Luận văn thạc sỹ: Cơ sở khoa học lập dự toán ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nam Định” - Pdf 50

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BIỂU

TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỰ TOÁN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC................................................................5
1.1.
Ngân sách nhà nước và lập dự toán ngân sách nhà nước................5
1.1.1. Ngân sách nhà nước và vai trò của ngân sách.......................................5
1.1.2. Lập dự toán ngân sách nhà nước: Quan niệm và vai trò của lập dự
toán ngân sách nhà nước.......................................................................9
1.2.
Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước và sự cần thiết luận
giải những cơ sở khoa học lập dự toán ngân sách nhà nước.........12
1.2.1. Những căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước......................................12
1.2.2. Nội dung của lập dự toán ngân sách....................................................14
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán ngân sách nhà nước.............18
1.2.4. Sự cần thiết luận giải những cơ sở khoa học lập dự toán ngân sách
nhà nước..............................................................................................19
1.3.
Kinh nghiệm quốc tế và trong nước để đảm bảo cơ sở khoa
học trong lập dự toán ngân sách nhà nước và bài học đối với
Nam Định...........................................................................................22
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế...........................................................................22
1.3.2. Kinh nghiệm lập dự toán của các tỉnh.................................................27
Chương 2: THỰC TRẠNG LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC Ở TỈNH NAM ĐỊNH............................................................32
2.1.
Những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến lập
dự toán ngân sách nhà nước.............................................................32

3.2.1. Nhóm giải pháp về xác định cơ sở khoa học để lập dự toán ngân
sách nhà nước......................................................................................74
3.2.2. Nhóm giải pháp về quy trình lập dự toán ngân sách nhà nước...........75
3.2.3. Nhóm giải pháp liên quan đến nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, tinh gọn bộ máy lập dự toán.........................................................80
3.2.4. Nhóm giải pháp liên quan đến tổ chức thực hiện lập dự toán và
giao dự toán.........................................................................................84
PHẦN KẾT LUẬN........................................................................................90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................91


DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu số 2.1: Tình hình phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010...............34
Biểu số 2.2: Dự toán thu ngân sách nhà nước tỉnh Nam Định 5 năm
2006-2010.................................................................................40
Biểu số 2.3: Dự toán chi ngân sách nhà nước tỉnh Nam Định 5 năm
2006-2010................................................................................ 41
Biểu số 2.4: Cơ cấu chi ngân sách tỉnh Nam Định 5 năm 2006-2010 ...........55


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Để duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước và của quốc gia, nhà nước
quy định hệ thống pháp luật về tài chính vụ thuế bắt buộc mọi pháp nhân và thể
nhân phải nộp một phần thu nhập của mình cho nhà nước. Hoạt động thu, chi của
ngân sách nhà nước thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã
hội. Nghiệp vụ chủ yếu của ngân sách nhà nước là thu, chi nhưng không đơn thuần
là việc tăng giảm số lượng tiền tệ mà còn phản ánh mức độ quyền lực, ý chí và sơ

quyền các cấp trong việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ của cấp mình và cấp dưới.
Việc thực hiện đúng quy trình, chất lượng công tác dự toán ngân sách nhà nước góp
vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương.
Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính như: Đổi
mới chính sách tài chính trong quá trình xã hội hoá hoạt động giáo dục Đại học ở
Việt Nam của tác giả Nguyễn Quốc Huy, Vụ Kế hoạch tài vụ, Bộ Giáo dục và Đào
tạo; Hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế ở tỉnh Nghệ An của tác giả Hoàng Xuân Thành; Hoàn thiện cơ chế chi ngân sách
nhà nước cho giáo dục đào tạo ở tỉnh Nghệ An của tác giả Nguyễn Thanh Tùng ...
chỉ đề cập khía cạnh lập, chấp hành, kế toán ngân sách nhà nước với góc độ là bộ
phận của cơ chế quản tài chính ngân sách.
Tác giả là người triển khai lập dự toán ngân sách địa phương báo cáo Bộ
Tài chính theo quy định; vì vậy lựa chọn nghiên cứu đề tài dưới góc độ kinh tế
chính trị là mới mẻ và thiết thực, không trùng lắp với các công trình và đề tài đã
được công bố.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn về lập dự toán ngân sách nhà
nước ở địa phương;
Tìm hiểu thực trạng việc triển khai lập dự toán ngân sách nhà nước ở địa
phương trong thời gian qua đã đảm bảo cơ sở khoa học hay không;
Nghiên cứu những tồn tại, khuyết điểm trong quá trình lập dự toán do chưa


