VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI VĂN HẢI
PHẬT GIÁO HÕA HẢO – LỊCH SỬ
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
HÀ NỘI – năm 2014
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI VĂN HẢI
PHẬT GIÁO HÕA HẢO – LỊCH SỬ
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ HIỆN NAY
Chuyên ngành:
Mã số: 62.22.9001
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học 1: PGS.TS Ngô Hữu Thảo
2: TS. Nguyễn Hoàng Sa
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GI
1.2.4. Về ảnh hƣởng nhiều mặt của Phật giáo Hòa Hảo trong đời sống xã
hội................................................................................................................ 19
1.2.5. Về công tác tôn giáo đối với Phật giáo Hòa Hảo của hệ thống chính
trị Trung ƣơng và địa phƣơng ..................................................................... 19
1.2.6. Định hƣớng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án ....................... 22
1.3 THUẬT NGỮ DÙNG TRONG LUẬN ÁN ............................................. 23
1.3.1 Thế nào là đạo Hòa Hảo .................................................................... 23
1.3.2 Danh từ Phật giáo Hòa Hảo ............................................................... 23
1.3.3 Làng Hòa Hảo .................................................................................... 24
1.3.4 Chức việc Phật giáo Hòa Hảo ............................................................ 25
1.3.5 Thờ tự chung ...................................................................................... 26
1.3.6. Đạo Phật ............................................................................................ 26
1.3.7 Tôn giáo là gi? ................................................................................... 27
Chƣơng 2 NHỮNG THỜI KỲ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CƠ
BẢN CỦA PHẬT GIÁO HÕA HẢO ............................................................. 40
2.1. NHỮNG THỜI KỲ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA PGHH .............. 40
2.1.1. Thời kỳ ra đời của Phật giáo Hòa Hảo ............................................. 40
2.1.2. Thời kỳ Phật giáo Hòa Hảo phát triển từ 1948 - 1954 ..................... 49
2.1.3. Thời kỳ Phật giáo Hòa Hảo phát triển năm 1955 - 1975 .................. 51
2.1.4. Thời kỳ phát triển của PGHH từ năm 1975 đến nay ........................ 58
2.2. NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ GIÁO LÝ, GIÁO LUẬT, LỄ NGHI VÀ TỔ
CHỨC CỦA PHẬT GIÁO HÕA HẢO .......................................................... 63
2.2.1. Giáo lý của Phật giáo Hoà Hảo......................................................... 63
2.2.2. Giáo luật của Phật giáo Hoà Hảo ...................................................... 72
2.2.3. Lễ nghi của Phật giáo Hoà Hảo ........................................................ 76
2.2.4 Tổ chức của Phật giáo Hoà Hảo ........................................................ 79
Tiểu kết chƣơng 2............................................................................................ 82
Chƣơng 3 ẢNH HƢỞNG CỦA PHẬT GIÁO HOÀ HẢO HIỆN NAY TỪ
TÁC GIẢ LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Bùi Văn Hải
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Cho đến nay, Việt Nam đã có 13 tôn giáo đƣợc Nhà nƣớc Việt Nam
công nhận tƣ cách pháp nhân, gồm cả tôn giáo nội sinh và ngoại sinh. Phật
giáo Hoà Hảo là một tôn giáo nằm trong số đó, tôn giáo nội sinh. Phật giáo
Hoà Hảo ra đời năm 1939 ở tỉnh Châu Đốc, nay là tỉnh An Giang và ngay từ
đầu nó đã tỏ ra rất phù hợp với nhu cầu tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời nông
dân Nam bộ. Thế nhƣng, ở cả thời kỳ trƣớc và sau ngày miền Nam giải
phóng, trƣớc đây đã có không ít ngƣời cho rằng, Phật giáo Hoà Hảo không
phải là một tôn giáo, mà là một “tổ chức chính trị trá hình”, “lấy đạo tạo
đời”... Vì thế, phải mãi đến năm 1999, Phật giáo Hoà Hảo mới đƣợc công
nhận tƣ cách pháp nhân. Điều đó cho thấy, trong lịch sử ra đời, tồn tại và phát
triển, Phật giáo Hòa Hảo có rất nhiều những vấn đề lịch sử chính trị, xã hội
phức tạp đối với cả 2 phía: ngụy quyền Sài Gòn (đặc biệt dƣới thời kỳ Ngô
Đình Diệm cầm quyền) và chính quyền cách mạng do Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo. Từ trƣớc kia cho tới nay, một số công trình khoa học đã
nghiên cứu về Phật giáo Hòa Hảo, song do thời gian và do tính chất lịch sử
chính trị, xã hội cũng nhƣ tín ngƣỡng, tôn giáo, mà mọi luận giải ở lĩnh vực
này hoặc lĩnh vực khác, chƣa có đƣợc sự thoả đáng nhất định từ các phƣơng
diện chính trị, xã hội. Vì thế, nó đã và đang đặt ra yêu cầu, trƣớc hết là đối với
chủ thể lãnh đạo, quản lý xã hội, cần phải nhận thức lại, hƣớng đến sự thống
nhất hơn nữa, nhằm đảm bảo cho mối đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc.
