ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM HỒNG VÂN
Nghiên cứu đặc điểm của huyệt Thận du và hiệu
quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng
thể thận hư
Chuyên ngành
: Y học cổ truyền
Mã số
: 62720201
Nghiên cứu sinh
: Phạm Hồng Vân
Người hướng dẫn
: PGS.TS. Nghiêm Hữu Thành
PGS.TS. Bùi Mỹ Hạnh
2014
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau thắt lưng (ĐTL) là hiện tượng đau cấp tính hoặc mạn tính ở vùng
từ ngang đốt sống L1 đến ngang đĩa đệm L5 – S1. Nguyên nhân chính của
chính và 2 mạch Nhâm, mạch Đốc. Một số huyệt có chức năng và tác dụng
giống nhau được chia thành những nhóm huyệt và được gọi bằng những tên
chung như huyệt Nguyên, huyệt Lạc, huyệt Du ở lưng, huyệt Mộ, huyệt Ngũ
du, huyệt Khích, Bát hội huyệt và Giao hội huyệt.
+ Huyệt ngoài kinh (Kỳ ngoại huyệt): là những huyệt không thuộc vào
12 kinh chính và hai mạch Nhâm, Đốc. Huyệt thường có vị trí ở ngoài các
đường kinh, nhưng cũng có một số huyệt nằm trên đường tuần hành của kinh
mạch chính song không phải là huyệt của kinh mạch đó.
Huyệt ngoài kinh chưa được nói tới trong cuốn Nội kinh, đó là những
huyệt do các nhà châm cứu đời sau quan sát và phát hiện dần. Trên lâm sàng
chúng có hiệu quả điều trị rõ ràng và có vị trí cố định.
4
+ Huyệt A thị: Sách Nội kinh có viết "lấy chỗ đau làm huyệt", những
huyệt đó sau này được gọi là huyệt A thị. Đó là những huyệt không có vị trí
cố định, cũng không tồn tại mãi mãi, nó chỉ xuất hiện ở những chỗ thấy đau,
nó không phải là những huyệt của các kinh mạch chính và huyệt ngoài kinh.
Đặc tính của huyệt A thị là châm vào đó có thể chữa chứng đau nhức rất tốt vì
có tác dụng lưu thông khí huyết.
- Vai trò và tác dụng của huyệt.
Sách Tố Vấn viết "Người ta có 12 khớp lớn, 365 khe nhỏ chưa kể huyệt
của 12 kinh mạch, đều là nơi vệ khí lưu hành. Đó cũng là nơi tà khí vào cơ thể
và lưu lại, phải dùng châm, cứu để đuổi tà khí đi" [3], [5]. Như vậy, huyệt vừa
là nơi thần khí lưu hành xuất nhập, vừa là nơi tà khí xâm nhập vào cơ thể, vừa
là nơi dùng kim hay mồi ngải tác động vào đó để đuổi tà khí ra ngoài.
+ Về sinh lý: Huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà
nó phụ thuộc. Huyệt là nơi thần khí vận hành qua lại vào ra, nơi tạng phủ kinh
lạc dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể, làm cho cơ thể thành một
khối thống nhất, góp phần duy trì các hoạt động sinh lý của cơ thể luôn ở
+ Về tổ chức học vùng huyệt: Nghiên cứu các thành phần tổ chức học
của Bosy J. cho thấy 29% số huyệt có các sợi thần kinh kiểu não- tủy. Các
xung động thần kinh phát sinh tại các huyệt được truyền theo các sợi này về tủy
sống và não bộ, 42% số huyệt có dây thần kinh dưới da và 46% số huyệt có
tĩnh mạch dưới da và đám rối thần kinh bao quanh (theo [7]).
