Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền đông nam bộ tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa - Pdf 50

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THỊ LAN HƢƠNG

TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN
MIỀN ĐÔNG NAM BỘ: TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN
VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA

Chuyên ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số

: 9. 38. 01. 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẤN KHOA HỌC:
1.TS. NGUYỄN VĂN HIỂN
2. PGS. TS NGUYỄN THỊ PHƢƠNG HOA

HÀ NỘI, 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
trong luận n là trung thực. Những kết luận khoa học của luận n ch a từng
đ ợc công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN


đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ
4.2. Dự báo tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền
Đông Nam Bộ trong thời gian tới
4.3. Các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới
KẾT LUẬN
DANH MỤC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1
7
7
14
21
26
26
28
56
65

65
67
107

107
114
120
148


HĐND

Hội đồng nhân dân

GS

Giáo sư

LĐCĐTS

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

NXB

Nhà xuất bản

PGS

Phó giáo sư

TAND

Tòa án nhân dân

THTP

Tình hình tội phạm

TP.HCM


miền Đông Nam Bộ với tỷ lệ tội này trên phạm vi toàn quốc từ năm 2007
đến năm 2017 ............................................................................................... 4
Bảng 2.4. So sánh hệ số của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên dân số của
miền địa bàn miền Đông Nam bộ và trên toàn quốc trong giai đoạn từ
năm 2007 đến năm 2017 .............................................................................. 5
Bảng 2.5. Tỷ lệ số vụ, số bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn
miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và trên phạm vi
toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017 ............................... 6
Bảng 2.6. Số vụ, số bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định trên
diện tích, dân số của miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ và Tây
Nguyên từ năm 2007 đến năm 2017 ............................................................ 7
Bảng 2.7. Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ năm 2007 đến năm
2017 của miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ và Tây Nguyên xác
định trên cơ sở yếu tố dân cư và diện tích ................................................... 8
Bảng 2.8. Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tính toán trên số
dân cư của các tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ .......................................... 9
Bảng 2.9. Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tính toán trên
cơ sở diện tích của các tỉnh, thành trên địa bàn miền Đông Nam Bộ ......... 10
Bảng 2.10. Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được tính toán trên
cơ sở kết hợp yếu tố dân cư và diện tích của các tỉnh, thành trên địa bàn
miền Đông Nam Bộ ..................................................................................... 11
Bảng 2.11. Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền
Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2017 xét theo giới tính, quốc tịch
và dân tộc của người phạm tội ................................................................... 12


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1.

Thực trạng của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn

Cơ cấu của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền
Đông Nam Bộ xét theo nghề nghiệp của người phạm tội .................... 19

Biểu đồ 2.8.

Thống kê một số nguyên nhân người bị hại bị lừa dối trong các vụ
lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông Nam bộ từ năm
2007 đến năm 2017 ............................................................................... 20

Biểu đồ 2.9.

Tỷ lệ số vụ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức trên trên
địa bàn miền Đông Nam bộ từ năm 2007 đến năm 2017 ..................... 21


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Miền Đông Nam Bộ gồm 6 tỉnh, thành phố là thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây
Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu. Do miền Đông Nam
Bộ có vị trí địa thế chính trị và an ninh quốc phòng quan trọng hàng đầu ở khu vực
phía Nam Việt Nam; có hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông vận tải và
thông tin liên lạc phát triển tốt nên miền Đông Nam Bộ đã trở thành trung tâm quan
trọng của nền kinh tế cả nước, đóng vai trò là cửa ngõ kinh tế và cầu nối Việt Nam
với thế giới. Trung bình mỗi năm, miền Đông Nam Bộ chiếm 38% GDP, đóng góp
gần 60% ngân sách quốc gia, GDP tính theo đầu người cao gần gấp 2,5 lần mức bình
quân cả nước [117]. Bên cạnh đó, các tỉnh, thành thuộc lõi tứ giác kinh tế trọng điểm
phía Nam đều nằm trên địa bàn miền Đông Nam Bộ bao gồm thành phố Hồ Chí
Minh, tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, tập trung nhiều khu công
nghiệp hoạt động với quy mô lớn. Những tỉnh, thành này cũng là những địa phương
thu hút đầu tư nước ngoài mạnh nhất so với cả nước. Cũng chính vì vậy, miền Đông

