1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và nhân dân ta một di sản tư
tưởng, lý luận vô cùng to lớn và sâu sắc. Tư tưởng của Người đã trở thành nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam,
là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta. Tư tưởng đó đã dìu dắt chúng ta
trên những chặng đường xây dựng và phát triển đất nước, là ngọn cờ dẫn dắt đến
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, trở thành sức mạnh tổng hợp và đoàn
kết dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta hôm nay và mai sau.
Trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người, có tư tưởng về văn hóa.
Tư tưởng văn hóa của Người là một trong nhiều lĩnh vực phong phú và sâu
sắc nhất, có giá trị bền vững. Đây là lĩnh vực mà Hồ Chí Minh đã có đóng
góp quý giá cho nhân loại, Người đã được thế giới suy tôn là "Nhà văn hóa
lớn", "tiêu biểu cho nền văn hóa tương lai". Không phải ngẫu nhiên mà
UNESCO đã ghi nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh hai danh hiệu cao quý: "Anh
hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam". Bởi, Hồ
Chí Minh mang cốt cách dân tộc mình tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Cùng với trí tuệ và tinh thần cách mạng, Hồ Chí Minh đã đấu tranh không mệt
mỏi, hy sinh cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam và sự
tiến bộ, văn minh nhân loại. Là danh nhân văn hóa kiệt xuất, Hồ Chí Minh
tượng trưng cao đẹp cho cốt cách văn hóa dân tộc, thống nhất với các yếu tố
văn hóa nhân loại. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ đúng đắn về cốt cách văn hóa
dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã kết tinh những giá trị ấy với tinh hoa văn
hóa nhân loại trên những phương diện khác nhau. Đó là văn hóa tình nghĩa,
tinh thần nhân văn Việt Nam, sự khoan dung hòa hợp, lối sống và cách ứng
xử. Hồ Chí Minh đã có một sự kết hợp hài hòa, nhuần nhị đã có cách giải
quyết một cách biện chứng.
xây dựng con người có văn hóa, có đạo đức có trí tuệ, điều mà từ trước tới
3
nay chúng ta ít quan tâm. Coi xây dựng kinh tế là trung tâm là đúng, nhưng
phải hướng tới văn hóa và mục tiêu cuối cùng là vì mục tiêu văn ihóa, nước
giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Như vậy, văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội. Chúng ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới,
trong đó phải đặc biệt chú ý xây dựng văn hóa, tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế
thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân
chính và phẩm giá con người với trình độ tri thức, đạo đức và thể lực, thẩm
mỹ ngày càng cao.
Với tất cả lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài "Tư tưởng Hồ Chí
Minh về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại và sự vận dụng vào xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay" làm
luận văn tốt nghiệp của mình
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), nhiều đề
tài khoa học xã hội cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được triển khai
nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống. Đặc biệt sau nghị quyết
01/NQ-TW về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, nhiều đề tài cấp Nhà
nước (KX) đã được triển khai và thực hiện có hiệu quả. Đến Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), đã thực hiện 10 chương trình nghiên
cứu khoa học với sự chỉ đạo của Hội đồng lý luận Trung ương.
Cùng với thời gian và tiến trình đổi mới đất nước, cho đến nay, đã có
nhiều cách tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh. Công trình nghiên cứu bài viết của
- Tác phẩm "Hồ Chí Minh - văn hóa và đổi mới", của hai tác giả Đinh
Xuân Lâm và Bùi Đình Phong, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998.
5
Trong "Hồ Chí Minh về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính
dân tộc, khoa học, đại chúng", PGS,TS. Bùi Đình Phong đã đề cập tính dân
tộc trong mối quan hệ giữa tính dân tộc với tính khoa học và tính đại chúng Ba tính chất cơ bản của nền văn hóa mới Việt Nam sau 1945, mà trong đó văn
hóa nghệ thuật là một lĩnh vực đặc thù; và đi đến khẳng định: Hồ Chí Minh
luôn nhấn mạnh về "cái vốn", "cốt cách" và "đặc tính" của nền văn nghệ dân tộc.
- GS,TS. Đỗ Huy: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển
văn hóa mới ở Việt Nam", Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.
Tác giả đã đề cập, để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại cần nghiên cứu các tư tưởng văn hóa của Chủ tịch Hồ
Chí Minh, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
- Thành Duy: "Cơ sở khoa học và nền tảng văn hóa của tư tưởng Hồ
Chí Minh", Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.