Nghiên cứu của Portnov Ph.G. cho thấy có khoảng 80% các huyệt cũng
như vùng da xung quanh có các sợi thần kinh và mạch máu dưới da, trong đó
khoảng 30% có các sợi thần kinh, động mạch dưới da và mạch bạch huyết,
khoảng 30% có các sợi thần kinh và tĩnh mạch nhỏ dưới da, 10% số huyệt tìm
thấy tiểu tĩnh mạch và tiểu động mạch dưới da. Nghiên cứu hình thái của
huyệt dưới kính hiển vi điện tử, tác giả đã phát hiện ra đặc điểm của các sợi
thần kinh tại huyệt có đường kính từ 20- 200 µm, gồm cả các sợi có và không
có myelin, hầu hết các sợi thần kinh ở huyệt có đường kính lớn và rất giàu
mucosacarid và cho phản ứng dương tính với serotonin. Gần sợi thần kinh còn
có các ống bạch huyết, có các tế bào mast cũng như các lưới mạch máu. Tế bào
6
mast được coi như là nhân tố quan trọng trong điều hòa sự cân bằng nội môi
bởi nó có chứa các hạt có hoạt tính sinh học cao tham gia điều hòa các chức
năng của cơ thể như heparin, histamin, serotonin, acid hyaluronic, các chất có
khả năng gây ảnh hưởng đến điện thế màng tế bào và tính thấm thành mạch
làm cho tế bào mast có thể đáp ứng với nhiều loại kích thích khác nhau như cơ
học, nhiệt, hóa học, tia, các enzym....Số lượng lớn tế bào mast chịu sự điều hòa
của hệ nội tiết và hệ thần kinh trung ương. Ngược lại các chất có hoạt tính sinh
học trong tế bào mast như heparin, histamin, serotonin không những gây ra tác
dụng tại chỗ mà còn có thể tham gia điều hòa hoạt động của hệ thần kinh và nội
tiết. Bên cạnh đó, các chất trung gian còn có khả năng gây ảnh hưởng đến điện
thế màng tế bào, đến tuần hoàn mao mạch, tính thấm thành mạch và màng tế
bào, nghĩa là ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất. Do đó có thể xem tế bào
- Đặc điểm sinh học của huyệt.
+ Về đặc điểm nhiệt độ da tại huyệt: Khi nghiên cứu nhiệt độ bằng máy
đo nhiệt độ da tại các huyệt châm cứu, Darras J.C. đã thấy một số huyệt cao
hơn và ngược lại một số huyệt thấp hơn so với vùng xung quanh huyệt và khi
một bộ phận trong cơ thể bị viêm nhiễm sẽ có cảm ứng ra các huyệt của đường
kinh tương ứng làm nhiệt độ da tại huyệt tăng cao hơn từ 10C đến 20C [15].
Nghiên cứu của Xu Y.X. ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng cơ thể con người
có hiện tượng bức xạ hồng ngoại với cường độ khác nhau giữa các vùng da
trong huyệt và ngoài huyệt. Nhiệt độ da trong huyệt cao hơn so với ngoài
huyệt. Chuyển hóa năng lượng tại các huyệt trên cùng đường kinh cao hơn so
với vùng ngoài huyệt và cao hơn so với các huyệt không cùng đường kinh [16].
Nghiên cứu của Vũ Văn Lạp về đặc điểm huyệt Túc tam lý cho thấy
nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý là 31,180C, cao hơn vùng xung quanh huyệt.
Sau 30 phút điện châm, nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý tăng cao hơn so với
trước điện châm trong khi đó nhiệt độ da ngoài huyệt không có sự khác biệt ở
hai thời điểm trước và sau điện châm [10].
Nguyễn Thị Vân Anh và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm
nhiệt độ tại 12 cặp huyệt Nguyên ở người trưởng thành thuộc các lứa tuổi 2025, 50-67 cho thấy tại 12 cặp huyệt Nguyên có nhiệt độ da cao hơn hẳn so với
8
vùng xung quanh, không có sự khác biệt về nhiệt độ của 12 cặp huyệt Nguyên
giữa bên phải và bên trái cơ thể, nhưng có sư khác nhau giữa nhiệt độ của 12
cặp huyệt Nguyên ở các nhóm lứa tuổi, ở nhóm lứa tuổi 20-25 có nhiệt độ cao
hơn so với ở nhóm lứa tuổi 50-67 [17].
Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy
có sự khác nhau về nhiệt độ giữa huyệt và vùng ngoài huyệt, giữa các huyệt
trên cơ thể người khỏe mạnh bình thường. Đối với cơ thể đang bị bệnh thì có
sự thay đổi nhiệt độ tại các huyệt hoặc các huyệt Nguyên liên quan đến tạng
phủ bị bệnh [17], [18]. Thông qua đo nhiệt độ của kinh lạc, huyệt vị có thể
trên động vật thực nghiệm cũng cho thấy cường độ qua da vùng huyệt lớn hơn
và điện trở da vùng huyệt nhỏ hơn vùng ngoài huyệt [21].
1.1.2.3. Sự tương đồng về huyệt theo Y học cổ truyền với Y học hiện đại.
Theo lý luận YHCT, huyệt là nơi thần khí ra vào lưu hành (ở phần biểu
của cơ thể), có thể hiểu đó là nơi liên thông giữa cơ thể với ngoại môi, nơi cơ thể
đáp ứng (xuất), tiếp nhận (nhập), lưu hành (làm việc không ngừng) [3], [4], [6].
Y học hiện đại cũng có một cơ quan như vậy, đó là hệ thống cơ quan cảm thụ.
Hệ thống cơ quan cảm thụ gồm đầu mút thần kinh tự do, các tiểu thể,
các tận cùng có và không có myelin ở chân lông có chức năng tiếp nhận cảm
giác xúc giác (cảm giác sờ mó), cảm giác nóng lạnh, cảm giác đau, đáp ứng
với cảm giác bản thể (cảm giác sâu), đáp ứng với các thay đổi của tạng phủ.
Từ các phân tích trên nhận thấy hệ thống cơ quan cảm thụ có chức năng
như hệ thống huyệt. Các cơ quan cảm thụ xúc giác, nóng, lạnh, đau tương tự
kinh huyệt (của mạch khí); các cơ quan cảm thụ đáp ứng cảm giác bản thể
tương tự như huyệt hội ở cân, cốt, các tổ chức; các cơ quan cảm thụ đáp ứng
thay đổi của tạng phủ tương tự hệ thống huyệt du, mộ tại tạng phủ, ngũ du, và
nguyên huyệt, huyệt bát hội (tạng, phủ, mạch) nằm trên các đường kinh,
thống huyệt ở cân cơ. Hệ thống cơ quan cảm thụ có cấu trúc của nó, không
phải là da, cân, xương nhưng nằm ở da, cơ, gân, xương (màng). Chỉ có dùng
kính hiển vi mới thấy được các cấu trúc này. Vì vậy, Y học cổ truyền chỉ có
thể nói chúng không phải là da, gân, xương.
10
Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài
nước, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt về hình thái cũng như đặc điểm
chức năng giữa huyệt và cấu trúc da xung quanh huyệt và đưa đến nhận định
rằng huyệt là một vùng nhỏ trên cơ thể có sự tập trung các sợi thần kinh.
Huyệt có nhiệt độ cao hơn vùng da xung quanh và có cường độ dòng điện qua
da lớn hơn vùng lân cận, và điện trở nhỏ hơn vùng ngoài huyệt.
Điện châm là phương pháp dùng dòng điện tác động lên các huyệt qua
các kim châm. Điện châm là một phát triển mới của châm cứu và là phương
pháp kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, phát huy được cả tác dụng
của dòng điện điều trị lẫn tác dụng của huyệt châm cứu [3], [22], [23], [24].
Ưu điểm của điện châm là rung kim đều kết hợp với tác dụng của dòng
điện như không gây đau, tạo cảm giác dễ chịu, do vậy điện châm ra đời đã
đáp ứng được mục đích điều khí của châm cứu nhanh mạnh lại không gây đau
đớn và đã trở thành phương pháp chủ yếu trong châm cứu hiện nay.
Dùng dòng điện kích thích lên huyệt châm cứu đã phối hợp tác dụng
của hai phương pháp khác nhau để đạt được hiệu quả tốt hơn, cơ thể được tiếp
thu hai loại kích thích, mỗi loại kích thích đem lại một số tác dụng nhất định.