3

thực hiện hoặc thực hiện lập dự toán chưa đúng căn cứ khoa học.



dự toán ngân sách nhà nước tỉnh Nam Định gắn với việc chấp hành, kế toán, quyết
toán và kiểm toán nhà nước trên địa bàn tỉnh từ năm 2007 đến 2010.
Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm đảm bảo tính khoa học trong lập dự toán
ngân sách nhà nước tỉnh Nam Định.

7. Kế cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kế luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
chia làm 3 chương:

Chương 1:

Cơ sở lý luận và thực tiễn về dự toán ngân sách nhà nước.

Chương 2:

Thực trạng lập dự toán ngân sách nhà nước ở tỉnh
Nam Định

Chương 3:

Quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo tính
khoa học trong lập dự toán ngân sách nhà nước ở
tỉnh Nam Định.


5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước
và các chủ thể khác trong phân phối tổng sản phẩm quốc dân, chuyển dịch một bộ
phận thu nhập bằng tiền ở các chủ thể kinh tế khác thành thu nhập của nhà nước và
phân phối chuyển dịch nguồn thu nhập đó đến các đối tượng sử dụng để thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo
đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có hội
đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân. Cụ thể là ngân sách cấp tỉnh; ngân sách cấp
huyện (huyện, thành phố); ngân sách cấp xã (xã, phường, thị trấn).

1.1.1.2. Nội dung của ngân sách nhà nước.
Nội dung ngân sách nhà nước bao gồm: thu ngân sách nhà nước và chi ngân
sách nhà nước.

Thứ nhất: Nội dung thu ngân sách nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy
động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ ngân sách nhằm đáp ứng
nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước: Thu
ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ
hoạt động kinh tế của nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân;
các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:
- Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật;
- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản phí,
lệ phí;
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước theo quy định của pháp
luật, gồm: Tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay




8

gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, bảo đảm
hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản
chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi ngân sách nhà nước gồm:
- Chi đầu tư phát triển về: Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ
chức kinh tế, góp vốn liên doanh; chi bổ sung dự trữ nhà nước; chi đầu tư phát triển
thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; các khoản chi đầu tư
khác theo quy định của pháp luật;
- Chi thường xuyên về: Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã
hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ,
các sự nghiệp xã hội khác; các hoạt động sự nghiệp kinh tế; hoạt động của cơ quan
nhà nước; hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam; hoạt động của các tổ chức chính
trị – xã hội; trợ giá theo chính sách của nhà nước...;
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay;
- Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước;
- Chi cho vay của ngân sách trưng ương;
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
theo quy định của Luật ngân sách nhà nước;
- Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định;
- Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới;
- Chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau.

1.1.1.3. Vai trò của ngân sách nhà nước
Xuất phát từ bản chất và chức năng của ngân sách nhà nước và trên cơ sở các
nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn thì vai trò quản lý kinh tế xã hội của


1.1.2. Lập dự toán ngân sách nhà nước: Quan niệm và vai trò của lập dự
toán ngân sách nhà nước
1.1.2.1. Quan niệm về lập dự toán ngân sách nhà nước
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, tập 4, xuất bản tháng 4 năm 2005 thì dự
toán ngân sách nhà nước được hiểu là bảng tính toán dự trù các khoản thu, các