Tác giả đã tìm hiểu hai mặt: Nền tảng văn hóa và cơ sở khoa học của
tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh trong mối quan hệ hữu cơ để tìm ra hạt nhân
cốt lõi trong văn hóa tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả đã nghiên cứu một vài
khía cạnh trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trên góc độ văn hóa và khoa học để
người đọc thấy rõ hơn tầm vóc Hồ Chí Minh không chỉ với tư cách là anh
hùng giải phóng dân tộc mà còn là nói đến với tư cách là nhà văn hóa lớn của
thế giới, với nhiều sáng tạo văn hóa có giá trị thời đại.
- Đỗ Huy: "Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh", Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1997.
Tác giả đã đặt vấn đề phát triển văn hóa Việt Nam theo tư tưởng Hồ
Chí Minh, trình bày các vấn đề: Phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh về
chiến lược xây dựng nền văn hóa mới, tư tưởng văn hóa chính trị, văn hóa đạo
qua chính tác phẩm của Người để chúng ta thấy, mục đích văn chương, báo
chí của chủ tịch Hồ Chí Minh là phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân,
và đã trở thành nguyên tắc rường cột cho nền văn hóa Việt Nam. Chủ tịch
Hồ Chí Minh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và xây dựng nền văn
7
hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển trong sự nghiệp đổi mới
ngày nay.
- Lê Xuân Vũ: "Trong ánh sáng tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh",
Nxb Văn học, Hà Nội, 2003.
Tác giả đã tập hợp những bài viết của những tác giả phản ánh thực
tiễn văn hóa Việt Nam, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường
lối của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trong điều kiện cụ thể, góp
phần tích cực vào xây dựng văn hóa mới.
- Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu bàn về bản
sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập trên nhiều lĩnh vực
cụ thể, như: "Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa", do Hồ Sĩ Vịnh chủ biên;
"Văn hóa Việt Nam một chặng đường", do Hồ Sĩ Vịnh và Huỳnh Khái Vinh
chủ biên; Thành Duy trong "Tư tưởng Hồ Chí Minh với bản sắc văn hóa dân
tộc"; hoặc viết về Hồ Chí Minh như là một biểu tượng của việc giữ gìn và phát
huy bản sắc của dân tộc, như "Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc" của Huy Cận.
Các luận văn:
+ "Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vận dụng vào xây dựng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong sự nghiệp đổi mới"
của Vũ Đình Hướng, Luận văn cử nhân, 2003.
+ "Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về tính dân tộc của văn hóa
nghệ thuật vào xây dựng nền văn hóa nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc ở
nước ta hiện nay", của Nguyễn Thị Thu Hiền, Luận văn thạc sĩ, 2008.
Minh về "Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại" để vận dụng vào xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay như là một
công trình nghiên cứu có tính hệ thống và chuyên biệt. Trên cơ sở kế thừa kết
quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn sẽ đi sâu, góp phần
làm rõ hơn nữa quan điểm của Người về vấn đề này.
9
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn có mục đích trình bày một cách tổng quát những quan điểm
của Hồ Chí Minh về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại và sự vận dụng vào xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Luận văn làm rõ:
- Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn bắc sắc văn
hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
- Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
- Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại vào xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã trình bày ở trên, luận văn
xác định đối tượng nghiên cứu là tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, quá trình vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta trong xây dựng, phát triển văn hóa nước ta.
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa là một vấn đề rất rộng. Luận văn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy các bộ môn: Văn hóa, lịch sử, đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh...
ở các nhà trường, làm tài liệu cho các đề tài nghiên cứu sau này.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
11
Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC
VÀ TIẾP THU TINH HOA VĂN HÓA NHÂN LOẠI
1.1. KHÁI NIỆM VĂN HÓA, BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC, QUAN NIỆM
VỀ GIAO LƯU VÀ TIẾP THU VĂN HÓA GIỮA CÁC DÂN TỘC
1.1.1. Khái niệm văn hóa
1.1.1.1 Quan niệm của các học giả về văn hóa
Văn hóa là khái niệm có nội hàm hết sức phóng phú. Mọi sự vật, hiện
tượng, mọi quá trình trong thế giới vật chất lẫn tinh thần có mối quan hệ với
con người, tác động và ảnh hưởng trở lại con người đều có khía cạnh văn hóa
của nó. Người ta có thể hiểu văn hóa như một hoạt động sáng tạo của con
người, nhưng cũng có thể hiểu văn hóa như lối sống, thái độ ứng xử, lại có thể
hiểu văn hóa như trình độ học vấn…
Bằng những cách tiếp cận khác nhau, gắn với nhiều khía cạnh của cuộc
sống, hiện nay, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa, phản ánh văn hóa
"hữu thể" (tangible) và văn hóa "vô hình" (intangible).