ra trên địa bàn miền Đông Nam Bộ vẫn có những diễn biến phức tạp và liên tục gia
tăng. Mặt khác, cuộc sống luôn vận động, thay đổi kéo theo sự vận động và thay đổi
của các hiện tượng xã hội trong đó có tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội
LĐCĐTS nói riêng. Đối vấn đề này, miền Đông Nam Bộ cũng không phải là ngoại lệ.
Hơn thế nữa, tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội LĐCĐTS nói riêng không
chỉ là hiện tượng xã hội, hiện tượng mang tính lịch sử cụ thể, tính pháp lý mà còn mang
tính không gian và thời gian hay còn gọi là tính “địa lý học của tội phạm”. Do vậy,
muốn phòng ngừa hiệu quả đối với tội này thì cần phải làm sáng tỏ những nguyên nhân
và điều kiện làm nảy sinh tình hình tội LĐCĐTS, tìm hiểu những nguyên nhân điều
kiện bị quyết định bởi “địa bàn” cụ thể; tìm ra những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại
trong công tác phòng chống tội LĐCĐTS trên địa bàn miền Đông Nam Bộ để xây
dựng những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội này là một
đòi hỏi hết sức cấp bách, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống
tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên
địa bàn miền Đông Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”.

2


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tình hình, nguyên nhân điều kiện của tội LĐCĐTS trên
địa bàn miền Đông Nam Bộ, làm rõ những ưu điểm, những tồn tại trong hoạt động
phòng ngừa tội này và dự báo mang tính khoa học, luận án xây dựng hệ thống các
giải pháp tăng cường phòng ngừa khả thi nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội
LĐCĐTS trên địa bàn miền Đông Nam Bộ trong thời gian tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đã đặt ra, luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Thu thập tài liệu, nghiên cứu, phân tích, khái quát tổng quan tình hình nghiên

– Vũng Tàu, tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước và tỉnh Tây Ninh.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường lối đổi
mới đất nước, về cải cách tư pháp, về phòng ngừa tội phạm.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tùy thuộc vào khách thể và đối tượng nghiên
cứu trong từng chương, mục mà luận án còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
cụ thể như phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, so sánh, tổng
hợp, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, phương
pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp tọa đàm, tham khảo ý kiến chuyên gia.
Bên cạnh đó, ngoài việc sử dụng phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu từng
chương, mục, tác giả còn kết hợp chặt chẽ các phương pháp trong quá trình thực
hiện toàn bộ nội dung luận án để đạt được mục đích nghiên cứu. Cụ thể:
- Chương 1- Tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương
pháp nghiên cứu tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương
pháp lịch sử để đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, tìm ra những tư
tưởng, quan điểm phù hợp, cũng như những kinh nghiệm có thể kế thừa để định
hướng và phát triển đối với đề tài.
- Chương 2 và Chương 3 của luận án, tác giả chủ yếu sử dụng các phương
pháp thống kê; phân tích; tổng hợp; so sánh; hệ thống hóa, phương pháp chuyên gia,

4


điều tra xã hội học, phương pháp nghiên cứu điển hình để làm rõ tình hình cũng như
làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội LĐCĐTS trên địa bàn miền ĐNB
trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2017.


bộ về phòng ngừa tội phạm từ đó xây dựng các giải pháp phòng ngừa tội LĐCĐTS
mang tính khả thi, khoa học phù hợp với xu thế vận động và phát triển của địa bàn
miền ĐNB.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận
về phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung, tội LĐCĐTS nói riêng. Luận án có thể
được sử dụng là tài liệu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu, tham khảo trong lĩnh vực
tội phạm học và khoa học luật hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể sử dụng để các cơ quan, tổ chức, các doanh nghiệp và cá nhân
tham khảo xây dựng và áp dụng và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả tình hình
LĐCĐTS địa bàn miền ĐNB trong thời gian tới. Đồng thời, kết quả nghiên cứu của
luận án có thể là tài liệu tham khảo cho các cơ quan lập pháp xem xét, sửa đổi, bổ
sung các quy định của pháp luật hình sự về tội LĐCĐTS.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục,
luận án được kết cấu gồm 4 chương, cụ thể như sau:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn miền Đông
Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2017
Chương 3. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản trên địa bàn miền Đông Nam Bộ từ năm 2007 đến năm 2017
Chương 4. Hệ thống các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản trong thời gian tới.

