bảng biểu
để minh họa cho những phân tích của đánh giá.
Trong chương 1: Tác giả đã góp phần làm rõ thêm lý luận về hệ thống
ngân hàng thương mại và hệ thống chỉ số CAMEL.
Tác giả đã hệ thống lại những khái niệm ngân hàng thương mại theo Pháp
lệnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nêu lên những chức năng của hệ thống
ngân hàng thương mại trong nền kinh tế bao gồm: trung gian tài chính, phương tiện
thanh toán, trung gian thanh toán. Đưa ra hệ thống dịch vụ của ngân hàng thương
mại và hệ thống lại những rủi ro của ngân hàng gặp phải để từ đó cho thấy vai trò
cũng như nhiệm vụ mà hệ thống chỉ số CAMEL hướng tới đó là: rủi ro về mặt tín
dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và các rủi ro khác. Luận văn
cũng phân tích sự cần thiết phải đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng
thương mại bởi Rủi ro gắn liền với ngân hàng thương mại, phản ánh các tình huống
bất thường xảy ra gây tổn thất cho ngân hàng. Do đó, hạn chế rủi ro không chỉ là
mối quan tâm của các ngân hàng thương mại mà còn là mục tiêu kiểm soát của ngân
hàng Trung ương và đối với quyền lợi của khách hàng.
Trong chương này, tác giả còn giới thiệu về hệ thống chỉ số CAMEL. Hệ
thống đánh giá CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh, mức độ an toàn
của hệ thống các tổ chức tài chính. Chỉ số này do Cục quản lý các tổ hợp tín dụng
Hoa Kỳ xây dựng. CAMEL được được kết hợp từ chữ cái đầu tiên của các yếu tố
hình thành nên hệ thống này.
C: Capital - chỉ số về vốn
A: Asset - chỉ số về chất lượng tài sản
M: Management - chỉ số về năng lực quản lý
E: Earning - chỉ số về lợi nhuận
L: Liquidity - chỉ số về thanh khoản


iii


iv
• Chỉ số về thanh khoản: đánh giá dựa trên các yếu tố tăng trưởng huy động
vốn, tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn, căng thẳng thanh
khoản trên thị trường liên ngân hàng.
4. Đánh giá khu vực ngân hàng sau khi phân tích bằng chỉ số CAMEL. Sử
dụng những đánh giá của các tổ chức quốc tế và bản thân tác giả để thấy được vai
trò mà hệ thống chỉ số CAMEL mang lại. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn
của việc sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL tại Ủy ban.
• Thuận lợi
- Chỉ số CAMEL được sử dụng trong hoạt động đánh giá mức độ an toàn của
thệ thống ngân hàng là phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện với nhiều điều luật,
điều chỉnh chung và luật chuyên ngành được ban hành, tạo điều kiện cho các ngân
hàng dễ dàng thực hiện các chỉ thị, việc công bố thông tin.
- Các nội dung giám sát của chỉ số CAMEL không chỉ tập trung và các yếu tố
định lượng mang tính truyền thống mà đã mở rộng cho các yếu tố định tính.
- Mặc dù chức năng hoạt động của Ủy ban Giám sát tài chính là giám sát từ xa
tuy nhiên với việc cung cấp khá đầy đủ và đúng hạn các báo cáo của các ngân hàng
thương mại đã giúp cho Ủy ban tính đúng, đủ, chính xác các chỉ tiêu giám sát hệ
thống ngân hàng theo bộ chỉ số CAMEL.
- Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực ngân hàng tài
chính đã góp phần tạo thuận lợi trong việc thực hiện tính toán, lập các báo cáo giám
sát một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ.
• Khó khăn
- Có sự khác nhau giữa hệ thống kế toán Việt Nam với hệ thống kế toán quốc
tế. Trong việc đánh giá và giám sát còn tụt hậu trong hội nhập quốc tế, việc đánh giá
hệ thống ngân hàng còn chưa triệt đẻ nên chưa phản ảnh được đầy đủ thực trạng
ngân hàng.
- Hệ thống quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro của các ngân hàng còn

giám sát tại chỗ, chưa đưa ra được quy trình giám sát hoàn thiện.
Chương 3: Tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp và kiến nghị
để nâng cao khả năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL tại Ủy ban.
1. Để đưa ra được những giải pháp và kiến nghị phù hợp tác giả đã phân tích
những nguyên tắc trong việc sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL, nguyên tắc trong


