Sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia - Pdf 50

MỤC LỤC
DANH MỤC ĐỒ THỊ - BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI TRONG VIỆC
SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL ĐỂ GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ
AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI........................6
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại..........................................................6
1.1.1. Khái niệm........................................................................................................6
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế.................................6
1.1.3. Các dịch vụ của ngân hàng thương mại...........................................................8
1.1.4. Rủi ro của ngân hàng thương mại....................................................................9
1.1.5. Sự cần thiết phải đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại
....................................................................................................................... 10
1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ số CAMEL...............................11
1.2.1 Giới thiệu hệ thống chỉ số CAMEL...............................................................11
1.2.2 Mục tiêu sử dụng và căn cứ xây dựng hệ thống chỉ số CAMEL....................11
1.2.3 Các bộ phận cấu thành và khả năng vận dụng của hệ thống chỉ số CAMEL
trong đánh giá và giám sát hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.....12
1.3 Kinh nghiệm sử dụng hệ thống giám sát an toàn hệ thống ngân hàng
thương mại của một số nước và tổ chức trên thế giới...............................29
1.3.1 Việc sử dụng các chỉ tiêu trong chỉ số CAMEL tại các hãng định mức tín
nhiệm trên thế giới.........................................................................................29
1.3.2 Kinh nghiệm hoạt động giám sát mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng
một số quốc gia..............................................................................................29
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống CAMEL tại Việt Nam............31
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ
CAMEL TRONG GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN
CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI ỦY BAN
GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA.......................................................32
2.1 Hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.......................32
2.1.1. Số lượng, loại hình và mạng lưới ngân hàng thương mại...............................32

3.2.1 Giải pháp đối với cấu trúc khu vực ngân hàng...............................................68
3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng từng yếu tố trong bộ chỉ tiêu CAMEL......70
3.2.3 Giải pháp đối với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia trong việc nâng cao
hiệu quả sử dụng chỉ số CAMEL...................................................................75
3.3. Kiến nghị một số điều kiện để thực hiện giải pháp nâng cao khẳ năng
sử dụng chỉ số CAMEL...............................................................................78
3.3.1 Kiến nghị trong việc nâng cao chất lượng sử dụng chỉ số CAMEL...............78
3.3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý...........................................................79
3.3.3 Kiến nghị đối với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia...................................85
KẾT LUẬN.............................................................................................................87


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................88
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ACB

Ngân hàng thương mại cổ phần Á châu

CN

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

CN NHNNg

Chi nhánh ngân hàng nước ngoài

CP


NHNNg

Ngân hàng nước ngoài

NHTMCP

Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMNN

Ngân hàng thương mại Nhà nước

NHTW

Ngân hàng Trung ương

OECD

Tổ chức hợp tác các nước kinh tế phát triển

PGD

Phòng giao dịch



Quyết định

TCTD


VN

Việt Nam

VND

Đồng Việt Nam

WTO

Tổ chức thương mại thế giới


DANH MỤC ĐỒ THỊ - BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1:
Bảng 1:
Bảng 2:
Bảng 3:

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
Hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Tỷ lệ tiền gửi/GDP và Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP (6 tháng)
Cơ cấu nợ xấu

Hình 1:

Thị phần tiền gửi của hệ thống ngân hàng thương mại

Hình 2:


Hình 10:

Dư nợ đầu tư bất động sản

Hình 11:

Doanh số chiết khấu GTCG đầu tư vào chứng khoán

Hình 12:

Nợ xấu trong khu vực ngân hàng

Hình 13:

Lợi nhuận khu vực ngân hàng

Hình 14:

Cơ cấu nguồn thu của hệ thống ngân hàng năm 2010

Hình 15:

Tỷ lệ chi phí ngoài lãi trên tổng thu nhập

Hình 16:

Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn



Chương 2: Phân tích thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong giám

sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại tại Ủy ban
Giám sát tài chính Quốc gia.
-

Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số

CAMEL trong đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại.


