Tiểu luận Vận dụng lý luận tích lũy tư bản của chủ nghĩa Mác Lenin vào xây dựng nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay - Pdf 50

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài
Đất nước ta trong quá trình hội nhập, phát triển năng động nhất từ trước đến nay
và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cả về kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao vị
thế đất nước trên trường quốc tế. Đó là những thành quả rất đáng tự hào mà chúng ta
có được nhờ sự lựa chọn đúng đắn đường lối phát triển kinh tế thị thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và sự vận dụng sáng tạo các phương pháp, nguyên lí cơ bản
của phát triển kinh tế vào điều kiện Việt Nam. Mà theo Mác việc tích lũy tư bản là
những động lực này cuối cùng sẽ dẫn tới thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa Cộng Sản.
Chính từ nhận định đó ta thấy được nguồn vốn có vai trò rất lớn đến phát triển đất
nước của nước ta hiện nay. Mặc dù chúng ta có đường lối kế hoạch đúng đắn để xây
dựng và phát triển kinh tế, mà còn cần đến nguồn vốn rất lớn trong việc tăng trưởng
kinh tế. Vốn là cơ sở để tạo ra việc làm, tạo ra công nghệ tiên tiến tăng năng lực sản
xuất của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất
theo chiều sâu. Từ những lí do trên tôi chọn đề tài “ Vận dụng lý luận tích lũy tư bản
của chủ nghĩa Mác Lenin vào xây dựng nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
tiểu luận.
2. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
2.1. Mục đích
- Tìm hiểu sâu hơn về tích lũy tư bản và những thay đổi trong bối cảnh hiện
nay.
- Góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện nay hóa theo đường lối chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước ta.
2.2. Nhiệm vụ
- Đưa ra những lập luận đúng đắn để chỉ rõ vai trò của tích lũy tư bản
- Vận dụng những lý luận vào nền kinh tế Việt Nam.
2.3 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trong phạm vi nền kinh tế ở Việt Nam
3. Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp biện chứng duy vật
-Phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử

Muốn vậy, phải biến một bộ phận giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm.
Việc sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản hay sự chuyển hoá giá trị thặng dư trở
lại thành tư bản. Như vây, thực chất của tích lũy tư bản là quá trình tư bản hoá giá trị
thặng dư. Nói một cách cụ thể tích lũy tư bản là tái sản xuất ra tư bản với quy mô ngày
càng mở rộng. Sở dĩ giá trị thặng dư có thể chuyển hoá thành tư bản là vì giá trị thặng
dư đã mang sẵn những yếu tố vật chất của tư bản mới
Có thể minh hoạ tích lũy tư bản và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa bằng ví dụ:
s tư bản bỏ ra K= 1000; c/v= 4/1; m'= 100%
Năm thứ nhất: Quy mô sản xuất 800c+200v+200m=1200
200 m chia thành: + 100m1 tiêu dùng cá nhân
+ 100m2 tích lũy( 80c mua máy móc, 20v tuyển công nhân)
Năm thứ hai: Quy mô sản xuất 880c + 220v +220m.
Vậy tư bản bất biết ( c ) và tư bản khả biến ( v )tăng lên , m cũng tăng theo
Nghiên cứu tích lũy và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa cho phép rút ra những kết
luận vạch rõ bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa:
Một là nguồn gốc duy nhất của tích lũy tư bản là giá trị thặng dư và tư bản tích
lũy chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong toàn bộ tư bản C. Mác nói rằng“ tư bản ứng trước
như là giọt nước nhưng tích lũy là dòng sông của tích lũy mà thôi. Trong quá trình tái
sản xuất, lãi (m) cứ đập vào vốn , vốn càng lớn thì lãi càng lớn , do đó lao động của
công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện để bóc lột chính người công nhân .
Thứ hai, quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền kinh tế hàng hoá
biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Trong sản xuất hàng hoá giản đơn, sự
3


trao đổi giữa những người sản xuất hàng hoá theo nguyên tắc ngang giá về cơ bản
không dẫn tới người này chiếm đoạt lao động không công của người kia . Trái lại , nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến kết quả là nhà tư bản chẳng những chiếm đoạt một
phần lao động của công nhân , mà còn là người sở hữu hợp pháp lao động không công
đó. Nhưng điều đó không vi phạm quy luật giá trị.