Hiện nay, theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ, năm 2012, Phật
giáo Hoà Hảo có 1,.3 triệu tín đồ. Trong đó, tín đồ hầu hết là nông dân và tập
trung chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đông nhất là ở An Giang,
2
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
2.1 Mục đích
Luận án tiếp tục làm sáng tỏ sự ra đời, đặc điểm chủ yếu của Phật giáo
Hoà Hảo và những vấn đề đặt ra hiện nay trong mối quan hệ với các lĩnh vực
của đời sống xã hội, từ đó khuyến nghị với Đảng, Nhà nƣớc và các tổ chức
của hệ thống chính trị, nhằm xây dựng, đảm bảo chính sách tự do tôn giáo,
“tốt đời đẹp đạo” đối với Phật giáo Hòa Hảo hiện nay.
2.2 Nhiệm vụ
Đề tài có nhiệm vụ làm rõ những vấn đề sau:
- Hoàn cảnh ra đời, những nội dung cơ bản về giáo lý, giáo luật, lễ
nghi, tổ chức của Phật giáo Hòa Hảo; mối quan hệ của Phật giáo Hòa Hảo đối
với đời sống xã hội nƣớc ta trong lịch sử; về giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và quá
trình hình thành, phát triển của tôn giáo này.
- Phật giáo Hòa Hảo trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
ở nƣớc ta hiện nay.
- Những vấn đề hiện nay của Phật giáo Hòa Hảo và khuyến nghị từ
phƣơng diện công tác tôn giáo của hệ thống chính trị đối với tôn giáo này.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sinh tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu là các chức việc ở Ban
Trị sự Phật giáo Hòa Hảo 2 cấp, cùng với tín đồ của tôn giáo này và nghiên
cứu trong phạm vi vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, thời gian từ
năm 1939 đến năm 2013.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Với đề tài luận án: "Phật giáo Hòa Hảo – lịch sử và những vấn đề hiện
nay”, nghiên cứu sinh xác định những câu hỏi nghiên cứu sau:
4
hội, đƣợc quy định bởi hoàn cảnh lịch sử cụ thể, đó là thời kỳ đất nƣớc dƣới
ách ngoại xâm và hiện nay, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai: Dựa vào lý thuyết của khoa học lịch sử để làm rõ về quá trình
ra đời và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo, đồng thời từ cái lịch sử phát hiện
cái logic xuyên suốt cái lịch sử, chi phối các hoạt động của Phật giáo Hòa
Hảo hiện nay.
Thứ ba: Dựa vào lý thuyết tôn giáo học, xã hội học tôn giáo và lý
thuyết hệ thống cấu trúc để tìm hiểu về thực trạng và phân tích sự tác động
nhiều chiều của các yếu tố cấu thành Phật giáo Hòa Hảo hiện nay, tới đời
sống xã hội Nam bộ Việt Nam, địa bàn tập trung đông Phật giáo Hòa Hảo.
Trên cơ sở đó rút ra những nhận xét, đánh giá và những vấn đề đặt ra của
tôn giáo này đối với công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nƣớc.