6




7


phương pháp tiếp cận và nghiên cứu tình hình tội phạm trong phạm vi lãnh thổ của
một nước. Với công trình này, tội phạm học Mác-xít chính thức được hình thành.
Theo chủ nghĩa duy vật Mác-xít, tội phạm là hiện tượng xã hội gắn bó với
thực tế khách quan mà trong đó con người sống và làm việc trong một xã hội nhất
định. Trên quan điểm này, công trình “Tình hình tội phạm ở Liên Xô – Những
khuynh h ớng cơ bản và tính quy luật, đề cập đến tình hình tội phạm ở Liên Xô
trong 70 năm tồn tại Nhà n ớc Xô Viết, B.B. Luneev (1991) [159] đánh giá diễn
biến tình hình tội phạm phải chú ý phương pháp sử dụng chất liệu nghiên cứu và
phương pháp đánh giá để đảm bảo tính khả thi và sát với quy luật vận động của tình
hình tội phạm trong mọi trường hợp.
Ở Việt Nam, đến giữa những năm 80 của Thế kỷ XIX mới có một số công
trình, đề tài khoa học, sách chuyên khảo Tội phạm học đề cập đến tình hình tội
phạm như “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội phạm và đấu tranh chống tội
phạm”, Viện Nhà nước và pháp luật [133]; “Tình hình t i phạm tội giai đoạn 1980
– 1985”, Viện Khoa học Công an, Bộ nội vụ [134]. Kể từ năm 1993 đến nay, cùng
với sự phát triển của ngành Tội phạm học, nhiều công trình có giá trị khoa học cao
đặt nền móng cho Tội phạm học Việt Nam phát triển. Những công trình này đã
nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung của Tội phạm học, trong đó
bao gồm khái niệm tình hình tội phạm. Có thể kể đến một số công trình như: Giáo
trình “Tội phạm học”, GS.TS. Võ Khánh Vinh, Nxb CAND, năm 1996, 2008,
2011, 2013 [141]; “Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, GS.TS.
Nguyễn Xuân Yêm [153]; “Một số vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt
Nam” của PGS. TS Phạm Văn Tỉnh - NXB CAND [111]; giáo trình “Tội phạm
học” của trường Đại học Luật Hà Nội [26]; giáo trình “Tội phạm học” của GS, TS
Đỗ Ngọc Quang, năm 2012 [78]; bộ sách “Tội phạm học Việt Nam” của tập thể tác
giả do GS.TS Trần Đại Quang chỉ đạo biên soạn [77]; bài báo khoa học “Các khái

của xã hội… Tuy nhiên tất cả các trường phái này đều chưa khám phá được nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội phạm. Đây cũng chính là cơ sở để khẳng định
chỉ có Tội phạm học Mác – xít, tội phạm học lấy triết học Mác – Lê nin, phương
pháp luận Mác -xít làm nền tảng mới mang lại cái nhìn đầy đủ, khách quan, toàn
diện về vấn đề này.
Trong các tác phẩm “Những bức th từ Vúp- pơ -tan”, “Tình cảnh giai cấp
lao động ở Anh”,“Tình cảnh n ớc Anh. Thế kỷ M ời tám, “Những cuộc tranh luận
của Hội nghị dân biểu khóa 6 của tỉnh Ranh” C. Mác và Ăng- ghen [160] đã phân
tích những nguyên nhân cơ bản làm phát sinh tội phạm và nhấn mạnh đến các yếu

9


tố nghèo khổ, thiếu thốn, bất bình đẳng, sự ngu dân, sự vô trách nhiệm gắn liền với
chế độ xã hội tư bản đã “biến những con người bị tước mất bánh mì thành những
con người bị tước mất đạo đức nữa”, “khiến đàn ông thì đầu trộm đuôi cướp, đàn bà
thì ăn cắp và mãi dâm”, đây chính là nguồn gốc phát sinh tội phạm. Kế thừa tư
tưởng của Mác, Paul Lafargue (1890), cũng trong tác phẩm“Die Kriminalitaet in
Frankreich von 1840 bis 1886 – Dynamik und Ursachen”, (Tình hình tội phạm, ở
Pháp từ năm 1840 đến 1886- Động thái và nguyên nhân) [177] đã luận giải nguyên
nhân tội phạm dưới góc độ xem xét tội phạm là một hiện tượng xã hội, có tính lịch
sử. Quan điểm của Paul Lafargue là phải đi tìm nguyên nhân của tình hình tội phạm
không phải trong con người mà phải tìm ở môi trường nơi mà con người đó sinh
sống và trong xã hội nơi con người đó hoạt động.
Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, trong giáo trình “Tội
phạm học xã hội chủ nghĩa” của E. Buchholz, J. Lekschas và D. Hartmann [167]
xác định nguyên nhân của THTP là “tổng hợp các hiện tượng có mối tác động qua
lại và thâm nhập lẫn nhau; các hiện tượng này là phổ biến và được lặp đi lặp lại
nhiều lần trong các mối quan hệ luôn luôn thay đổi”
Các công trình chuyên khảo “Tính nhân quả trong tội phạm học” (1968) –