Các nhà tư bản còn nâng cao trình độ bóc lột sức lao động bằng cách tăng
cường độ lao động và kéo dài ngày lao động để tăng khối lượng giá trị thặng dư, nhờ
đó tăng tích luỹ tư bản. Cái lợi ở đây còn thể hiện ở chỗ nhà tư bản không cần ứng
thêm tư bản để mua thêm máy móc, thiết bị mà chỉ cần ứng tư bản để mua thêm
nguyên liệu là có thể tăng được khối lượng sản xuất, tận dụng được công suất của máy
móc, thiết bị, nên giảm được hao mòn vô hình và chi phí bảo quản của máy móc, thiết
bị.
1.1.1.5. Trình độ năng suất lao động xã hội
Nếu năng suất lao động xã hội tăng lên, thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu
dùng giảm xuống. Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ tư bản:
Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể
tăng lên, nhưng tiêu dùng của các nhà tư bản không giảm, thậm chí có thể cao hơn
trước;
Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ có thể chuyển hoá
thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm lớn hơn trước.
Do đó, quy mô của tích luỹ không chỉ phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư
được tích luỹ, mà còn phụ thuộc vào khối lượng hiện vật do khối lượng giá trị thặng
dư đó có thể chuyển hoá thành. Như vậy năng suất lao động xã hội tăng lên sẽ có thêm
những yếu tố vật chất để biến giá trị thặng dư thành tư bản mới, nên làm tăng quy mô
của tích luỹ. Nếu năng suất lao động cao, thì lao động sống sử dụng được nhiều lao
động quá khứ hơn, lao động quá khứ đó lại tái hiện dưới hình thái có ích mới, được sử
dụng làm chức năng của tư bản ngày càng nhiều, do đó cũng làm tăng quy mô của tích
luỹ tư bản.
1.1.6. Sự chênh lệch ngày càng tăng giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng
Trong quá trình sản xuất, tư liệu lao động (máy móc, thiết bị) tham gia toàn bộ
vào quá trình sản xuất, nhưng chúng chỉ hao mòn dần, do đó giá trị của chúng được
chuyển dần từng phần vào sản phẩm. Vì vậy có sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và
tư bản tiêu dùng. Mặc dù đã mất dần giá trị như vậy, nhưng trong suốt thời gian hoạt
động, máy móc vẫn có tác dụng như khi còn đủ giá trị. Do đó, nếu không kể đến phần
giá trị của máy móc chuyển vào sản phẩm trong từng thời gian, thì máy móc phục vụ

bản, do cấu tạo kỹ thuậtquyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư
bản.Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thườngxuyên của tiến bộ
khoa học, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừngbiến đổitheo hướng ngày càng
tăng lên. Sự tăng lên đó biển hiện ở chỗ: bộphận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ
phận tư bản khả biến, tư bản bấtbiến tăng tương đối và tăng tuyệt đối, còn tư bản khả
biến có thể tăng tuyệtđối nhưng lại giảm xuống tương đối.Sự tăng lên của cấu tạo hữu
cơ của tư bản làm cho khối lượng tưliệu sản xuất tăng lên, trong đó sự tăng lên của
6