Thứ tư: Dựa vào lý thuyết nhân học tôn giáo, văn hóa học và chính trị
học để làm rõ những yêu cầu của xã hội, chính trị đối với tín đồ, chức việc
Phật giáo Hòa Hảo và ngƣợc lại, của đồng bào theo Phật giáo Hòa Hảo đối
với đất nƣớc trong quá trình phát triển xã hội Việt Nam dƣới thời kỳ đổi mới.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Với các câu hỏi và giả thuyết nhƣ trên, nghiên cứu sinh sẽ phải vận
dụng một hệ thống các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học. Đó là: những
nguyên tắc phƣơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử; kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên
ngành, nhƣ: Phƣơng pháp nghiên cứu lịch sử - logic, lịch đại, phƣơng pháp
phân tích biểu tƣợng, phƣơng pháp so sánh và phân loại loại hình hóa;
phƣơng pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu, phƣơng pháp
quan sát và tham dự.
Luận án của nghiên cứu sinh sử dụng nguồn tƣ liệu của Phật giáo Hoà
Hảo từ năm 1939 đến trƣớc năm 2004, liên quan đến 6 quyển nhƣ sau:
Quyển 1: “Sấm giảng khuyên người đời tu niệm”, thể thơ lục bát
trƣờng thi có 219 câu, xuất bản năm 1939. Quyển này Huỳnh Phú Sổ nói rõ
danh phận của mình trong quá trình chu du tiếp cận bá tánh: Kẻ ăn xin, lão
đƣa đò, ngƣời bán cá, bán thuốc, hát rong để dễ bề thâm nhập quần chúng
thuyết giảng kinh kệ và khuyên ngƣời tu niệm. Song tính đặc biệt của quyển
này là viết về sự mở màn thời kỳ “hạ ngƣơn mạt pháp”, một thảm hoạ sắp tràn
lan và việc phán đoán thời cuộc sắp diễn ra đúng sự thật, đƣợc thể hiện trong
những vần thơ của Huỳnh Phú Sổ, qua đó thức tỉnh chúng sinh, bá tánh tìm
đƣờng ngay, nẻo chính đi theo con đƣờng hƣớng thiện.
Quyển 2: “Kệ dân của người khùng”, thể thơ thất ngôn trƣờng thi, có
846 câu, xuất bản năm 1939. Nội dung quyển này tiếp tục cảnh báo họa chiến
tranh diễn ra. Sinh linh đồ khổ, Huỳnh Phú Sổ nêu cụ thể thảm họa cho dân
tộc Việt Nam; đánh giá đúng thảm cảnh xã hội đƣơng thời bấy giờ một cách
đen tối cùng cực nhất trong lịch sử cận đại của dân tộc. Mục đích của Huỳnh
Phú Sổ là gây ấn tƣợng thức tỉnh lƣơng dân tìm đƣờng đạo hạnh.
Quyển 3: “Sấm giảng”, thể thơ lục bát trƣờng thi, có 612 câu, xuất bản
năm 1939. Nội dung chủ yếu của quyển này là tiếp tục khuyên chúng sinh tu
hành và bài bác mê tín dị đoan. Thật không sai, nếu ở trên đời ai cũng tu tâm
dƣỡng tánh, làm lành lánh dữ thì đâu có cảnh xâu xé lẫn nhau làm cho đầu rơi
7
máu đổ. Những từ luân lý, tổ tông, nhân nghĩa, lễ nghi, phong hóa, tứ ân đã
bao hàm đủ việc đối nhân xử thế, đạo lý làm ngƣời của dân tộc ta. Về phê
phán mê tín dị đoan cũng đƣợc khẳng định khác biệt giữa chân đạo và tà đạo.
Quyển 4: “Giác mê tâm kệ”, thể thơ thất ngôn trƣờng thi, có 846 câu,
xuất bản năm 1939. Nội dung quyển này Huỳnh Phú Sổ khuyên dạy bổn đạo
Hạng xuất gia: Gồm có các nhà sƣ hay những ni cô đã hoàn toàn ly
khai với gia đình, quê hƣơng, bè bạn, dựa thân vào cửa thiền hoặc núi non am
cốc, hàng ngày chỉ chuyên lo kinh kệ, trau luyện đức lành, trau giồi trí tuệ để
giảng giải cho bá tánh thập phƣơng hƣớng thiện quy y phật pháp, không còn
thiết nghĩ đến việc đời. Gia đình nhà cửa của nhà sƣ là cả thế gian, thân quyến
nhà sƣ là khắp cả nhân loại đại đồng. Đó là hạng ngƣời dốc tu cho mau thành
Phật quả, thoát kiếp luân hồi.