lý luận” của PGS. TS Phạm Văn Tỉnh [109], sách chuyên khảo “Tội phạm học Việt
Nam” tập 1 do GS. TS Trần Đại Quang chỉ đạo biên soạn [77]. Trong số các công
trình nghiên cứu về nguyên nhân và điều kiện tình hình tội phạm phải kể đến Giáo
trình tội phạm học” của GS. TS Võ Khánh Vinh, trong giáo trình này ông đã chỉ rõ
việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm phải dựa trên cơ
sở đúc kết của triết học, tâm lý học trên cơ sở xem xét cơ chế tâm lý – xã hội của
hành vi phạm tội của con người. Việc nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội phạm chỉ mang lại kết quả hữu ích khi làm rõ được các yếu tố làm phát sinh
tình hình tội phạm. Theo ông, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm
được hiểu là hệ thống các hiện tượng xã hội tiêu cực trong hình thái kinh tế - xã hội
tương ứng, quyết định sự ra đời của tình hình tội phạm như là hậu quả của mình.
Đây cũng chính là khái niệm mà tác giả sẽ kế thừa và triển khai khi nghiên cứu
Chương 3 của đề tài luận án.

1.1.3. Phòng ngừa tình hình tội phạm
Phòng ngừa tình hình tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của
tội phạm học. Trong tác phẩm“Gia đình thần th nh”[160], C. Mác đã chỉ ra sự cần

11


thiết phải “tiêu diệt nguồn gốc chống xã hội của tội phạm”. Nhưng theo ông, “người
làm luật thông thái phải phòng ngừa tội phạm làm sao để khỏi phải trừng phạt
chúng” bởi sự tàn bạo, những hình phạt đau đớn và sự xỉ nhục con người không bao
giờ làm giảm được tội phạm. Mác – Ăng ghen đã kết luận “Không thể loại trừ tội
phạm và các vi phạm an ninh xã hội bằng con đường cải cách những mặt riêng rẽ
nào của đời sống xã hội, mà chỉ bằng con đường thay đổi toàn bộ hệ thống các quan
hệ xã hội, cải tạo những quan hệ xã hội bóc lột thành quan hệ xã hội cộng sản chủ
nghĩa. Phát triển tư tưởng của Mác- Ăng ghen, khi đề cập đến vấn đề tội phạm trong
xã hội Lê-nin đã chỉ rõ “Chúng ta biết rằng, nguyên nhân xã hội cơ bản của tội

gồm có phòng ngừa cơ bản, phát sinh và tái phạm. Đây là một trong những quan điểm
mà tác giả luận án tiếp thu và triển khai trong chương 3 của Luận án.
Đối với các công trình nghiên cứu trong nước, phòng ngừa tình hình tội phạm
luôn được xác định là nội dung đặc biệt quan trọng và được các tác giả làm rõ trong
tất cả các công trình nghiên cứu về lý luận Tội phạm học như các cuốn giáo trình
“Tội phạm học”, GS.TS. Võ Khánh Vinh, năm 1996, 2006, 2008, 2011, 2013
[141]; Giáo trình “Tội phạm học” của trường Đại học Luật Hà Nội; Giáo trình “Tội
phạm học” của GS, TS Đỗ Ngọc Quang [78]; “Giáo trình tội phạm học” của Học
viện Cảnh sát nhân dân, năm 2002, do PGS.TS Phạm Tuấn Bình chủ biên [5];
cuốn“Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” [38]; “Tội phạm
học hiện đại và phòng ngừa tội phạm” [113];“Một số vấn đề lý luận về tình hình tội
phạm ở Việt Nam” [111]; bài viết “Tội phạm học Việt Nam và Phòng ngừa tội
phạm” của PGS. TS Phạm Văn Tỉnh [110]; bài viết “Kh i niệm phòng ngừa tội
phạm d ới góc độ tội phạm học” của TS Trịnh Tiến Việt [138, tr185-199]; bài
“Đ nh gi hiệu quả phòng ngừa tội phạm - Một số vấn đề lý luận” của PGS. TS
Nguyễn Thị Phương Hoa [43]; bộ sách “Tội phạm học Việt Nam”cuốn “Tội phạm
học Đại c ơng” do GS. TS Trần Đại Quang chỉ đạo biên soạn [77]…
Các công trình này với nhiều cung bậc tri thức các tác giả đã lý giải tội phạm
là một hiện tượng xã hội có nguồn gốc xã hội, có bản chất giai cấp vì thế để phòng
ngừa tội phạm phải tiến hành thường xuyên, liên tục bằng tất cả các biện pháp của
Nhà nước, biện pháp xã hội. Các tác giả đưa ra khái niệm phòng ngừa tình hình tội
phạm, theo đó có thể khái quát, phòng ngừa tình hình tội phạm có thể hiểu là không
để cho bất cứ thành viên nào của xã hội phải bị xử lý bằng pháp luật; hay hiểu rộng