máy móc thiết bị là điềukiện để tăng năng suất lao động, còn nguyên liệu tăng theo
năng suất laođộng. Nó đòi hỏi việc sử dụng lao động mới được đào tạo với giá trị
sứclao động cao nhưng năng suất lao động tăng cao lại làm cho hàng hóa kỹthuật hiện
đại giảm xuống. Xu hướng chung là tỷ trọng người lao động cótrình độ cao, lao động
trí tuệ ngày càng tăng lên, gây nên những hậu quả xãhội tiêu cực đối với toàn bộ đội
ngũ người lao động làm thuê
1.1.2. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư bản
Tích tụ và tập trung tư bản là quy luật phát triển của nền sảnxuất lớn tư bản chủ
nghĩa.Tích tụ tư bản và việc tăng quy mô của tư bản cá biệt bằng cáchtích lũy của từng
nhà tư bản riêng rẽ, nó là kết quả tất nhiên của tích lũy
Tích tụ tư bản một mặt là yêu cầu của việc mở rộng sản xuất, ứng dụng tiếnbộ
kỹ thuật, mặt khác sự tăng lên của khối lượng giá trị thặng dư trong quátrình phát triển
của sản xuất tư bản chủ nghĩa lại tạo khả năng cho tích tụ tư bản. Tập trung tư bản là
sự hợp nhất một số tư bản nhỏ thành một tư bảnlớn cá biệt.Đây là sự tích tụ những tư
bản đã hình thành, là sự thủ tiêu tínhđộc lập riêng biệt của chúng, là việc nhà tư bản
này tước đoạt nhà tư bảnkhác, là việc biến tư bản nhỏ thành số ít tư bản lớn.Tích tụ và
tập trung tư bản giống nhau ở chỗ đều làm tăng quymô của tư bản cá biệt, nhưng khác
nhau ở chỗ nguồn tích tụ tư bản là giá trịthặng dư tư bản hóa, còn nguồn tập trung tư
bản là hình thành trong xã hội.Do tích tụ tư bản mà tư bản cá biệt tăng lên, làm cho tư
bản xã hội cũngtăng theo. Còn tập trung tư bản chỉ là sự bố trí lại các tư bản đã có quy



Chương 2
VẬN DỤNG TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Khái quát tình hình tích lũy vốn ở Việt Nam
Đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế,
nhất là hơn 20 năm đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng khá cao, sản xuất phát triển,
có tích luỹ từ nội bộ, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Để giữ được tốc độ tăng
trưởng cao trong những năm tới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc tích lũy, huy động vốn
cho nền kinh tế.
Trước đây trong nền kinh tế bao cấp, tiêu dùng còn thiếu thốn thì quá trình tích
lũy vốn còn gặp rất nhiều trở ngại. Nhà nước lại can thiệp quá sâu vào nền kinh tế dẫn
đến việc tổ chức doanh nghiệp không thể phát huy hết khả năng của mình, nhiệm vụ
tích tụ và tập trung vốn không đạt được hiệu quả. Từ khi chuyển đổi nền kinh tế, đời
sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thu nhập quốc dân tăng lên…tuy nhiên nó vẫn
còn quá nhỏ bé so với nền kinh tế thế giới. Một trong những nguyên nhân chính là
thực trạng tích lũy vốn của ta chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, quy mô vốn của các
doanh nghiệp thấp.
Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta bắt đầu từ kế hoạch 5 năm
lần thứ nhất 1960 đến 1964 do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đề ra. Quá trình này
có thể được chia thành 2 thời kỳ:
Thời kỳ 1960- 1985:CNH được tiến hành trong điều kiện cơ chế kinh tế tập
trung quan liêu, bao cấp
Thời kỳ 1986 đến nay: CNH gắn liền với quản lý của nhà nước theo định hướng
XHCN. Từ năm 1986 đến nay, cùng với công cuộc đổi mới, mở cửa, các kênh huy
động vốn cho CNH, HĐH cũng bắt đầu phong phú, linh hoạt hơn. Đối với nguồn vốn
nước ngoài, ngoài hình thức cũ là vay nợ và viện trợ, đã có thêm hình thức đầu tư trực
tiếp. Nguồn vốn trong nước cũng được bổ xung một số kênh mới, đặc biệt là từ khi có
pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, tín dụng và công

