BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VI VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM C NÔ
--------------------
VŨ THỊ QUYỀN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG
KẾT HỢP VỚI CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG THỰC VẬT ĐẾN
NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG HOA LAN DENDROBIUM SONIA
Ở GIAI ĐOẠN SẢN XUẤT
Chuyên ngành: KHOA HỌC ĐẤT
Mã số: 9620103
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS TRẦN HỢP
2. TS. DƯƠNG CÔNG KIÊN
Phản biện 1: ............................................................
Phản biện 2: .............................................................
Phản biện 3: ............................................................
cần thiết. Ở nước ta, mặc dù đã có một số nghiên cứu về phân bón và chất điều hòa sinh
trưởng đối với lan, tuy nhiên ảnh hưởng của chúng đối với sự ra hoa của lan vẫn chưa hoàn
toàn được sáng tỏ. Từ tất cả các vấn đề nêu trên, đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của 3 nguyên
tố dinh dưỡng (P, Ca, B) và 3 chất điều hòa sinh trưởng thực vật (Cyt, Ntp, AbA) đến quá
trình sinh trưởng và ra hoa của lan Dendrobium Sonia 9 và 12 tháng tuổi ở giai đoạn sản
xuất” đã được thực hiện nhằm xác định ảnh hưởng hỗ tương của 3 nguyên tố dinh dưỡng (P,
Ca và B) cũng như 3 chất điều hòa sinh trưởng thực vật (Cyt, Ntp, AbA) đến sinh trưởng và ra
hoa của lan, góp phần hoàn thiện qui trình kỹ thuật bón phân cho loài cây này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
a) Mục tiêu chung: Hoàn thiện qui trình kỹ thuật bón phân cho lan Dendrobium Sonia đạt
hiệu quả kinh tế và nông học.
b) Mục tiêu cụ thể: (i) Xác định được hiệu lực của 3 nguyên tố dinh dưỡng (NTDD) phốt
pho (P), canxi (Ca) và bo (B) cũng như tác dụng tương hỗ của chúng đến sinh trưởng và ra
hoa của lan D. Sonia.(ii) Xác định được hiệu lực của 3 chất điều hòa sinh trưởng thực vật
(ĐHSTTV) làcytokinin (Cyt), acid abscisic (AbA) và nitrophenol (Ntp) cũng như tác dụng
tương hỗ của chúng đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia. (iii) Đánh giá ảnh hưởng
tương hỗ giữa 3 NTDD (P, Ca và B) và 3 chất ĐHSTTV (Cyt, AbA, Ntp) đến sinh trưởng và
ra hoa của lan D.Sonia. (iv) Đánh giá hiệu quả của loại phân bón nền đến năng suất và chất
lượng của hoa D.Sonia trong giai đoạn sản xuất.
3. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu:
(i) Đối tượng nghiên cứu: Cây giống lan lai Dendrobium Sonia được tạo bằng phương pháp
nuôi cấy mô và trồng ở vườn sản xuất (cây 9 tháng và 12 tháng tuổi). (ii) Địa điểm nghiên
cứu: Vườn ươm Lâm viên Sinh thái, phường An Lợi Đông, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh. Chủ sở
hữu là Ban Quản lý Khu Đô thị mới Thủ Thiêm.(iii) Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2012
đến tháng 6/2016.
2
4. Phạm vi nghiên cứu: (i) Có nhiều nguyên tố dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh trưởng và
phát triển của thực vật, đề tài này chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của 1 nguyên tố dinh dưỡng đa
1.1.2.1. Đặc điểm hình thái của Dendrobium: Dendrobium là một chi rất lớn, có đến 1.600
loài, với hình dạng và kích thước thay đổi, phân bố rộng rãi ở châu Á, châu Úc và châu Đại
Dương. Ở Việt Nam có khoảng 200 loài thuộc chi Dendrobium, trong đó có nhiều loài quí
hiếm được xếp trong sách đỏ Việt Nam và thế giới [14], [93], [100].