ii
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế như:
Thu thập thông tin truyền thông, phương pháp hệ thống, phân tích và tông hợp,
đánh giá và tham vấn ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng để
giải quyết phần nội dung. Ngoài ra luận văn còn sử dụng hệ thống đồ thị, bảng biểu
để minh họa cho những phân tích của đánh giá.
Trong chương 1: Tác giả đã góp phần làm rõ thêm lý luận về hệ thống
ngân hàng thương mại và hệ thống chỉ số CAMEL.
Tác giả đã hệ thống lại những khái niệm ngân hàng thương mại theo Pháp
lệnh của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Nêu lên những chức năng của hệ thống
ngân hàng thương mại trong nền kinh tế bao gồm: trung gian tài chính, phương tiện
thanh toán, trung gian thanh toán. Đưa ra hệ thống dịch vụ của ngân hàng thương
mại và hệ thống lại những rủi ro của ngân hàng gặp phải để từ đó cho thấy vai trò
cũng như nhiệm vụ mà hệ thống chỉ số CAMEL hướng tới đó là: rủi ro về mặt tín
dụng, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và các rủi ro khác. Luận văn
cũng phân tích sự cần thiết phải đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng
thương mại bởi Rủi ro gắn liền với ngân hàng thương mại, phản ánh các tình huống
bất thường xảy ra gây tổn thất cho ngân hàng. Do đó, hạn chế rủi ro không chỉ là
mối quan tâm của các ngân hàng thương mại mà còn là mục tiêu kiểm soát của ngân

2. Giới thiệu tổng quan về Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, lịch sử hình
thành, chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức.
3. Thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong đánh giá mức độ an toàn của
hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam tại Ủy ban.
 Chỉ số về vốn: đánh giá dựa trên các yếu tố hệ số an toàn vốn, tốc độ tăng
trưởng vốn điều lệ và các quỹ, tỷ lệ góp vốn mua cổ phần so với điều lệ và các quỹ,
phân bố định vị mức đủ vốn theo nhóm ngân hàng.
 Chỉ số về chất lượng tài sản: đánh giá dựa trên các yếu tố dư nợ của khu
vực ngân hàng, cơ cấu dư nợ cho vay, sư nợ cho vay ngắn hạn và cho vay vào các
lĩnh vực có độ rủi ro cao, tỷ lệ nợ xấu.
 Chỉ số về lợi nhuận: đánh giá dựa trên các yếu tố chỉ số ROA, ROE, cơ cấu
các nguồn trong tỷ lệ thu nhập, tỷ lệ lãi ròng thu nhập trên tổng thu nhập, tỷ lệ chi
phí ngoài trên tổng lãi thu nhập, chi phí của ngân hàng.


iv
 Chỉ số về thanh khoản: đánh giá dựa trên các yếu tố tăng trưởng huy động
vốn, tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn, căng thẳng thanh
khoản trên thị trường liên ngân hàng.
4. Đánh giá khu vực ngân hàng sau khi phân tích bằng chỉ số CAMEL. Sử
dụng những đánh giá của các tổ chức quốc tế và bản thân tác giả để thấy được vai
trò mà hệ thống chỉ số CAMEL mang lại. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn
của việc sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL tại Ủy ban.
 Thuận lợi
- Chỉ số CAMEL được sử dụng trong hoạt động đánh giá mức độ an toàn của
thệ thống ngân hàng là phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện với nhiều điều luật,
điều chỉnh chung và luật chuyên ngành được ban hành, tạo điều kiện cho các ngân
hàng dễ dàng thực hiện các chỉ thị, việc công bố thông tin.
- Các nội dung giám sát của chỉ số CAMEL không chỉ tập trung và các yếu tố

CAMEL của các ngân hàng còn chưa chính xác, cập nhật. Các chỉ số thống kê, chỉ
số tài chính của nhiều ngân hàng còn chưa phù hợp. Hệ thống thông tin giám sát từ
hệ thống ngân hàng đến các cơ quan giám sát còn chưa thông suốt, chỉ tồn tại một
chiều nguồn thông tin từ các ngân hàng đến các cơ quan giám sát.
Việc sử dụng chỉ số CAMEL trong việc giám sát hệ thống ngân hàng tại Việt
Nam còn nhiều bất cập đấy là việc hệ thống kế toán của Việt Nam chưa theo chuẩn
hệ thống kế toán quốc tế. Điều này đã gây khó khăn trong việc xác định cũng như
tính toán các chỉ số khi các chỉ số CAMEL cần phải theo chuẩn mực quốc tế.
Việt Nam chưa thể sử dụng hết toàn bộ hệ thống chỉ số CAMEL trong việc
đánh giá hệ thống ngân hàng bởi hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa thể thực hiện
được theo các tiêu chí ấy, do chưa có số liệu tính toán, chưa có các nghiệp vụ phát
sinh hoặc có thể có nhưng các chỉ số không thể so sánh được với những ngân hàng
có quy mô tương đương ở nước ngoài.
Ủy ban chưa tạo dựng được sự phối hợp giữa hoạt động giám sát từ xa và
giám sát tại chỗ, chưa đưa ra được quy trình giám sát hoàn thiện.
Chương 3: Tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp và kiến nghị
để nâng cao khả năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL tại Ủy ban.
1. Để đưa ra được những giải pháp và kiến nghị phù hợp tác giả đã phân tích
những nguyên tắc trong việc sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL, nguyên tắc trong