vi
hoạt động giám sát ngân hàng thương mại để từ đó đưa ra được phương hướng sử
dụng hệ thống chỉ số này trong thời gian tới.
2. Tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao khẳ năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL:
• Giải pháp đối với cấu trúc khu vực ngân hàng:
Khuyến khích phát triển các hình thức tín dụng quy mô nhỏ, đa dạng hóa hình
thức sở hữu. Tăng cường kiểm tra, giám, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực
ngân hàng. Cần phân loại các ngân hàng (ví dụ theo quy mô vốn chủ sở hữu, hiệu
quả hoạt động,…) từ đó quy định hình thức, phạm vi, cơ chế hoạt động, giám sát
từng nhóm.
• Giải pháp đối với từng yếu tố trong hệ thống chỉ số CAMEL:
- Giám sát, quản lý nguồn vốn điều lệ gia tằng cần đi kèm với hệ thống giải
pháp, lộ trình cơ sở pháp lý đồng bộ.
- Xây dựng hệ thống chỉ số an toàn cho khu vực ngân hàng song hành với cơ
chế kiểm soát, biện pháp hỗ trợ và chế tài xử lí đồng bộ.
- Cần phải nâng cao trình độ đội ngũ quản lý của hệ thống ngân hàng, có sự
đào tạo chuyên sâu, có năng lực về trình độ chuyên môn và trình độ quản lý.
- Cần có khung pháp lý hoàn chỉnh để thống nhất trong việc quản lý hoạt
động. Phải yêu cầu các đơn vị này và các cơ quan liên quan thực hiện nghiêm chỉnh
các quy định đã ban hành về tổ chức hoạt động của hệ thống ngân hàng.
- Do vậy cần xem xét lại tỷ lệ cấp tín dụng trong hệ thống ngân hàng, NHNN
nên có lộ trình và hướng dẫn cụ thể để các ngân hàng có thời gian điều chỉnh cho
phù hợp với những quy định của Thông thư 13.

đại hóa và đa dạng hóa, Mục tiêu an toàn và hiệu quả của từng ngân hàng cũng như
toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là một mục tiêu quan trọng, bởi đây là kênh
huy động vốn lớn và hiệu quả nhất của nền kinh tế. Chính vì thế việc đảm bảo cho
hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế cao là
nhiệm vụ của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại của các cơ quan với chức
năng thanh tra, giám sát.
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với chức năng giám sát hệ thống tài
chính, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại. Thông qua hoạt động giám sát
từ xa của mình để giúp Thủ tướng Chính phủ nắm rõ hơn về thị trường tài chính
Việt Nam. Ủy ban đã sử dụng công cụ chỉ số CAMEL để đánh giá mức độ an toàn
của hệ thống ngân hàng thương mại để từ đó tham mưu cho Chính phủ nhằm ổn
định thị trường tài chính Việt Nam ngày càng bền vững hơn.
Trước sức ép của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rủi ro trong hoạt động
ngân hàng ngày càng đa dạng về loại hình và tinh vi về mức độ, tài chính của các
ngân hàng thương mại sẽ được đảm bảo, hệ thống ngân hàng sẽ mạnh và thực sự
là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế nếu hoạt động giám sát đối với ngân
hàng thương mại được hoàn thiện. Như vậy, làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao
hoạt động giám sát mức độ an toàn của các ngân hàng thương mại đang là câu
hỏi bức xúc của thực tiến hiện nay của các cơ quan giám sát, của Chính phủ cũng
như của nền kinh tế. Đề tài “Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát
và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại
Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia” được lựa chọn nghiên cứu nhằm đáp ứng
đòi hỏi bức xúc đó.
1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Hệ thống ngân hàng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế của đất nước cũng như trong quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Đây là


2
kênh huy động vốn lớn nhất trong nền kinh tế. An toàn trong hoạt động của hệ


3
- Đánh giá việc sử dụng chỉ số CAMEL tại Ủy ban Giám sát tài chính quốc
gia, đưa ra được những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng chỉ số này để từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao việc sử dụng chỉ số này trong đánh giá hệ
thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
- Từ các số liệu tính toán được qua các chỉ số để nhìn lại hệ thống các tổ chức
tín dụng tại Việt Nam. Đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý (Ngân hàng
Nhà nước, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia) về mức độ an toàn của các tổ chức
tín dụng.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ an toàn của hệ thống ngân
hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
- Chủ thể: Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia
- Phạm vi:
o Sử dụng mô hình CAMEL để đánh giá
o Thực trạng về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay và mức
độ an toàn của hệ thống này (đánh giá theo mô hình CAMEL)
o Đề xuất các giải pháp về hoàn thiện công tác đánh giá của Ủy ban Giám sát
tài chính Quốc gia nhằm nâng cao mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng.
- Về thời gian: Do mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào từng
thời điểm ta đánh giá do chịu tác động của hệ thống chính sách, nền kinh tế, những tác
động cảu kinh tế thế giới nên trong đề tài này sử dụng số liệu của năm 2010 để tăng
tính cập nhật, chính xác cho đề tài.
1.5. Câu hỏi nghiên cứu:
- Vai trò của việc đảm bảo an toàn hệ hống ngân hàng thương mại đối với hệ
thống tài chính Việt Nam.
- CAMEL là gì? Cách tính của các chỉ số trong CAMEL?
- Thực trạng của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Việc áp dụng các chỉ số CAMEL trong việc tính các chỉ số an toàn cho hệ

- Chương 2: Phân tích thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong giám sát
và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại
tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.
- Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số CAMEL
trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân
hàng thương mại.