Văn hóa hữu thể như đình, đền, chùa, miếu, lăng mộ, nhà sàn…
Văn hóa vô hình bao gồm các biểu hiện tượng trưng và "không sờ
tâm linh nghệ thuật... Như vậy, văn hóa chỉ là một mặt, chứ không phải là
toàn bộ đời sống xã hội loài người.
- Văn hóa được hiểu theo nghĩa hẹp nhất, thường dùng hằng ngày - đó
là trình độ học vấn của con người.
1.1.1.2. Quan niệm Hồ Chí Minh về văn hóa
Nghiên cứu tư tưởng văn hóa ở Hồ Chí Minh, chúng ta thấy, Người đã
có quan niệm văn hóa theo nhiều nghĩa khác nhau. Tùy từng thời kỳ, Người
sử dụng khái niệm văn hóa với những nội hàm rộng hẹp khác nhau. Nhưng
khi bắt tay xây dựng nền văn hóa mới, Người đã coi văn hóa là đời sống tinh
14
thần, là thuộc về kiến trúc thượng tầng, để có sự phân biệt tương đối với các
mặt khác nhau của đời sống xã hội
Trong "Mục đọc sách" ở phần cuối tập "Nhật ký trong tù" (năm 19421943), Hồ Chí Minh đã nêu ra một định nghĩa về văn hóa đầy đủ nhất: "Vì lẽ
sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa. Văn hóa là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời
sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" [40, tr. 431].
Người còn ghi thêm:
Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc
1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
3. Xây dựng xã hội: Mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc
lợi của nhân dân trong xã hội.
4. Xây dựng chính trị: dân quyền.
đã vạch ra một đường lối mới: Phải tiến hành cách mạng chính trị trước mà cụ
thể ở Việt Nam là tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính
quyền, để giải phóng chính trị, giải phóng xã hội, từ đó giải phóng văn hóa
mở đường cho văn hóa phát triển.
- Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho xây dựng và phát triển văn hóa.
Cùng với việc xác định bốn vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa
đều phải coi trọng ngang nhau, Hồ Chí Minh vẫn chỉ rõ kinh tế thuộc về cơ sở
hạ tầng, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa, xây dựng kiến trúc thượng
tầng. Từ đó, Người nêu ra luận điểm phải xây dựng kinh tế, xây dựng cơ sở
hạ tầng để có điều kiện xây dựng và phát triển văn hóa.
16
Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng, nhưng cơ sở hạ tầng của xã hội có
kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được và có đủ điều kiện phát triển được.
"Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa.
Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế? Tục ngữ có câu: Có thực mới
vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước… Phát triển kinh tế và văn hóa để
nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân ta" [47, tr. 59].
- Văn hóa không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.
Văn hóa phải thực hiện nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển
kinh tế.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
"Văn hóa, nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài,
mà phải ở trong kinh tế chính trị" [43, tr. 368-369].
Trong tư tưởng văn hóa, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến bản chất của
một hiện tượng văn hóa đó chính là khả năng sáng tạo của nhân dân lao động.
Khi khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo văn hóa, là ngọn
nguồn của mọi giá trị văn hóa, Người nhắc nhở cần tạo cho văn hóa một động
Trên bình diện xã hội, động lực văn hóa đối với sự phát triển xã hội
thể hiện ở vai trò của bản sắc văn hóa đối với sự cố kết cộng đồng, tạo nên
sức mạnh tổng hợp, nội sinh của mỗi dân tộc. Trong quá trình tồn tại và phát
triển, mỗi cộng đồng dân tộc đều tạo dựng nên cho mình những giá trị tinh
thần nhất định. Những giá trị đó là sự phản ánh về mặt tinh thần quá trình tồn
tại và phát triển của mỗi dân tộc. Đến lượt mình, những giá trị đó lại trở thành
định hướng giá trị, thành động lực của quá trình dựng nước và giữ nước của
dân tộc, các quốc gia.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, như Đảng ta đã khẳng định tại Hội
nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII:
Bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng
đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn
18
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng
nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức gắn kết cá
nhân với gia đình - làng - xã - Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung,
trọng tình nghĩa, đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự
tinh tế trong ứng xử tính giản dị trong lối sống... Bản sắc văn hóa
dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân
tộc độc đáo [16, tr. 56].