vi
hoạt động giám sát ngân hàng thương mại để từ đó đưa ra được phương hướng sử
dụng hệ thống chỉ số này trong thời gian tới.
2. Tác giả đã đưa ra các giải pháp nâng cao khẳ năng sử dụng hệ thống chỉ số CAMEL:
 Giải pháp đối với cấu trúc khu vực ngân hàng:
Khuyến khích phát triển các hình thức tín dụng quy mô nhỏ, đa dạng hóa hình
thức sở hữu. Tăng cường kiểm tra, giám, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực
ngân hàng. Cần phân loại các ngân hàng (ví dụ theo quy mô vốn chủ sở hữu, hiệu
quả hoạt động,…) từ đó quy định hình thức, phạm vi, cơ chế hoạt động, giám sát

việc bố trí công việc để đảm bảo những cán bộ giỏi, dày dạn kinh nghiệm có thể hỗ
trợ và hướng dẫn cho các cán bộ trẻ hoặc còn ít kinh nghiệm trong công việc.
3. Tác giá đã đưa ra những kiến nghị để thực hiện hệ thống giải pháp trên đối
với hệ thống chỉ số CAMEL, đối với Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cũng
như các cơ quan quản lý để hệ thống chỉ số này ngày càng phát huy tốt hơn tính
ưu việt của nó trong việc nâng cao mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương
mại Việt Nam.


1

LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, hoạt động của các Ngân
hàng thương mại Việt Nam hiện nay đang ngày càng được mở rộng theo hướng hiện
đại hóa và đa dạng hóa, Mục tiêu an toàn và hiệu quả của từng ngân hàng cũng như
toàn bộ hệ thống ngân hàng thương mại là một mục tiêu quan trọng, bởi đây là kênh
huy động vốn lớn và hiệu quả nhất của nền kinh tế. Chính vì thế việc đảm bảo cho
hệ thống ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, mang lại hiệu quả kinh tế cao là
nhiệm vụ của hoạt động giám sát ngân hàng thương mại của các cơ quan với chức
năng thanh tra, giám sát.
Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia với chức năng giám sát hệ thống tài
chính, trong đó có hệ thống ngân hàng thương mại. Thông qua hoạt động giám sát
từ xa của mình để giúp Thủ tướng Chính phủ nắm rõ hơn về thị trường tài chính
Việt Nam. Ủy ban đã sử dụng công cụ chỉ số CAMEL để đánh giá mức độ an toàn
của hệ thống ngân hàng thương mại để từ đó tham mưu cho Chính phủ nhằm ổn
định thị trường tài chính Việt Nam ngày càng bền vững hơn.
Trước sức ép của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rủi ro trong hoạt động
ngân hàng ngày càng đa dạng về loại hình và tinh vi về mức độ, tài chính của các
ngân hàng thương mại sẽ được đảm bảo, hệ thống ngân hàng sẽ mạnh và thực sự
là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế nếu hoạt động giám sát đối với ngân

chính đã công bố song các đề tài đó cũng sử dụng số liệu từ những năm trước nên
tính cập nhật chưa cao. Và hiện nay cũng chưa có đề tài nào sử dụng chỉ số CAMEL
đánh giá riêng cho các tổ chức tín dụng. Với chức năng giám sát của mình thì Ủy
ban Giám sát tài chính quốc gia sẽ có cái nhìn tổng thể và sự đánh giá chính xác
nhất hệ thống tổ chức tài chính.
Một số đề tài đã được nghiên cứu như: “Xây dựng hệ thống chỉ số xếp hạng
tài chính đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam” tuy nhiên đề tài này chỉ mới
dừng lại ở việc thống kê các chỉ số và sử dụng các chỉ số trong việc xếp hạng các tổ
chức tín dụng chứ chưa đánh giá được mức độ an toàn của hệ thống này.
1.3. Mục đích nghiên cứu:
- Hiểu rõ hệ thống chỉ số CAMEL, về công thức, cách áp dụng và ý nghĩa
của từng chỉ số. Hiểu rõ hơn về công việc đánh giá mức độ an toàn của hệ thống
ngân hàng của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.