Hạng tại gia: Gồm tất cả đại chúng, tất cả thiện nam tín nữ chƣa đủ
những điều kiện xuất gia, vì cảm thấy mình còn nặng nợ với non sông Tổ
quốc, với gia đình, đồng bào, xã hội, nên chƣa thể làm nhƣ các nhà sƣ hoặc ni
cô. Tuy vậy, họ luôn hoan nghênh, ca tụng lý tƣởng từ bi, bác ái, đại đồng của
nhà Phật và luật nhân quả do Phật thuyết ra. Họ thờ phƣợng Đức Phật tại nhà,
phát nguyện quy y, giữ gìn ít điều giới luật, hằng coi kinh sách, sửa tánh răn
lòng, ủng hộ các sƣ. Nhƣ thế họ cũng lần lần lên con đƣờng giải thoát và đây
là hạng ngƣời học Phật tu Nhân. Theo đó cho thấy toàn thể trong Phật giáo
Hòa Hảo thuộc hạng ngƣời tại gia cƣ sĩ, học Phật tu Nhân.
1.1.1.2 Tài liệu - sấm giảng giáo lý Phật giáo Hoà Hảo của Huỳnh
Phú Sổ, Ban Trị sự Trung ƣơng Phật giáo Hoà Hảo, Ban Phổ truyền giáo lý,
tái bản lần thứ năm, nhà xuất bản Tôn giáo, Hà Nội năm 2004.
Tài liệu này gồm có: thay lời tựa, sứ mạng của đức Thầy, do chính tay
Huỳnh Phú Sổ viết vào ngày 18/5/1942, tại Bạc Liêu, gồm 06 quyển: Nó
tƣơng tự nhƣ 06 quyển tƣ liệu gốc, không có gì thay đổi. Nhƣng chỉ có quyển
thứ nhì của tái bản lần thứ năm chênh lệch nhau 370 câu và quyển năm chênh
9
lệch nhau 20 câu (quyển thứ hai cũ có 846 câu, quyển mới chỉ có 476 câu và
quyển thứ năm cũ 756 câu và quyển mới 776 câu).
Giáo lý Phật giáo Hoà Hảo giữa cái cũ và cái mới chỉ chênh lệch nhau
lần thứ tám: Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ
giữa Đảng với nhân dân, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội; Đảng cộng sản Việt
Nam, Nghị quyết Trung ƣơng 5, khóa VIII (1998), về xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Đảng cộng sản Việt
Nam, Chỉ thị số 37-CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Thông
tƣ số 01/1999/TT-TGCP: v/v hướng dẫn thực hiện một số điều trong nghị
định 26/1999/NĐ-CP của chính phủ về các hoạt động tôn giáo;
Quyết định số: 17/2000/QĐ- TGCP của trƣởng Ban Tôn giáo chính phủ
v/v sửa đổi, bổ sung một số điều tại thông tư 01/1999/TT-TGCP ngày
16/6/1999 của Ban Tôn giáo chính phủ về hoạt động tôn giáo; Nghị quyết
25/TW của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng lần bảy (2003), khoá IX: về
công tác tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt Nam: Quyết định số 123 - QĐ/TW
của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng (2004): quy định một số điều về kết nạp
đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn
giáo; Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội: Pháp lệnh tín ngƣỡng, tôn giáo, số
21/2004/PL-UBTVQH11, ngày 29-6-2004; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP:
hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh tôn giáo; Đảng Cộng Sản Việt
Nam (2006), văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X – Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội; Ban Tôn giáo chính phủ (2008), tôn giáo và công tác quản
lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Ban Tôn
giáo chính phủ (2010): tài liệu hỏi - đáp pháp luật liên quan đến tín ngưỡng,
tôn giáo, Nxb tôn giáo, Hà Nội; Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), văn kiện
đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI - Nxb chính trị quốc gia Hà Nội.