yêu cầu cấp bách về xã hội. Đầu tư của nhà nước bị phân tán do phải đáp ứng quá
nhiều nhiệm vụ. Các nguồn thu từ đất đai, nhà ở, các loại dịch vụ công ích như: viện
phí, phí cung cấp điện, nước,... còn để thất thoát và lãng phí lớn. Đóng góp của nhân
dân để xây dựng mới và cải tạo trường học, trạm xá, giao thông địa phương,...vào sự
nghiệp Văn hoá - Giáo dục - Y tế,... chưa được thể chế hoá, sử dụng và quản lý kém
hiệu quả, bất hợp lý, bị lạm dụng và thất thoát. Số vốn huy động được thông qua hệ
thống tín dụng chủ yếu là ngắn hạn, không đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển và
chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Vốn đầu tư trực tiếp của khu vực kinh tế tư nhân trong
nước vẫn ở quy mô nhỏ, tập trung chủ yếu (80%) vào các lĩnh vực: thương mại, dịch
vụ phục vụ tiêu dùng. Một bộ phận không nhỏ vốn trong nước đã huy động vào hệ
10


thống Ngân Hàng Thương Mại đang bị ứ đọng, không chuyển thành đầu tư được. Theo
ý kiến dự báo khác nhau, khoảng 50 - 70 nghìn tỷ đồng tiền tiết kiệm của nhân dân
đang được cất trữ dưới dạng vàng, bạc, tiền mặt, ngoại tệ, tài sản có giá trị cao... chưa
chuyển thành vốn đầu tư và kinh doanh.
2.2. Vận dụng tích lũy tư bản vào xây dựng nền kinh tế Việt nam hiện nay
2.2.1. Quá trình mở rộng sản xuất ở Việt Nam hiện nay
Trước đổi mới, mô hình kinh tế hiện vật, phủ nhận sản xuất hàng hóa và kinh tế
thị trường với cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp đã làm triệt
tiêu động lực của người lao động, kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển, dẫn đến sự
trì trệ về kinh tế và khủng hoảng về mọi mặt đời sống xã hội. Bởi vậy, đổi mới mô
hình là điểm mấu chốt trong đổi mới quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất ở Việt Nam.
Trong thời gian qua, với xu thế toàn cầu hóa, sự chuyển giao và hội nhập quốc
tế về khoa học, công nghệ đã khiến nền kinh tế nước ta phát triển mạnh mẽ. Những
công cụ lao động giản đơn mang tính chất tiểu thủ công nghiệp đã được thay thế bằng
những dây chuyền máy móc thiết bị tối tân, hiện đại. Sức lao động của con người được
giải phóng, lao động chân tay dần được thay thế bởi lao động trí óc, lao động giản đơn
dần được thay thế bằng sự chuyên môn hóa ngày càng cao. Những sự thay đổi lớn lao

túng trong giải quyết các vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Tuy nhiên trong quá trình
thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước đã xuất hiện sự lúng túng trong giải quyết các
vấn đề cụ thể khi xây dựng đề án. Các vấn đề nảy sinh đó là mối quan hệ và liên kết
giữa các đơn vị trong tập đoàn, cơ chế thực hiện liên kết, cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý (thành phần, quyền, trách nhiệm và mối quan hệ giữa các bộ phân quản lý trong bộ
máy của tập đoàn), thương hiệu của tập đoàn, quy mô, vốn điều lệ và các vấn đề khác
để xác lập tập đoàn. Ngay như địa vị pháp lý của tập đoàn vẫn còn những ý kiến khác
nhau như tập đoàn có hay không có tư cách pháp nhân, đăng ký hay không đăng ký, có
hay không có bộ máyquản lý riêng. Như vậy, trong những năm vừa qua vẫn còn rất
nhiều những quan điểm khác nhau về nguyên tắc hình thành tập đoàn kinh tế trên cơ
sở Tổng công ty nhà nước. Về vốn mà các tập đoàn sử dụng là Tám tập đoàn kinh tế
cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà nước sở hữu gần 400.000 tỷ đồng,
chiếm hầu hết vốn của Nhà nước có tại các doanh nghiệp nhà nước. Các tập đoàn và
tổng công ty đang nắm giữ 75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín
dụng ngân hàng trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40%
tổng sản phẩm trong nước tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các đơn vị này là
17%, 28,8% thu ngân sách. Tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn chủ sở hữu của các
tập đoàn và tổng công ty đã tăng 18%, tổng tài sản tăng 26%. Bên canh những tập
đoàn kinh tế lớn nhà nước còn có các tập đoàn kinh tế tư nhân như FPT, Đồng Tâm,
12