3
- Đánh giá việc sử dụng chỉ số CAMEL tại Ủy ban Giám sát tài chính quốc
gia, đưa ra được những thuận lợi, khó khăn khi áp dụng chỉ số này để từ đó đưa ra
các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao việc sử dụng chỉ số này trong đánh giá hệ
thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
- Từ các số liệu tính toán được qua các chỉ số để nhìn lại hệ thống các tổ chức
tín dụng tại Việt Nam. Đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý (Ngân hàng
Nhà nước, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia) về mức độ an toàn của các tổ chức
tín dụng.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu mức độ an toàn của hệ thống ngân
hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay.
- Chủ thể: Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia
- Phạm vi:
o Sử dụng mô hình CAMEL để đánh giá

1.7. Phương pháp nghiên cứu:
Đây là đề tài khoa học ứng dụng do đó để đạt được mục đích nghiên cứu cần
có các phương pháp nghiên cứu thích hợp.
- Đối với các vấn đề lý luận: Đề tài sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân
tích, đánh giá, liệt kê.
- Đối với các vấn đề thực tiễn: Đề tài sử dụng phương pháp thu thập, chọn
lọc và tính toán số liệu từ đó thể hiện số liệu thông qua các đồ thị, bảng biểu để
chứng minh, phân tích, sử dụng phương pháp so sánh kết quả với các chỉ số, các
thanh đo an toàn để đưa ra kết luận cần thiết.
1.8. Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thế giới trong việc sử dụng chỉ số
CAMEL để giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống
ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Phân tích thực trạng việc sử dụng chỉ số CAMEL trong giám sát
và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại
tại Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.
- Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao khẳ năng sử dụng chỉ số CAMEL
trong giám sát và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống ngân
hàng thương mại.


5

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI
TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHỈ SỐ CAMEL ĐỂ GIÁM SÁT
VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN CỦA HỆ THỐNG NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về ngân hàng thương mại

phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và
các nhà đầu tư; chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc
mua trái phiếu công ty.
1.1.2.2 Phương tiện thanh toán
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân
NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại
và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của
mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo
tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng
và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử
dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử
dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ
sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống
NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu
thanh toán, chi trả của xã hội.
1.1.2.3 Trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực
hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM
cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm
chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,
khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các
chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp
người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào
đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được


7


8
- Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán: Cung cấp cho khách
hàng cơ hội mụa cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ
đến người kinh doanh chứng khoán.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Cung cấp các dịch vụ đại lý cho ngân hàng
khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi...
- Bán các dịch vụ bảo hiểm: ngân hàng bán các hợp đồng bảo hiểm tín dụng
cho khách hàng để đảm bảo việc hoàn trả cho khách hàng trong trường hợp vay vốn
bị mất.
1.1.4. Rủi ro của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt – tiền
tệ. Đa phần trong đó là các khoản tiền gửi phải chi trả khi khách hàng yêu cầu trong
khi nguồn tiền của ngân hàng thương mại lại thay đổi mạnh mẽ. Dưới tác động của
công nghệ, sự di chuyển nguồn tiền giữa các khách hàng của ngân hàng trở nên dễ
dàng hơn song lại làm tăng tính rủi ro cao cho toàn hệ thống. Rủi ro của ngân hàng
có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau song đều có bản chất chung,
đó là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng.
1.1.4.1 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn
và lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến là
khoản vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên, những khoản cho vay luôn ẩn chứa rủi ro.
Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng cho vay những người không nên cho
vay hoặc là khách hàng dùng sai mục đích khoản vay.
1.1.4.2 Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả năng xảy ra những tổng thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị trường,
tỷ giá thường xuyên giao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái của
ngân hàng tạo ra thu nhập hoặc thặng dư thâm hụt tạm thời. Tuy nhiên, có những

hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng thương mại, cần phải có sự phòng tránh,
cần phải có công cụ cảnh báo nhằm đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống để cho
ngân hàng thấy được họ đang ở đâu, mức độ rủi ro hiện tại thế nào để đưa ra các