Bản sắc đó chi phối toàn bộ đời sống của cộng đồng dân tộc Việt Nam,
trải qua mấy nghìn năm lịch sử, nó được biểu hiện rõ rệt nhất trước những
thách thức của lịch sử đối với vận mệnh dân tộc. Bản sắc văn hóa Việt Nam
đã tạo nên sự tồn tại của dân tộc Việt Nam và giúp cho cộng đồng dân tộc
tránh được âm mưu đồng hóa của mọi kẻ thù xâm lược trong lịch sử. Chính
hệ giá trị cốt lõi này bản sắc văn hóa dân tộc - là "bộ lọc" và hệ quy chiếu để
ông cha chúng ta lựa chọn, tiếp thu nhiều giá trị mới qua nhiều cuộc giao lưu,
văn hóa đó là ngoại sinh. Vì vậy, có thể nói, giao lưu văn hóa vừa là kết quả
của trao đổi, vừa là chính bản thân sự trao đổi. Có hiểu như vậy mới thấy hết
tầm quan trọng của giao lưu văn hóa trong lịch sử nhân loại. Nó là một động
lực cho sự phát triển của lịch sử.
1.2. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIỮ GÌN
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ TIẾP THU TINH HOA VĂN HÓA NHÂN LOẠI
1.2.1. Văn hóa dân tộc cội rễ của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
Như một dòng chảy liên tục từ đời này sang đời khác, như những mạch
lưu thông lan tỏa và thấm sâu trong từng thớ đất của ông cha để lại, văn hóa
dân tộc luôn là cội rễ của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình có truyền thống nhà nho tại
một vùng đất xứ Nghệ đầy ắp truyền thống văn hóa. Ngay từ lúc nhỏ, Hồ Chí
Minh đã được nuôi dưỡng trong một gia đình - quê hương xứ Nghệ; Người
được tắm mình trong bao làn điệu dân ca, điệu vè, hát ví, hát giặm. Khi còn
20
thiếu niên, Nguyễn Sinh Cung đã say sưa với những hoạt động văn hóa - văn
nghệ giàu tình cảm quê hương. Cậu bé Cung thường cùng với anh trai và bạn
bè có mặt trong những điệu hát ví, hát phường vải và các buổi hội hè. Hơn
nữa, từ nhỏ, Nguyễn Sinh Cung đã được tắm mát, bao bọc trong sự đầm ấm,
hạnh phúc của gia đình tình cảm nồng nàn, thủy chung của tình làng nghĩa
xóm vẫn vốn là những nét đẹp của truyền thống văn hóa Việt Nam…
Những truyền thống văn hóa do Hồ Chí Minh kết tinh bắt nguồn từ sự
đùm bọc yêu thương của một gia đình nhà nho thanh bạch, ngay từ đầu đã
được hưởng sự giáo dục đúng đắn, chỉ dẫn tận tình của cha mẹ, thầy học và
những người thân trong họ trong làng. Bởi vậy, ở cậu bé, những truyền thống
văn hóa của dân tộc, trước hết lòng yêu nước, cũng được sớm ươm mầm, nảy
quá khứ của Tổ quốc, vì truyền thống tốt đẹp của một nền văn hóa dân tộc với
bao di sản của tổ tiên, Nguyễn Tất Thành đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu
dân, cứu nước.
Hành trang của Người trên bước đường bôn ba là một nền văn hóa tốt
đẹp của quê hương - gia đình - dân tộc. Người đã dùng chính vũ khí văn hóa
dân tộc cao đẹp đó để chống lại thứ văn hóa xấu xa của chủ nghĩa thực dân
xâm lược, với mục tiêu không chỉ để bảo vệ nền văn hóa của dân tộc Việt
Nam mà còn vì sự trường tồn và phát triển của nền văn hóa nhân loại.
1.2.2. Tinh hoa văn hóa nhân loại - nguồn bổ sung, hoàn chỉnh tư
tưởng văn hóa Hồ Chí Minh
Nếu như nền văn hóa dân tộc là cái khởi nguyên, cái cội rễ, thì tinh
hoa văn hóa nhân loại sẽ bổ sung hoàn chỉnh cho tầm cao tư tưởng và nhân
cách Hồ Chí Minh.