Thông báo số 165-TB/TW, ngày 04/9/1998, của Thƣờng vụ Bộ Chính
trị (khoá VIII): về chủ trương công tác đối với Phật giáo Hoà Hảo trong tình
11
hình mới; Quyết định số 21/1999/QĐ-TGCP: v/v chấp thuận tổ chức và hoạt
PGS. TS Nguyễn Đức Lữ (2006): Tiếp tục đổi mới tư duy về tôn giáo và công
tác tôn giáo, tạp chí Lý luận chính trị. PGS.TS Nguyễn Đức Lữ (2011), tìm
hiểu về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt
Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính
. Trƣơng Hải Cƣờng
(2012), một số vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, Nxb
Chính trị quốc gia – Sự thật. PGS.TS Ngô Hữu Thảo (2012): Công tác tôn
giáo – từ quan điểm Mác – Lênin đến thực tiễn Việt Nam, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội. .
1.1.2.2 Hệ thống hoá các công trình, bài viết đã được công bố liên
quan đến Phật giáo Hoà Hảo.
Đào Hƣng và Vƣơng Kim (1953): Đức Phật Thầy Tây An, Nxb Long
Hoa. Vƣơng Kim (1960): Đời hạ ngươn, Nxb. Long Hoa. Huỳnh Phú Sổ
(1966): Sấm giảng thi văn giáo lý, Ban phổ thông giáo lý Trung ƣơng giáo hội
Phật giáo. Nguyễn Văn Hầu (1969): Muốn về cõi Phật,
(1971): Nhận thức Phật giáo Hoà Hảo, Nxb Hƣơng Sen.
Nguyễn Văn Hầu (1973): Năm cuộc đối thoại, Nxb Hƣơng Sen. Vƣơng Kim
(1973): Đời thượng ngươn, Nxb Long Hoa. Lê Thành Thảo (1974): Sinh hoạt
Phật giáo Hòa Hảo trong cộng đồng quốc gia, luận văn cao học xã hội học –
Đại học Văn khoa. Huỳnh Hữu Chiến: Hoạt động lợi dụng Phật giáo Hoà
Hảo của địch chống lại chính quyền nhân dân trên địa bàn tỉnh An Giang từ
1975 – 1990. Trƣơng Nhƣ Vƣơng (1997): Đạo Hòa Hảo những vấn đề đặt ra
cho công tác an ninh trật tự hiện nay, đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Bộ Công
an, Hà Nội. Báo cáo tổng quan đề tài (2001) khảo sát thực trạng Phật giáo
Hoà Hảo – kiến nghị về chủ trương, chính sách, Vụ 3 - Vụ các tôn giáo khác,
Ban Tôn giáo chính phủ, Hà Nội.
Những tác phẩm, bài viết về lý luận tôn giáo và tôn giáo Việt Nam trên
đây, mặc dù không trực tiếp bàn
bởi các tộc ngƣời Chăm, Hoa, Khmer và Việt trong đó ngƣời Việt nhiều nhất,
14
có vai trò quyết định sự phát triển của vùng đất này. Ngƣời Việt đem đến đây
vốn văn hoá của vùng đất châu thổ Bắc bộ lại đƣợc làm giàu ở miền Trung,
khu Năm. Đến vùng đất mới, nó lại đƣợc giao lƣu với văn hoá các tộc ngƣời
khác, nên có những nét khác với nền văn hoá của vùng đất có cội nguồn phía
Bắc. Những yếu tố ấy hình thành tồn tại xã hội độc đáo ở miền đất phía nam
Việt Nam. Từ đó, tạo nên tính cách đặc trƣng của bao thế hệ ngƣời Việt ở
Nam bộ đó là sự giản dị, thẳng thắn, trung nghĩa, có tinh thần yêu nƣớc,
chống cƣờng quyền. Phật giáo Hoà Hảo trên toàn bộ nội dung cơ bản của
mình, đã phản ánh và đáp ứng về những đặc điểm của ngƣời dân Nam bộ.
- Trực tiếp với sự ra đời Phật giáo Hòa Hảo, đó là sự sa sút về đạo pháp
của các tôn giáo đƣơng thời, nhất là sự suy vi của Phật giáo từ mấy thế kỷ
trƣớc, để rồi bắt đầu từ Miền Nam vào những năm đầu thế kỷ XX, dấy lên
phong trào chấn hƣng Phật giáo. Trƣớc khi Phật giáo Hoà Hảo ra đời, đa số
nông dân đi theo đạo Phật, đạo Nho, một số ít đi theo đạo Công Giáo. Nhƣng
thời kỳ này, các tôn giáo đó bị ngƣời ta nghi ngờ hoặc đã không còn phù hợp.