10
chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi ích cho
ngân hàng.
1.2 Các bộ phận cấu thành của hệ thống chỉ số CAMEL
1.2.1 Giới thiệu hệ thống chỉ số CAMEL
Hệ thống đánh giá CAMEL là hệ thống đánh giá tình trạng vững mạnh,
mức độ an toàn của hệ thống các tổ chức tài chính. Chỉ số này do Cục quản lý các
tổ hợp tín dụng Hoa Kỳ xây dựng. Đến sau khủng hoảng kinh tế thế giới năm
1997, chỉ số này đã được Ngân hàng thế giới cũng như Quỹ tiền tệ quốc tế khuyến
nghị sử dụng đối với nhiều quốc gia nhất là các quốc gia chịu tác động của khủng
hoảng như một trong những biện pháp hữu hiệu để chống đỡ cũng như tái thiết lại
hệ thống tài chính.
CAMEL được được kết hợp từ chữ cái đầu tiên của các yếu tố hình thành
nên hệ thống này.
C: Capital - chỉ số về vốn
A: Asset - chỉ số về chất lượng tài sản
M: Management - chỉ số về năng lực quản lý
E: Earning - chỉ số về lợi nhuận
L: Liquidity - chỉ số về thanh khoản
Hiện nay chỉ số này còn dược mở rộng thêm một yêu tố nữa đó là S:
Sensitivity to market risk – độ nhạy cảm với rủi ro thị trường và biến chỉ số
CAMEL thành CAMELS.
1.2.2 Mục tiêu sử dụng và căn cứ xây dựng hệ thống chỉ số CAMEL
1.2.2.1 Mục tiêu sử dụng
Trên thế giới có khá nhiều hệ thống chỉ số dùng để giám sát hệ thống ngân

chính, thu nhập… của khách hàng.
1.2.3 Các bộ phận cấu thành và khả năng vận dụng của hệ thống chỉ số CAMEL
trong đánh giá và giám sát hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.
Hệ thống CAMEL được xem là một trong những cách tiếp cận cơ bản để
đánh giá và sếp hạng tín nhiệm các tổ chức tín dụng.


12
1.2.3.1 Nhóm các chỉ số về vốn (Capital)
 Yêu cầu đánh giá
Chỉ số này thể hiện sự duy trì được sự phù hợp giữa vốn của các tổ chức tín
dụng với các rủi ro mà hệ thống này có thể gặp phải, đồng thời phải duy trì được
năng lực quản lý để xác định, đo lường, điều chỉnh và kiểm soát những rủi ro này.
Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và các rủi ro khác lên tình
hình tài chính của các tổ chức tín dụng phải được xem xét khi đánh giá tỷ lệ an toàn
vốn của các tổ chức tín dụng.
Các loại rủi ro và mức độ rủi ro tiềm ẩn trong họa động của tổ chức sẽ quyết
định đến việc mở rộng tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng so với mức tối
thiểu đã được quy định nhằm phản ánh một cách chính xác các hậu quả tiềm tàng
mà các rủi ro này có thể gây ra đối với vốn của các hệ thống ngân hàng.
 Nội dung đánh giá
- Mức độ và chất lượng của vốn và tính trạng tài chính tổng thể của các tổ
chức tín dụng.
- Năng lực quản trị để có thể đề xuất các nhu cầu mới phát sinh đối với vốn
của các tổ chức tín dụng.
- Bản chất, xu hướng và khối lượng của các tài sản có rủi ro và mức độ dự
trữ cho các khoản thua lỗ do cho vay và cho thuê tài chính và các tài sản dự trữ có
giá trị khác.
- Cơ cấu bảng cân đối bao gồm bản chất và giá trị các tài sản vô hình, rủi ro thị
trường, rủi ro tích lũy và các rủi ro khác liên quan đến các hoạt động phi truyền thống.

do NH phát hành và các công cụ nợ khác chỉ được hạch toán tối đa
Giới hạn
bằng 50% vốn cấp 1. Trong vòng năm năm cuối cùng trước khi đến
khi tính
hạn thanh toán hoặc chuyển đối thành cổ phiếu phổ thông giá trị
vốn cấp 2
các công cụ nợ khác và trái phiếu chuyển đổi được tính vào vốn
cấp 2 sẽ phải khấu trừ mỗi năm 20% giá trị ban đầu. Tổng giá trị
vốn cấp 2 tối đa bằng 100% vốn cấp 1.
- Toàn bộ phần giá trị giảm đi của TSCĐ do định giá lại.
- Tổng số vốn của NH đầu tư vào TCTD khác dưới hình thức góp
Các khoản
vốn, mua cổ phần.
phải trừ khỏi
- Phần góp vốn, liên doanh, mua cổ phiếu của Quỹ đầu tư, doanh
vốn tự có
nghiệp khác vượt mức 15% vốn tự có của TCTD.
- Khoản lỗ kinh doanh bao gồm cả khoản lỗ lũy kế.
 Các chỉ số về vốn tự có
- Các điều kiện: Vốn điều lệ đủ theo mức vốn pháp định; Đảm bảo an toàn
vốn, cụ thể (1) vốn điều lệ thực góp không thấp hơn vốn điều lệ đã đăng ký, (2) Tỷ
lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) đạt mức quy định của NHNN.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status