Quá trình hoạt động cách mạng và trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh
về văn hóa đã thể hiện một luận điểm rất quan trọng, đó là: Nền văn hóa của
một dân tộc phải là kết quả của sự kết hợp văn hóa dân tộc với tinh hoa văn
hóa nhân loại. Và chính bằng trí tuệ tài năng, đầu óc phê phán tinh tường, sức
22
lao động và bằng cả lý tưởng của mình, Người là biểu tượng của sự tiếp thu
và hòa nhập tinh hoa văn hóa nhân loại.
Hồ Chí Minh được sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước. Ngay
từ thời niên thiếu, Người đã được đào tạo theo lối nho học truyền thống. Người
đọc thuộc nhiều bài trong "Tứ thư", "Ngũ kinh" - những bộ sách kinh điển của
Nho giáo. Người đã từng nói (1923): Tôi sinh ra trong một gia đình nhà nho
Việt Nam... Những thanh niên trong gia đình ấy thường nghiên cứu lý luận
của Khổng Tử, đó không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh
nghiệm đạo đức và sự trang nhã. Về căn bản, chủ nghĩa Khổng Tử là sự bình
hiện điều đó bằng tầm nhìn sâu sắc của mình.
Trong bộ phận cấu thành tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa mới, chủ
nghĩa Mác - Lênin giữ vai trò quan trọng nhất. Khác với các học thuyết khác,
chủ nghĩa Mác- Lênin không chỉ dừng lại ở mưu cầu hạnh phúc cho mọi
người mà con trang bị cho con người phương pháp biện chứng duy vật với tư
cách là công cụ nhận thức khoa học để hành động cách mạng. Tư tưởng Hồ
Chí Minh là trí tuệ của loài người, là sản phẩm văn hóa của nhân loại được
chắt lọc qua nhiều thế hệ.
Nguyễn Ái Quốc tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin là tiếp thu một hệ tư
tưởng hoàn toàn tiến bộ so với các hệ tư tưởng trước đó mà Người đã biết tới.
Tính mới mẻ và sự khác nhau căn bản đó chính là ở chỗ tư tưởng Mác - Lênin
là nguồn sáng hướng dân tộc Việt Nam tới độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
1.3. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIỮ GÌN
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ TIẾP THU TINH HOA VĂN HÓA NHÂN LOẠI
1.3.1. Hồ Chí Minh với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
1.3.1.1. Giữ gìn bản sắc văn hóa - Nhu cầu sinh tồn và phát triển
dân tộc
Văn hóa trước hết là văn hóa của dân tộc. Theo cách tiếp cận đó, văn
hóa Việt Nam trước hết là thành quả mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước
24
kiên cường, sáng tạo đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất đỗi hào hùng của cộng
đồng các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có
thể nói đặc trưng tiêu biểu, khí phách và tâm hồn dân tộc được thể hiện rõ nhất
qua bản sắc văn hóa dân tộc. Từ bản sắc văn hóa dân tộc, người ta còn đi sâu
nghiên cứu để tìm ra điều cốt lõi nhất trong bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
nếu làm cho bản sắc văn hóa dân tộc bị tàn úa đi thì trở thành phản phát triển.
Trong Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa VII), Tổng Bí thư Đỗ Mười đã
nói: Cùng với việc xây dựng và phát triển kinh tế hàng hóa, phải xây dựng và
phát triển văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa với những đặc trưng cơ bản là dân tộc, hiện đại, nhân văn.
1.3.1.2. Nội dung giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
Hồ Chí Minh nhận thức được sâu sắc rằng văn hóa là động lực của sự
nghiệp cách mạng. Văn hóa vừa là vũ khí để chống lại kẻ thù xâm lược, vừa
là động lực thúc đẩy sự tiếp xúc và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, để dân
tộc Việt Nam có thể hòa nhập với thế giới bên ngoài và để phát triển. Nhưng
trước khi có hội nhập và phát triển, chúng ta phải có cái vốn văn hóa của
mình. Vốn đó là bản sắc văn hóa.
Trong bản sắc văn hóa dân tộc, trước hết phải thấy được tinh thần yêu
nước hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân tộc. Đây là tài sản có giá trị nhất
trong hành trang cứu nước của Hồ Chí Minh. Nó là cơ sở xuất phát, là động
lực, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Hồ
Chí Minh cho rằng: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền
thống quý báu của dân tộc ta. Từ xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì
tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn;
nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và
lũ cướp nước" [43, tr. 174].