Dùng dòng điện trong điều trị vật lý kích thích lên huyệt, ngoài tác dụng do
huyệt được kích thích còn có cả tác dụng sinh bệnh lý do dòng điện gây nên.
Điện châm cũng sử dụng thủ pháp bổ- tả. Khi vận dụng tả pháp hoặc bổ
pháp trên thực tế lâm sàng, phải chú ý tới các thông số về tần số, cường độ
của kích thích để lựa chọn cách thức bổ tả thích hợp.
+ Tần số kích thích (tính bằng Hertz- Hz) là số xung động được tạo ra
trong đơn vị thời gian tính bằng giây. Thủ pháp tả sử dụng tần số kích
thích cao (trên 5Hz), thủ pháp bổ sử dụng tần số kích thích thấp (1- 3 Hz)
+ Cường độ kích thích là biên độ xung (tính bằng microampe- μA).
Biên độ xung nhỏ là kích thích yếu, biên độ xung lớn là kích thích mạnh.
Như vậy, xét về mục đích, bổ tả là sự điều chỉnh lượng kích thích ở
huyệt sau khi châm đạt đắc khí. Dù có nhiều cách thức bổ tả khác nhau nhưng
mục đích chỉ có một, đó là điều khí hòa huyết, phù chính khu tà, lập lại thăng
bằng âm dương, tiêu trừ bệnh tật.
12
1.1.2.3. Cơ chế tác dụng giảm đau của châm theo Y học cổ truyền.
Về nguyên nhân gây đau và làm cho hết đau, trong các y văn cổ đã ghi:
lên những thụ cảm thể xúc giác và áp lực, đó là tận cùng của những sợi thần
kinh Aβ có tốc độ cao. Các xung thần kinh theo sợi Aβ vào tủy sống tạo ra một
điện trường âm ở sừng sau làm ức chế dẫn truyền cảm giác đau (cửa đóng),
không cho cảm giác đau đi tiếp nên cảm giác đau được giảm đi hoặc mất hẳn.
Cửa mở nếu các thụ cảm thể đau bị kích thích mạnh và các xung đau được
dẫn truyền vào sừng sau bởi những sợi nhỏ Aδ, sợi C tạo ra điện trường dương
giúp cho các xung đau đi vào dễ dàng và làm cho cảm giác đau tăng lên [28].
Sau này Hsiang Tung C. [29] đã đưa ra thuyết "hai cửa" chứng minh quá trình
ngăn chặn cảm giác đau không chỉ xảy ra ở tủy sống mà còn xảy ra trong đồi
thị và thể lưới thân não. Các thí nghiệm kích thích thể lưới thân não đã chỉ ra
rằng khi kích thích vào thể lưới thân não có thể loại trừ được các cảm giác
đau được truyền về từ các thụ cảm thể ở nhiều vị trí khác nhau của cơ thể.
Thể lưới thân não nhận các xung động hướng tâm truyền vào theo các dây
thần kinh sọ não, nhất là dây số V và dây X. Những xung đau truyền theo các
dây thần kinh sọ não có tác dụng hoạt hoá thể lưới thân não, kéo theo nó là sự
hoạt hóa các hệ thống chống đau trong não bộ .
Nghiên cứu của Man P.L. và Chen C.H. [30] đã chứng minh rằng nơi
chủ yếu ức chế các xung truyền cảm giác đau là đồi thị, khi kích thích dòng
điện vào nhân bụng sau của đồi thị có tác dụng làm mất cảm giác đau khi có
các tác nhân gây hại. Các tác giả trên cho rằng khi điện châm các huyệt tạo ra
những thay đổi tại huyệt và các xung thần kinh theo các sợi thần kinh có kích
thước lớn Aα, Aδ vào đến các cấu trúc trong hệ thần kinh trung ương (tủy
sống, thể lưới thân não, đồi thị), ở đây sẽ hình thành các cổng ngăn chặn các
xung đau từ ngoại vi truyền vào không cho chúng đến vỏ não.