13


hơn là phòng ngừa tình hình tội phạm một mặt là thủ tiêu nguyên nhân và điều kiện
phạm tội, không để cho tội phạm xảy ra; mặt khác bằng mọi biện pháp ngăn chặn
tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội,



lệch hệ thống tính toán hoặc đưa ra những tính toán sai lệch để chiếm đoạt hoặc với
mục đích che đậy các hành vi lừa đảo. Đây là những hình thức lừa đảo chiếm đoạt tài
sản xảy ra nhiều ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ trong thời gian vừa qua. Do đó, đây
là một công trình rất hữu ích cho tác giả khi nghiên cứu luận án.
Ở trong nước, dưới góc độ luật học, tội LĐCĐTS đã được đề cập đến trong
nhiều công trình bình luận khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo như “Bình luận
khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam, Phần các tội phạm”, Nhà xuất bản CAND, năm
2001 do TS Phùng Thế Vắc chủ biên [130]; “Bình luận khoa học Bộ Luật hình sự
Việt Nam- Phần các tội phạm” của tác giả Đinh Văn Quế [81];“Bình luận khoa học
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, Phần các tội
phạm”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2010 do TS Nguyễn Đức Mai chủ
biên [61];“Gi o trình Luật hình sự Việt Nam”, phần các tội phạm do TS Cao Thị
Oanh chủ biên, năm 2010 [71]; “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam”, phần các tội
phạm của các trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, [28]; “Gi o trình Luật
hình sự Việt Nam” phần các tội phạm, của Học viện Cảnh sát nhân dân [47]; giáo
trình “Luật hình sự Việt Nam”[139,140] do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên; cuốn
“Tìm hiểu và bình luận các tội xâm phạm sở hữu” do Nguyễn Ngọc Điệp chủ biên
[33]; Cuốn sách “Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự 1999 đ ợc sửa
đổi, bổ sung năm 2009” năm 2010, chủ biên PGS.TS Phạm Việt và PGS.TS Trần
Quốc Thắng, [136]; cuốn “Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự năm
1999 đ ợc sửa đổi bổ sung năm 2009” của tác giả Nguyễn Mai Bộ, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, năm 2010 [9].
Ở phạm vi các luận án, luận văn và trong các bài báo khoa học hẹp hơn, tội
LĐCĐTS được nghiên cứu trong bài“Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình
sự năm 1999”, của tác giả Trương Quang Vinh [146]; bài “Một số vấn đề về động
cơ phạm tội trong các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Phạm Tài Tuệ [125]; bài
“Hoàn thiện c c qui định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu”của tác
giả Nguyễn Ngọc Anh [2]; bài “Về áp dụng “Tình tiết định khung”, “Tình tiết

LĐCĐTS trong lĩnh vực ngân hàng của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật
tự quản lý kinh tế và chức vụ Công an Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng, giải
ph p” của tác giả Ngô Thanh Sơn [96]; Đề tài khoa học cơ sở “Hoạt động phòng
ngừa, điều tra tội phạm LĐCĐTS của lực l ợng Cảnh s t điều tra tội phạm về trật tự
xã hội của Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả Đậu Trung Thành, công bố
năm 2012 [101].