Kinh Đô, Hòa Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Vincom, Trung Nguyên,… Các tập đoàn này
đều có vốn góp, cổ phần chi phối lẫn nhau ở các công ty con, công ty liên kết, ngân
hàng, đối tác chiến lược trong và ngoài nước với hàng ngàn cổ đông. Các tập đoàn
kinh tế tư nhân cũng góp phần làm thúc đẫy nền kinh tế phát triển và làm tăng %GDP
quốc doanh của Việt Nam
2.2.3. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội
Phân hóa giàu nghèo ở nước ta ngày càng nghiêm trọng và ai cũng nhận ra qua
thực tế cuộc sống hàng ngày. Ở Việt Nam, sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngay từ thời

tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, có nhiều yếu tố bất lợi như điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt, kết cấu hạ tầng kém, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất manh
mún, sơ khai. Ngoài ra, còn xuất hiện một số đối tượng nghèo mới ở những vùng đang
trong quá trình đô thị hóa và nhóm lao động nhập cư vào đô thị, họ thường gặp khó
khăn nhiều hơn và phải chấp nhận mức thu nhập thấp hơn lao động sở tại. Đây là
những yếu tố làm gia tăng tình trạng tái nghèo và tạo ra sự không đồng đều trong tốc
độ giảm nghèo giữa các vùng trong cả nước.
Hiện nay, hệ số chênh lệch giàu nghèo của Việt Nam cao hơn nhiều nước đã trải
qua thời kỳ dài phát triển kinh tế thị trường. Nhìn chung, cơ chế thị trường của chúng
ta còn mới mẻ, thậm chí có người cho là nền kinh tế thị trường hoang dã, đã tạo ra
những kẽ hở để cho một bộ phận lách cơ chế hoặc lợi dụng cơ chế để trục lợi, tham
nhũng. Số người làm giàu dạng này thường không đóng góp bao nhiêu để chia sớt
gánh nặng của nhà nước mà còn làm cho tiềm lực kinh tế ngày càng suy giảm. Vì thế,
nếu không nhanh chóng hoàn thiện thể chế, nhất là thể chế dân chủ, nhà nước pháp
quyền, đồng thời xử lý vấn đề lợi ích nhóm, sở hữu chéo, lạm dụng độc quyền… thì
chênh lệch giàu – nghèo hiện đang quá lớn lại sẽ càng tăng nhanh.
2.3. Những giải pháp tăng cường tích lũy vốn
2.3.1. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy tiêu dùng.
Vì mục tiêu của xã hội là không ngừng tái sản xuất mở rộng, tăng thêm sản
phẩm xã hội, nâng cao mức sống của người dân mà chúng ta phải xác định cho được
quan hệ giữa quỹ tích lũy và tiêu dùng. Tương quan giữa tích lũy và tiêu dùng được
coi là tối ưu khi sử dụng được các tài sản hiện có, thực hiện được mức tích lũy có thể
đảm bảo phát triển sản xuất với tốc độ cao ổn định mà cuối cùng vẫn đảm bảo tăng
tiêu dùng.Việc phân chia này tùy thuộc vào nhu cầu nền kinh tế ở từng thời kỳ nhất
định.Đồng thời phải khuyến khích mọi người không ngừng tiết kiêm, tích lũy. Tương
quan giữa tích luỹ và tiêu dùng được coi là tối ưu khi sử dụng đươc các tài sản hiện có,
thực hiện được mức tích luỹ có thể đảm bảo phát triển sản xuất với tốc độ cao và ổn
định mà cuối cùng vẫn đảm bảo tăng tiêu dùng và tích luỹ không đến mức cao nhất.
Vởi tỷ lệ giữa tích luỹ và tiêu dùng sắp xếp như thế nào là thích đáng? Tỷ lệ này có
14