- Thuyết phản xạ thần kinh thực vật: Thuyết này chú ý đến vai trò của các
phản xạ thần kinh thực vật và đánh giá cao ý nghĩa của các phản xạ do các
yếu tố lý hóa tác động lên bề mặt da. Sherback A.E. xem da như tấm màn hai
mặt trong và ngoài, cả hai mặt đều có các thụ cảm thể và các đám rối thần
kinh, mạch máu, đặc biệt có rất nhiều tận cùng của hệ thần kinh thực vật. Do
catecholamin thuộc hệ adrenergic. Cơ chế chống đau của các chất này đã
16
được xác nhận. Các tác giả Việt Nam nghiên cứu về tác dụng của điện châm
trên động vật thực nghiệm cũng như trên bệnh nhân mổ bướu cổ, phẫu thuật
xoang sàng hàm cũng cho thấy có sự tăng rõ hai chất này [31], [33].
1.1.3. Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của châm các huyệt lên chức năng
các cơ quan trong cơ thể.
Phương pháp điều trị bằng châm cứu cho đến nay đã được Tổ chức Y tế
thế giới công nhận và khuyến cáo sử dụng ở nhiều nước trên thế giới để điều
trị trên 100 chứng bệnh khác nhau [34]. Có được sự ghi nhận đó là do châm
cứu đã thực sự có tác dụng trên lâm sàng. Những tác dụng của châm cứu đã
được đề cập trong y văn cổ ngày nay đang tiếp tục được nghiên cứu chứng
minh dưới ánh sáng của Y học hiện đại. Một trong những con đường đưa đến
sự hiểu biết về cơ chế tác dụng của châm cứu là tìm hiểu những biến đổi về
chức năng của các cơ quan trong cơ thể dưới ảnh hưởng kích thích các huyệt.
1.1.3.1. Ảnh hưởng của châm lên hệ tuần hoàn
- Tác động lên tim mạch: Nghiên cứu của Lujian H.L. và cộng sự (2007) cho
thấy điện châm các huyệt Nội Quan và Giản sử có tác dụng làm ổn định nhịp
nhanh thất trên chuột được tái tưới máu sau một thời gian ngắn thiếu máu cơ
tim cục bộ [35]. TheoTakayama S. và cộng sự (2010) châm huyệt Thái xung
không làm thay đổi nhịp tim nhưng làm giảm lưu lượng máu ngoại vi trong
khi châm và làm tăng trở lại mức chỉ số ban đầu sau khi kết thúc châm 180
giây [36]. Nghiên cứu của Hoàng Khánh Hằng (2001) cho thấy điện châm
huyệt Hợp cốc có tác dụng kéo dài khoảng QT và TP trên điện tim nhưng
không làm thay đổi thời gian và biên độ các sóng P, khoảng PR, phức bộ
QRS, sóng T [8].
- Tác động lên huyết áp: Theo Jones A.Y. (2011) kích thích huyệt Nội quan có
tác dụng ổn định huyết áp khi thay đổi tư thế [37]. Nghiên cứu của Sahmeddini
viêm túi mật và điều chỉnh khối lượng túi mật ở bệnh nhân viêm túi mật mạn
tính [48]. Nghiên cứu của Đỗ Công Huỳnh, Vũ Văn Lạp khi điện châm các
huyệt Túc tam lý, Hợp cốc và Nội quan thấy có tác dụng làm tăng nhu động
ruột, tăng khả năng hấp thụ glucose ở ruột các động vật thực nghiệm [9], [10].
18
1.1.3.4. Ảnh hưởng của châm lên hệ thần kinh và thần kinh thể dịch.
Trong các công trình nghiên cứu về tác động của châm lên hệ thần kinh
trung ương nhiều tác giả đều có nhận định: Châm tác động lên chức năng của
hệ thần kinh trung ương qua nhiều con đường trực tiếp và gián tiếp, đó chính
là một trong những cơ chế chính tạo ra tác dụng của châm đối với cơ thể. Kim
M.S. và cộng sự (2008) cho thấy châm huyệt Nội quan làm tăng tần số và
biên độ các sóng trên điện não đồ, làm tăng nhịp tim trên điện tâm đồ [49].