Trƣớc đó, đạo Cao Đài ra đời, nhiều ngƣời đƣơng thời xem nó nhƣ một hiện
tƣợng mê tín; hơn nữa lại là một tôn giáo hỗn dung nên có phần phức tạp,
trong khi nhiều ngƣời dân có nhu cầu về một tôn giáo đơn giản gần gũi hơn.
Tình hình đó, tất cả đã tạo ra khoảng trống tín ngƣỡng, từ đó xuất hiện
nhiều tôn giáo mới để bù đắp, trong đó có Phật giáo Hòa Hảo. Điều này đƣợc
nhiều công trình khẳng định và làm phong phú bằng nhiều tƣ liệu đáng tin cậy
và thuyết phục.
1.2.2. Về giáo lý, giáo luật, lễ nghi của Phật giáo Hòa Hảo
- Các công trình đã công phu trong việc tìm tòi, luận giải về cội nguồn
tƣ tƣởng trực tiếp của Phật giáo Hoà Hảo, đó là 2 tôn giáo bản địa: Bửu Sơn
+ Ngƣời tín đồ Phật giáo Hòa Hảo luôn tự hào, tin tƣởng vào vị giáo chủ
của mình trên mọi phƣơng diện, cả đạo và đời.
+ Sự kiện Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ“đi xa” đƣợc rất nhiều công trình đề
cập tới. Đây chính là nội dung – vấn đề còn nhiều tranh cãi bậc nhất của tôn
giáo này từ lịch sử đến nay. Trong đó, ngƣời ta có khi đã đặc biệt khoét sâu
16
mâu thuẫn giữa tín đồ với cách mạng, trong khi quan điểm của Đảng và Nhà
nƣớc ta là khép lại quá khứ, đoàn kết dân tộc.
-
D
+
.
+ Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng, q
:
);
;
;
.
+
.
D
.
;
–
);
–
;
1973 –
);
–
.
-
:
Nhiều công trình phân tích về bộ máy hành chính đạo Phật giáo Hòa
Hảo.
18
.
1.2.4. Về ảnh hƣởng nhiều mặt của Phật giáo Hòa Hảo trong đời
sống xã hội
- Những nghiên cứu tập trung vào các phƣơng diện: Phật giáo Hòa
Hảo hoạt động ảnh hƣởng to lớn trong lĩnh vực chính trị; Phật giáo Hòa Hảo
hoạt động ảnh hƣởng trên lĩnh vực văn hóa xã hội và đây là nội dung đƣợc
khích và định hƣớng các hoạt động từ thiện
gắn với tôn chỉ hành đạo
phù hợp truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, củng cố tính nhân văn
và tinh thần cộng đồng xã hội. Quản lý có hiệu quả thích hợp các hoạt động từ
thiện
, tránh đƣợc việc lợi dụng từ thiện
vào các mục đích khác.
Tôn trọng việc thờ cúng thực hiện các nghi thức trong các ngày lễ của Phật
giáo Hoà Hảo.
- Hệ thống chính trị đã đƣợc tăng cƣờng, từng bƣớc nắm đƣợc tâm tƣ
nguyện vọng và những diễn biến tƣ tƣởng của tín đồ
. Làm
phân hóa các nhóm đối tƣợng, cảm hóa những ngƣời có quá khứ lỗi lầm; xây
dựng đội ngũ cán bộ cốt cán làm hạt nhân cho phong trào quần chúng trong
nhóm tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tích cực; cô lập những ngƣời núp dƣới chiêu
bài Phật giáo Hoà Hảo để chống Đảng, Nhà Nƣớc Việt Nam.
- Phát huy tốt những đạo đức, văn hoá tích cực của Phật giáo Hoà Hảo
phù hợp với yêu cầu xây dựng xã hội mới. Lấy đó làm hạt nhân tƣơng đồng
để gạt bỏ những dị biệt mặc cảm; xây dựng khối đại đoàn kết tín đồ trong
lòng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
- Từng bƣớc đã kiện toàn đƣợc tổ chức Ban Trị sự Trung ƣơng và địa
phƣơng hƣớng tín đồ hoạt động từng bƣớc đi vào nề nếp, thuần tuý của một
đạo. Củng cố, xây dựng đƣợc lực lƣợng cốt cán từ quần chúng tín đồ Phật