16


Tội LĐCĐTS cũng được nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu khi thực
hiện luận án tiến sĩ như: “An Investigation of Financial Fraud in Online Banking
and Card Payment Systems in the UK and China” (Một điều tra về lừa đảo tài
chính qua ngân hàng trực tuyến và hệ thống thanh toán qua thẻ ở Trung Quốc và
V ơng quốc Anh) của Yan Sun, công bố năm 2010 [178];“Hoạt động của lực
l ợng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
của Phạm Quang Phúc [75]; luận án“Điều tra tội phạm chiếm đoạt tài sản Nhà
n ớc” của Phạm Xuân Định; luận án“Đấu tranh phòng, chống tội LĐCĐTS ở Việt
Nam” của tác giả Lê Đăng Doanh, năm 2008 [23]; luận án “Điều tra tội phạm lừa
đảo chiếm đảo chiếm đoạt tài sản của công dân có yếu tố đồng phạm ở CHDCND
Lào theo chức năng của CSĐT” của Chít Vị Xay Kẹo Ma Ni Vông [18]; luận án
“Đấu tranh phòng chống tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực xuất khẩu
lao động của lực l ợng cảnh s t điều tra” của tác giả Trần Anh Tuấn [124].
Ở phạm vi luận văn thạc sĩ và các bài viết, tội LĐCĐTS được nghiên cứu
trong nhiều công trình như: luận văn “Điều tra tội lừa đảo chiếm đoạt tài của công
dân theo chức năng của lực l ợng Cảnh s t điều tra tại thành phố Viên Chăn n ớc
Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” của tác giả Vi-say [149]; luận văn “Đấu tranh
phòng chống tội lừa đảo theo Luật hình sự Việt Nam”của tác giả Nguyễn Sỹ Lý
[59]; luận văn “Phát hiện, điều tra tội phạm lừa đảo trong việc thực hiện Luật thuế
giá trị gia tăng của lực l ợng Cảnh sát kinh tế” của Phan Quang Phương [76];“Điều


1.2.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản dưới góc độ Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Dưới góc độ tội phạm học, tội LĐCĐTS được đề cập trong nhiều công trình
nghiên cứu như cuốn sách“Trend in cybercrime: The Dark side of the internet” của
Hoar.S,Westlaw, 2005 (Xu h ớng tội phạm mạng: mặt trái của Internet) [169] đã
đề cập đến tình hình tội LĐCĐTS sản qua mạng internet. Cuốn “Cyber crime and
business: How not to caught by the online phisherman” (Tạm dịch: Tội phạm mạng
và kinh doanh: làm thế nào để không bị mắc bẫy những kẻ câu thông tin trên mạng)
năm 2010 của Nykodym.N., Kahle-Piasecki, L., Ariss, S., &Toussaint, T [175], đã
đi sâu phân tích tình hình tội LĐCĐTS sản qua mạng internet ở Mỹ. Tổng hợp công
trình nghiên cứu chuyên về tội phạm học “Handbook on crime” (Tạm dịch: Cẩm
nang về tội phạm) của tác giả Fiona Brookman, Nxb. Willan, 2010 [168] đã tổng
hợp các kết quả nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu của nhiều nhà tội phạm
học nổi tiếng trên thế giới. Trong đó có các công trình “Theft and fraud by

18


employees” (Trộm cắp và lừa đảo của nhân viên) của các tác giả Martin Gill và
Janice Goldstraw-White; Công trình “Credit fraud” (Lừa đảo tín dụng) của Michael
Levi; Công trình “Identity theft and fraud” (Trộm cắp thông tin cá nhân và lừa đảo)
của tác giả Natasha Semmens; Công trình “Cybercrime” (Tội phạm mạng) của
Matthew Williams. Trong các công trình này, các tác giả đã trình bày khái quát
nguyên nhân và điều kiện của từng nhóm tội phạm, trong đó có tội LĐCĐTS trong
từng lĩnh vực cụ thể và đưa ra hệ thống các giải pháp phòng, chống đối với tội phạm
này trong từng lĩnh vực. Cuốn Tội phạm kinh tế thời mở cửa” do GS.TS Nguyễn
Xuân Yêm và PGS.TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên [152] đã mô tả những vấn đề cơ
bản về tình hình tội LĐCĐTS ở nước ta trong giai đoạn 1990 - 2001. Trong công
trình“Tội phạm học Việt Nam, Tập 2, Tội phạm học chuyên ngành” do GS.TS Trần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status