10

khoản chi và quan hệ cân đối giữa thu và chi của ngân sách nhà nước trong một thời
kỳ kế hoạch (thường là một năm); được xây dựng trên cơ sở các chỉ tiêu phát triển
kinh tế - xã hội, tổng hợp các dự toán đơn vị và kế hoạch thu, chi tài chính của các
cơ quan, các ngành, các địa phương, các tổ chức kinh tế trực thuộc. Dự toán ngân
sách nhà nước do Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn.
Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước thì:
Hàng năm, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc lập kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau.
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn về
yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà nước; thông báo số kiểm tra
dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và tổng số thu, chi,
một số lĩnh vực chi quan trọng đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Căn cứ quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính,
Uỷ ban nhân dân tỉnh hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách các cấp ở địa phương.
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải tổ
chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ
quan quản lý cấp trên; cơ quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp báo cáo cơ quan
tài chính cùng cấp.
Uỷ ban nhân dân tỉnh lập dự toán ngân sách địa phương báo cáo thường trực

phát triển kinh tế xã hội và quốc phòng an ninh.
Tập trung nguồn lực cho việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của quốc gia
hoặc từng ngành, địa phương, đơn vị.
Tạo điều kiện chủ động trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của
từng cấp, từng ngành, địa phương.
Là cơ sở để thực hiện cải cách thủ tục hành chính và công khai minh bạch
trong việc thực hiện nguồn vốn ngân sách nhà nước và nguồn vốn vay từ nước ngoài.


12

Lập dự toán ngân sách hàng năm gắn liền với việc lập kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội; căn cứ định hướng phát triển kinh tế xã hội để xây dựng dự toán
ngân sách nhà nước phù hợp và có tính khả thi cao, được các cơ quan nhà nước sử
dụng để thực hiện quá trình điều tiết nền kinh tế.
Xét về nội dung, tính chất, dự toán ngân sách nhà nước thuộc nhóm kế hoạch
biện pháp, nó cùng với kế hoạch vốn đầu tư, kế hoạch lao động việc làm...để thực
hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ trong năm kế hoạch.
Đối với địa phương, dự toán ngân sách tạo điều kiện để các cấp, các ngành,
đơn vị tăng cường công tác quản lý thu, chi; chủ động trong điều hành thực hiện
nhiệm vụ chính trị; làm cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá mức độ
hoàn thành nhiệm vụ thu, chi ngân sách địa phương.
Dự toán ngân sách nhà nước là cơ sở để triển khai thực hiện các chỉ tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương; củng cố quốc phòng an ninh. Lập dự toán
ngân sách sát thực tế sẽ tạo điều kiện huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước,
dành nguồn lực cho đầu tư phát triển.

1.2. Căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước và sự cần thiết luận giải những
cơ sở khoa học lập dự toán ngân sách nhà nước
1.2.1. Những căn cứ lập dự toán ngân sách nhà nước

và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả nguồn ngân sách nhà nước
- Chính sách, chế độ thu ngân sách; định mức phân bổ ngân sách, chế độ,
tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách:
Để công tác lập dự toán có cơ sở khoa học phải thường xuyên cập nhật chế
độ chính sách mới của trung ương để lập dự toán thu chi ngân sách sát thực tế, đảm
bảo cân đối và tạo sự chủ động đối với các cấp, các ngành và đơn vị.
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội và dự toán năm sau; thông tư hướng dẫn của Bộ tài chính về lập dự toán
ngân sách; Thông tư hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và đầu tư về xây dựng kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội, kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước
và văn bản hướng dẫn của uỷ ban nhân dân tỉnh.


14

- Tình hình thực hiện ngân sách các năm trước:
Để có được căn cứ cho việc lập dự toán năm sau, ngay từ đầu năm trước
phải theo dõi, nắm sát biến động của nền kinh tế, chế độ chính sách để trong quý
4 năm trước có đánh giá tình hình thực hiện. Phân tích những nhân tố chủ quan,
khách quan ảnh hưởng kết quả thu, chi để làm cơ sở lập dự toán ngân sách nhà
nước năm sau.
Như vậy, căn cứ để xây dựng dự toán ngân sách nhà nước hàng năm ở mỗi
địa phương là: Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; hướng dẫn
của Bộ Tài chính; chế độ, chính sách, định mức về thu, chi ngân sách nhà nước hiện
hành; phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu và
mức bổ sung cân đối dự ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; tình hình thực
hiện ngân sách năm trước.