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI
TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL ĐỂ GIÁM SÁT
VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Các quốc gia khác nhau lại có những định nghĩa khác nhau về ngân hàng
thương mại. Ở Việt Nam Pháp lệnh ngân hàng ngày 23/5/1990 của hội đồng Nhà
nước Việt Nam xác định: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại cũng là ngân hàng và cũng có những chức năng của
một ngân hàng.
1.1.2.1

Trung gian tài chính
Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là

NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu
thanh toán, chi trả của xã hội.
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực
hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM
cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm
chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các
chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp
người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào
đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được


7
rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình
chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu
chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
1.1.3. Các dịch vụ của ngân hàng thương mại
- Mua bán ngoại tệ: Ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một
loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ.
- Nhận tiền gửi: Để có tiền cho vay thu lợi nhuận cao, ngân hàng mở dịch vụ
nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết trả đúng hạn.
- Cho vay thương mại: Ngân hàng dùng tiền của khách hàng gửi để cho
những người cần vốn vay sản xuất kinh doanh và thu lợi thông qua lãi suất.
- Cho vay tiêu dùng: Ngân hàng cấp vốn cho các cá nhân để phục vụ cho nhu
cầu tiêu dùng của họ.
- Tài trợ các dự án: Tài trợ cho việc xây dựng các nhà máy mới, đặc biệt là
trong các ngành công nghệ cao.

công nghệ, sự di chuyển nguồn tiền giữa các khách hàng của ngân hàng trở nên dễ
dàng hơn song lại làm tăng tính rủi ro cao cho toàn hệ thống. Rủi ro của ngân hàng
có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau song đều có bản chất chung,
đó là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng.
1.1.4.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là
khoản vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên, những khoản cho vay luôn ẩn chứa rủi ro.
Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng cho vay những người không nên cho
vay hoặc là khách hàng dùng sai mục đích khoản vay.
1.1.4.2 Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổng thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị trường,
tỷ giá thường xuyên giao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái của
ngân hàng tạo ra thu nhập hoặc thặng dư thâm hụt tạm thời. Tuy nhiên, có những
thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.


9
1.1.4.3 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến gắn với thay đổi của
lãi suất và nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kỳ hạn cả tài sản và nguồn, quy mô
và kỳ hạn các hợp đồng kỳ hạn.
Nguyên nhân của rủi ro lãi suất: (i) sự không phù hợp về kỳ hạn của nguồn
và tài sản; (ii) Sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngân hàng;
(iii) Ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng.
1.1.4.4 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng
khi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá (hoặc nhỏ hơn) khả năng thanh khoản dự

nghị sử dụng đối với nhiều quốc gia nhất là các quốc gia chịu tác động của khủng
hoảng như một trong những biện pháp hữu hiệu để chống đỡ cũng như tái thiết lại
hệ thống tài chính.
CAMEL được được kết hợp từ chữ cái đầu tiên của các yếu tố hình thành
nên hệ thống này.
C: Capital - chỉ số về vốn
A: Asset - chỉ số về chất lượng tài sản
M: Management - chỉ số về năng lực quản lý
E: Earning - chỉ số về lợi nhuận
L: Liquidity - chỉ số về thanh khoản
Hiện nay chỉ số này còn dược mở rộng thêm một yêu tố nữa đó là S:
Sensitivity to market risk – độ nhạy cảm với rủi ro thị trường và biến chỉ số
CAMEL thành CAMELS.
1.2.2 Mục tiêu sử dụng và căn cứ xây dựng hệ thống chỉ số CAMEL
1.2.2.1 Mục tiêu sử dụng
Trên thế giới có khá nhiều hệ thống chỉ số dùng để giám sát hệ thống ngân
hàng. Tuy nhiên hệ thống chỉ số CAMEL được sử dụng tại nhiều quốc gia bởi
những lợi ích mà nó mang lại cho các quốc gia sử dụng sau cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu vừa qua.
Chỉ số CAMEL dùng để đánh giá tổng thể toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng
như hệ thống tài chính để từ đó xem xét mức độ an toàn của toàn hệ thống nhằm