Theo Streitberger K. và cộng sự (2008) điện châm huyệt Hợp cốc làm tăng
tần số sóng alpha trên điện não đồ của vùng chẩm. Mối quan hệ tuyến tính
giữa các thông số nhịp tim và tần số, biên độ của sóng alpha trên điện não đồ
chứng tỏ tác dụng của điện châm trong điều hòa chức năng của não thông qua
tác động hoạt hóa hệ thần kinh thực vật [50]. Nghiên cứu của Bùi Mỹ Hạnh
(2003) cho thấy chỉ số và biên độ sóng alpha ở vùng chẩm tăng rõ rệt sau 3
phút và sau 8 ngày điện châm huyệt Nội quan ở người bình thường khoẻ
mạnh [7]. Isoyama D. và cs (2012) châm huyệt Nội quan, Thần môn, Đản
trung, Bách hội điều trị giảm lo âu ở bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm cho
thấy châm có thể làm giảm triệu chứng lo âu, căng thẳng, từ đó làm tăng khả
năng thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm [51]. Đa số các
tác giả nhận định rằng kích thích các huyệt có thể làm tăng ngưỡng đau. Tác
dụng này liên quan tới hệ thần kinh và hệ thống giảm đau nội sinh.
Han J.Y. và cs (2011) thấy châm các huyệt Túc tam lý, Trung quản và
Nội quan có tác dụng tốt trong việc ngăn ngừa và làm lành các tổn thương
niêm mạc dạ dày, cải thiện chức năng tiêu hóa thông qua cơ chế tăng hàm
corticosterone và adrenocorticotropin hormone (ACTH) [61], [62], [63].
Nghiên cứu cơ sở khoa học của điện châm trong điều trị một số chứng
đau của Nghiêm Hữu Thành cho thấy điện châm làm tăng hàm lượng cortisol,
adrenalin và noradrenalin trong máu của bệnh nhân đau do viêm loét dạ dày tá
tràng, đau do ung thư vòm họng... Đây là các hormon có tác dụng ổn định
huyết áp và giảm đau. Kết quả này một lần nữa cho thấy mối liên hệ giữa cơ
chế tác dụng của châm đối với hệ thần kinh- nội tiết trong cơ thể [64].
20
1.1.3.7. Ảnh hưởng của châm lên hệ miễn dịch.
Yamaguchi N. (2007) châm các huyệt Can du, Tỳ du, Thận du, Túc tam lý
ở người khỏe mạnh cho thấy châm gây ảnh hưởng đến sự trưởng thành chức năng
các tế bào miễn dịch trong máu thể hiện bằng sự xuất hiện của các chất liên quan
tới hoạt động của đại thực bào, miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào như
cytokine IL-1β, IL-4 và IFN-γ [65]. Liu J.M. và cs (2009) nghiên cứu ảnh hưởng
của điện châm huyệt Quan nguyên và Túc tam lý lên chức năng miễn dịch tế bào
lympho T ở chuột được gây mô hình lão hóa cho thấy điện châm có tác dụng tăng
sinh tế bào có khả năng chống lão hóa như lympho T, IL-2/IL-2R, CD8 + CD 28,
[66]. Theo Li H. và cs (2009) điện châm huyệt Mệnh môn, Đại chùy làm tăng các
chất có tác dụng chống viêm như lympho B, lympho T, IL-2 và TNF-alpha [67].
Có thể nói vai trò của châm cứu trong điều hòa đáp ứng miễn dịch là
kết quả của chuỗi phản ứng hóa học của hệ thần kinh- nội tiết- miễn dịch.
1.2. HUYỆT THẬN DU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG HUYỆT THẬN
DU TRONG ĐIỀU TRỊ.
1.2.1. Vị trí, liên quan giải phẫu và tác dụng của huyệt Thận du.
Thận du là huyệt thứ 23 của kinh Túc Thái dương bàng quang có ký
hiệu quốc tế là UB23, là du huyệt ở lưng của tạng thận (bối du). Huyệt tương
ứng với tạng thận ở bên trong, là nơi dương khí tỏa ra, là du huyệt quan trọng
+ Phối hợp với các huyệt Thiên lịch, Thính hội trị Thận hư, giảm thính lực.