1.2.2. Nội dung của lập dự toán ngân sách
1.2.2.1. Xác định các căn cứ lập dự toán

- Cơ quan thuế ở địa phương lập dự toán thu ngân sách nhà nước (thu nội
địa) trên địa bàn và cơ sở tính toán từng nguồn thu, thuế giá trị gia tăng phải hoàn
theo chế độ cho các doanh nghiệp trên địa bàn trong phạm vi quản lý gửi cơ quan
thuế cấp trên trực tiếp và Uỷ ban nhân dân, cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch và
đầu tư cùng cấp.
- Tổng Cục thuế xem xét dự toán thu, dự kiến số thuế giá trị gia tăng phải
hoàn theo chế độ do cơ quan thuế trực thuộc lập và cơ sở tính toán từng nguồn thu,
tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính.
- Các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách lập dự toán thu, chi ngân sách thộc
phạm vi nhiệm vụ được giao gửi cơ quan tài chính và cơ quan kế hoạch và đầu tư
cùng cấp.
- Các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương (cấp tỉnh) lập dự toán
thu, chi ngân sách gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư tổng hợp chung báo cáo
Chính phủ.


16

- Cơ quan tài chính các cấp:
Trong năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách: Chủ trì phối hợp với cơ quan kế
hoạch và đầu tư tổ chức làm việc với uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, các cơ
quan, đơn vị cùng cấp về dự toán ngân sách; có quyền yêu cầu bố trí lại những
khoản thu, chi trong dự toán chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, chưa tiết kiệm, chưa phù
hợp với khả năng ngân sách;
Đối với những năm tiếp theo của thời kỳ ổn định, chỉ làm việc vơí uỷ ban
nhân dân cấp dưới khi có yêu cầu, đề nghị.
Chủ trì phối hợp với cơ quan kế hoạch và đầu tư, các cơ quan đơn vị có liên
quan trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương và
phương án phân bổ dự toán của ngân sách của cấp mình.
- Cơ quan kế hoạch và đầu tư các cấp:

thuế, trong đó tổng hợp đầy đủ chính xác số thuế nợ đọng, phân loại nợ thuế theo
các tiêu thức quy định tại quy trình quản lý thuế.
Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước: Đối với
nhiệm vụ chi đầu tư phát triển cần tập trung vào 2 nội dung chủ yếu là đánh giá
công tác bố trí và tổ chức thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản; đánh giá kết quả
thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ phát triển (tình hình tín dụng ưu đãi của nhà nước, tín
dụng hộ nghèo và các hộ chính sách xã hội, tín dụng học sinh sinh viên, chính sách
hỗ trợ xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công
ích... Đối với nhiệm vụ chi thường xuyên tập trung đánh giá 5 nội dung chủ yếu:
Đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, các chương trình, dự án lớn,
những khó khăn vướng mắc và đề xuất biện pháp xử lý; đánh giá kết quả tình hình
thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên ngân sách nhà nước theo quy định của
Thủ tướng Chính phủ; đánh giá kết quả, những khó khăn, vướng mắc phát sinh
trong việc thực hiện các cơ chế, chính sách và chế độ chi tiêu trong năm; đánh giá
việc thực hiện các chính sách về xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và
thể thao...; công tác cải cách hành chính trong thực hiện dự toán ngân sách nhà nước
năm báo cáo.


18

Ngoài ra, cần tập trung đánh giá kết quả thực hiện đổi với các chương trình
mục tiêu quốc gia, chương trình dự án; đánh giá kết quả thực hiện chế độ cải cách
tiền lương; đánh giá nhu cầu và các nguồn lực phát triển của địa phương; công tác
huy động các nguồn lực tài chính ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ phát triển
kinh tế xã hội của địa phương.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán ngân sách nhà nước
- Chính sách, văn bản: Lập dự toán ngân sách phải căn cứ vào các chính sách
nhà nước đã ban hành, bao gồm cả chế độ, định mức... vì vậy trước khi lập dự toán