các nhu cầu chi của nhà nước về chi thường xuyên, chi cho đầu tư phát triển và cho
phát triển công nghiệp. Vì vậy nâng cao hiệu quả tích luỹ, tích tụ và tập trung vốn qua
ngân sách nhà nước là hết sức cấp bách và cóý nghĩa thực tiễn lớn lao.

15


Một biện pháp để tăng cường lượng vốn là thông qua các tổ chức tín dụng và
ngân hàng. Đây là hai hình thức tích luỹ vốn có hiệu quả tương đối cao do có thể thu
hút được vốn còn nhàn dỗi trong nhân dân. Để thực hiện được ngày càng tốt các
nghiệp vụ của mình, một mặt ngân hàng cần phải tựđổi mới phương thức phục vụ
khách hàng mở rộng các hình thức tiết kiệm qua bưu điện cải tiến các thủ tục đảm bảo
an toàn bí mật vàổn định cho tiền gửi của khách hàng, đồng thời chính phủ cũng cần
có biện pháp nâng cao lãi suất nhằm thu hút ngày càng nhiều vốn nhàn dỗi trong dân.
Đặc biệt là hệ thống ngân hàng cần phối hợp chặt chẽ với các quỹ tín dụng nhân dân
để tích tụ và tập trung vốn được thuận tiện.Mặt khác, việc tích tụvà tập trung các
nguồn vốn trong nước từ các nguồn tài nguyên quốc gia và từ những tài sản công còn
bỏ phí vừa là mục tiêu vừa là biện pháp cơ bản trước mắt và lâu dài để chúng ta tăng
thêm nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển. Cần nghiên cứu lại các quy định
vềđất và quyền sử dụng đất kết hợp hài hoà với các tổ chức thị trường liên quan.Trong
thời gian tới phải tìm cách để khai thác cao nhất hiệu quả nhất nguồn vốn từ tài sản
công. Đó là cơ sở vật chất trực tiếp sẵn có mà chúng ta có thể huy động bằng cả hiện
vật hoặc huy động bằng tiền trở thành nguồn thu trực tiếp của ngân sách Nhà nước là
cơ sở ban đầu cần thiết để gọi vốn đầu tư nước ngoài. Và một biện pháp mới được áp
dụng ở nước ta hiện nay là thu hút vốn thông qua thị trường chứng khoán. Đây là hình
thức tích tụ và tập trung vốn rất có hiệu quảđang được các nước phát triển áp
dụng.Chính thị trường chứng khoán là một hình thức của thị trường vốn, và nếu thị
trường chứng khoán hoạt động tốt thì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ
của nền kinh tế. Ngoài nguồn vốn tích luỹ trong nước thì trong hoàn cảnh hiện nay khi
nền kinh tế mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì một nguồn vốn có vai trò đặc


GS, TS Phạm Văn Quang, TS Phạm Văn Sinh (chủ biên) (2009), Giáo trình
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia Hà Nội

[2].

GS, TS Nguyễn Ngọc Long, GS, TS Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) (2006), Giáo
trình triết học Mác – Lênin (Dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia.

[3].

Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin của

[4].

Báo Vũng Tàu ( bài viết của Lê Ngân)

[5].

Tài liệu tiểu luận của kênh 123.doc

[6].

Tài liệu tham kháo môn kinh tế chính trị của Ngô Đạt.

[7].

Báo Diễn đàn doanh nghiệp ( bài tình hình kinh tế xã hội của Nguyễn Tuấn)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status