11
sớm phát hiện ra các rủi ro mà hệ thống có thể gặp phải và đưa ra các giải pháp cần
thiết để chống đỡ cho toàn hệ thống.
Trong xu thế hội nhập và phát triển toàn diện và mọi mặt như hiện nay, việc
sử dụng hệ thống chỉ số được quốc tế chấp nhận cho hệ thống ngân hàng tại Việt
Nam như là một bước tiến để đưa hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống tài
chính của Việt Nam nói riêng thâm nhập sâu hơn và tốt hơn đối với hệ thống tài

hình tài chính của các tổ chức tín dụng phải được xem xét khi đánh giá tỷ lệ an toàn
vốn của các tổ chức tín dụng.
Các loại rủi ro và mức độ rủi ro tiềm ẩn trong họa động của tổ chức sẽ quyết
định đến việc mở rộng tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng so với mức tối
thiểu đã được quy định nhằm phản ánh một cách chính xác các hậu quả tiềm tàng
mà các rủi ro này có thể gây ra đối với vốn của các hệ thống ngân hàng.
 Nội dung đánh giá
- Mức độ và chất lượng của vốn và tính trạng tài chính tổng thể của các tổ
chức tín dụng.
- Năng lực quản trị để có thể đề xuất các nhu cầu mới phát sinh đối với vốn
của các tổ chức tín dụng.
- Bản chất, xu hướng và khối lượng của các tài sản có rủi ro và mức độ dự
trữ cho các khoản thua lỗ do cho vay và cho thuê tài chính và các tài sản dự trữ có
giá trị khác.
- Cơ cấu bảng cân đối bao gồm bản chất và giá trị các tài sản vô hình, rủi ro thị
trường, rủi ro tích lũy và các rủi ro khác liên quan đến các hoạt động phi truyền thống.
- Áp lực rủi ro từ các tài khoản ngoại bảng.
- Chất lượng và mức độ lành mạnh của các khoảng thu nhập và sự hợp lý của
các khoản cổ tức.
- Triển vọng và kế hoạch cho tăng trưởng cũng như các kế hoạch trong quá
khứ trong việc quản trị tăng trưởng.
- Cách tiếp cận các thị trường vốn và các nguồn vốn khác, bao gồm cả vốn
hỗ trợ từ công ty mẹ.


13
 Các chỉ tiêu sử dụng
 Cách xác định
Vốn tự có = Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2
- Vốn điều lệ (Vốn đã được cấp, vốn góp)

vốn tự có
nghiệp khác vượt mức 15% vốn tự có của TCTD.
- Khoản lỗ kinh doanh bao gồm cả khoản lỗ lũy kế.
• Các chỉ số về vốn tự có
- Các điều kiện: Vốn điều lệ đủ theo mức vốn pháp định; Đảm bảo an toàn
vốn, cụ thể (1) vốn điều lệ thực góp không thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký, (2) Tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) đạt mức quy định của NHNN.
• Chỉ số 1: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu


14

CAR =

Vốn tự có
Tổng tài có sản rủi ro chuyển đổi

≥ 8%

Trong đó:
+ Vốn tự có = vốn cấp 1 + vốn cấp 2 – các khoản phải trừ khỏi vốn tự có
+ Tài sản có rủi ro theo quy định của NHNN
+ Đảm bảo các quy định khác của NHNN về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu.
- Nhóm tài sản có hệ số rủi ro bằng 0 gồm: tiền mặt, vàng,
tiền gửi tại ngân hàng chính sách xã hội theo quy định; tín
phiếu NHNN; các khoản cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác
Giá

đầu tư của CP, cho vay DNNN bằng VND được đảm bảo



bằng giấy tờ có giá do TCTD khác thành lập tại Việt Nam

ro nội bảng

phát hành; các khoản phải đòi đối với các tổ chức tài chính

gồm:

Nhà nước, đá quý, tiền mặt đang trong quá trình thu.
- Nhóm tài sản có hệ số rủi ro 50% gồm: Các khoản đầu tư

gồm:

cho dự án theo hợp đồng theo quy định của Chính phủ; các
khoản cho vay đảm bảo bằng bất động sản của bên vay.
- Nhóm tài sản có hệ số rủi ro 100% gồm: Tổng số tiền đã
cấp vốn điều lệ cho các công ty trực thuộc có tư cách pháp
nhân hạch toán độc lập; các khoản đầu tư dưới hình thức
góp vốn mua cổ phần vào các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
khác, máy móc, thiết bị, bất động sản và TSCĐ khác, các
Giá trị tài

loại tài sản có khác.
- Các khoản cam kết bảo lãnh tài trợ cho khách hàng.


15

sản có rủi

1.2.3.2 Nhóm chỉ số về chất lượng tài sản (Asset)
 Yêu cầu đánh giá
Số lượng của các rủi ro hiện tạivà tiểm ẩn gắn liền với danh mục đầu tư và
cho vay, các tài sản cố định, các tải sản có khác, các giao dịch ngoại bảng của hệ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status