+ Phối hợp với các huyệt Ế phong, Thái khê, Thính hội trị tai ù do hư.
+ Phối hợp với các huyệt Hòa liêu, Khế mạch, Thừa quang, Toản trúc,
Ty trúc không trị đau đầu.
+ Phối hợp với các huyệt Tam âm giao, Chương môn, Thái xung, Thái
khê, Bách hội, Thượng tinh, Nội quan, Thần môn, An miên trị mất ngủ.
Như vậy, trên lâm sàng các nhà châm cứu thường phối hợp Thận du với
các huyệt khác trong điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau, đặc biệt là các
chứng bệnh liên quan đến chức năng của tạng thận, trong đó có chứng yêu
thống. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc
22
điểm sinh học của huyệt Thận du và chứng minh hiệu quả của điện châm
trong điều trị đau thắt lưng theo thể bệnh thận hư của Y học cổ truyền dựa
trên các bằng chứng khoa học khách quan, sử dụng các xét nghiệm của Y học
hiện đại. Vì vậy nghiên cứu đặc điểm sinh học của huyệt Thận du và hiệu quả
của điện châm trong điều trị đau thắt lưng theo thể bệnh thận hư là việc làm
cần thiết để làm rõ hiệu quả của điện châm trong điều trị các thể lâm sàng của
đau thắt lưng, một chứng bệnh phổ biến trong xã hội hiện đại.
1.2.3. Các nghiên cứu sử dụng huyệt Thận du trong điều trị đau thắt lưng.
Thận du là bối du huyệt của tạng thận, là nơi dương khí của tạng thận
toả ra ở vùng lưng. Theo lý luận YHCT, thận thuộc thủy, tàng tinh tiên thiên
và hậu thiên, là chủ của mệnh môn hoả nên Thận là tạng của thủy hoả. Thận
tàng tinh chủ việc sinh dục, là gốc của tiên thiên, là rễ của sự sinh trưởng phát
dục. Thận tinh sinh thận khí, thận khí thịnh thì khoẻ, thận khí suy thì bệnh. Vì
thận tàng tinh, chủ hỏa nên bệnh của thận là bệnh hư. Thận tàng tinh mà tinh
lại sinh tuỷ, tuỷ ở trong xương để nuôi dưỡng xương cốt, tủy tạo huyết cho
nên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ. Chức năng của thận tốt được biểu hiện ở
xương cốt vững chắc, vận động tốt. Lưng là phủ của thận, trong hệ kinh lạc,
thoái hóa cột sống bằng phương pháp điện mãng châm các huyệt Thận du,
Giáp tích cho thấy điện mãng châm có hiệu quả cao trong điều trị đau lưng
với kết quả tốt chiếm 60%, khá là 40% [71].
Ở Mỹ năm 2003, Meng C.F. và cộng sự tại khoa khớp, Bệnh viện phẫu
thuật khớp New York đã sử dụng phác đồ điện châm gồm các huyệt Thận du,
Khí hải du, Đại trường du, Bàng quang du, Yêu dương quan và Mệnh môn
với tần số kích thích từ 4-6 Hz với thời gian kích thích trong 20 phút, hai lần
một tuần trong 5 tuần để nghiên cứu xác định hiệu quả và tính an toàn của
châm cứu trong điều trị chứng đau lưng mạn tính ở bệnh nhân cao tuổi, so
sánh với nhóm kiểm soát được điều trị bằng thuốc giảm đau NSAID, giãn cơ,
paracetamol kết hợp tập thể dục trị liệu hoặc vật lý trị liệu. Kết quả nghiên
cứu cho thấy chỉ số khuyết tật (RDQ) ở nhóm điện châm giảm nhiều hơn và
kéo dài ít nhất 4 tuần sau khi ngừng điều trị châm cứu so với nhóm dùng
thuốc, sự cải thiện về lâm sàng này có ý nghĩa thống kê với p