dài hạn, trung hạn và hàng năm. Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế xã hội để lập
dự toán ngân sách. Quản lý tài chính phải coi trọng công tác lập dự toán ngân sách
nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính trị, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm kinh phí của
nhà nước. Là công cụ của chính quyền các cấp trong phát triển kinh tế xã hội nên
lập dự toán ngân sách phải tuân theo và phục vụ định hướng phát triển kinh tế xã
hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh của địa phương, nếu không tuân thủ theo
những định hướng đó thì không đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý.
Trong từng giai đoạn, mỗi địa phương, ngành đều có quy hoạch chung để có
định hướng cho việc phát triển trong tương lai; vì vậy công tác lập dự toán ngân
sách phải căn cứ vào quy hoạch chung để bố trí nguồn lực thực hiện. Nếu thực hiện
theo định hướng đó thì mới phát huy hiệu quả và vai trò của tài chính ngân sách
trong quản lý kinh tế.
Trong quản lý ngân sách thì lập dự toán ngân sách là khâu quan trọng có tính
chất quyết định trong việc quản lý, điều hành và thực hiện các nhiệm vụ; nó tạo
điều kiện cho các địa phương đơn vị chủ động trong thực hiện nhiệm vụ của mình.
Lập dự toán ngân sách phải lấy định hướng phát triển kinh tế xã hội làm căn
cứ khoa học thì dự toán ngân sách mới khả thi và thực hiện mục đích của nhà nước
nói chung, chính quyền các cấp nói riêng. Mặt khác việc lập dự toán ngân sách là
bảng tổng hợp thu chi liên quan đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và các ngành,
lĩnh vực kinh tế quốc dân, mà các ngành phát triển phải tuân thủ theo định hướng
của Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp.


20

Thứ hai, phải căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của các bộ, ngành trung ương.
Trong quản lý kinh tế vĩ mô, các bộ ngành ở trung ương giúp Chính phủ trong
việc quản lý ngành trong phạm vi toàn quốc, cho nên việc lập dự toán ngân sách ở
mỗi địa phương, đơn vị phải tuân theo các định hướng phát triển chung của ngành đó.
Trong từng giai đoạn, mức độ và yêu cầu phát triển của ngành khác nhau, định hướng

được giao và tiêu chuẩn định mức chi để tính so kinh phí trong năm. Nếu không
thực hiện đúng các cơ sở khoa học nêu trên thì không xác định được cơ cấu và số
thu ngân sách của từng cấp, từng ngành; đồng thời không xác định mức chi ngân
sách cho từng lĩnh vực, cho từng cấp ngân sách và cơ quan đơn vị trên địa bàn.
Thứ năm, căn cứ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và thông tư hướng dẫn
của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội và lập dự toán ngân sách.
Căn cứ định hướng phát triển kinh tế xã hội 5 năm, hàng năm Thủ tướng
Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành ở trung ương và các địa phương xây dựng kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội và lập dự toán ngân sách năm sau cho phù hợp với
xu thế phát triển kinh tế thế giới. Căn cứ hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ
Tài chính và tình hình thực tế địa phương là căn cứ khoa học để lập dự toán ngân
sách năm sau; đó là những định hướng lớn có tính chất hướng dẫn và những điểm
mới trong quản lý kinh tế của nhà nước yêu cầu các địa phương thực hiện hoặc
chuẩn bị nguồn lực để thực hiện trong năm ngân sách.
Thứ sáu, tình hình thực hiện ngân sách năm trước.
Quá trình phát triển kinh tế của nước ta theo nền kinh tế thị trường có định
hướng của nhà nước bị ảnh hưởng rất nhiều vào kinh tế thế giới như chính sách tiền
tế, xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư,... vì vậy khi xây dựng dự toán ngân sách
phải căn cứ tình hình và kết quả thực hiện năm trước để phân tích, đánh giá những
nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến kết quả thu chi; trên cơ sở đó để
xác định nhiệm vụ thu chi cho phù hợp. Mặt khác tác động nền kinh tế thế giới, của
quốc gia ảnh hưởng tới từng địa phương cũng khác nhau, cho nên phải căn cứ tình
hình thực tế của địa phương để làm cơ sở cho việc lập dự toán ngân sách hàng năm.


22

Việc đánh giá tình hình thực hiện năm trước giúp cho các nhà quản lý phân
tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng và hiệu quả các chế độ, chính sách đã ban hành có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status