1.1.2.2. Điều kiện sinh thái của lan Dendrobium: là chi lan thuộc nhóm trung tính nên có
thể trồng được ở cả vùng có khí hậu bốn mùa lẫn hai mùa [139]. Cũng như tất cả các loài cây
khác, các yếu tố ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, sự thông thoáng của môi trường và các chất dinh
dưỡng luôn tác động trực tiếp đến quá trình sinh trưởng cũng như năng suất hoa lan.
1.1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa lan trong và ngoài nước
+ Trên thế giới: Trong suốt thế kỷ 19, nước Anh vẫn luôn đứng ở vị trí thứ nhất về nhập
khẩu lan, kế đến là Hà Lan và Bỉ [75], [84]. Đến năm 2012, có trên 60 quốc gia nhập khẩu và
xuất khẩu hoa lan, đạt giá trị thương mại toàn cầu trên 504 triệu đô la Mỹ. Trong đó, quốc gia
3
xuất khẩu hoa lan lớn nhất là Hà Lan (39,67% thị trường thế giới), thứ nhì là Thái Lan
(28,41%), Đài Loan (10%), Singapore (10%) và New Zealand (6%). Các quốc gia nhập khẩu
lan nhiều nhất là Nhật Bản (30%), Anh quốc (12%), Ý (10%), Pháp (7%) và Mỹ (6%) [61].
Thái Lan có lịch sử lâu dài về trồng lan thương mại ở khu vực Đông Nam Á. Ước tính
có trên 54% hoa lan được sản xuất ở Thái Lan xuất khẩu và 46% còn lại được tiêu thụ ở thị
trường nội địa. [69], [138].
CBI (2007) đánh giá thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng phát triển,
trong đó các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc là những quốc gia tiêu thụ hoa
lan cắt cành lớn nhất [57].
Trung Quốc là nước có truyền thống về kỹ nghệ thưởng ngoạn hoa lan và hiện cũng là
nước sản xuất cũng như tiêu thụ hoa lan cắt cành khá lớn trên thế giới (khoảng 1/3 tổng sản
lượng hoa thế giới). Trung Quốc cũng dự báo khả năng phát triển thị trường xuất khẩu hoa lan
cắt cành đến 2020, ước đạt 5 tỷ cành, tăng 1,2 tỷ cành so với năm 2010 [41].
Năm 2016, USDA đã tổng kết nhu cầu sử dụng hoa lan ở Mỹ, chủ yếu là Dendrobium
và Cattleya. Theo đó, giá trị nhập khẩu hoa lan 2015 của Mỹ đạt 144 triệu USD, tăng gần
4
C/N quá cao làm cho sự phát triển sinh dưỡng sẽ yếu (N là yếu tố giới hạn); (ii) tỷ lệ C/N cao,
sự ra hoa được kích thích; (iii) tỷ lệ C/N thấp, phát triển sinh dưỡng mạnh; và tỷ lệ C/N quá
thấp, phát triển sinh dưỡng yếu (C là yếu tố giới hạn).
1.3. Vai trò của một số chất ĐHSTTV đối với lan: Đặc điểm quan trọng của các chất điều
hòa sinh trưởng thực vật là: một hàm lượng nhỏ có khả năng gây nên tác động làm thay đổi
những đặc trưng về hình thái sinh lý của thực vật và chúng có thể di chuyển trong cây được;
cụ thể: Một số chất thuộc nhóm ức chế khi sử dụng cho nhiều loại cây lại kích thích sự ra hoa
[45] hay nhóm chất kích thích sinh trưởng có một hoạt động kích thích trên sự chuyển hóa của
tế bào thực vật ở một liều lượng nhất định; trong khi, nhóm ức chế sinh trưởng có thể có một
hoạt động kích thích hoặc ức chế tùy theo liều lượng sử dụng [17].
1.4. Các nghiên cứu về dinh dưỡng và chất ĐHSTTV cho Dendrobium
Qua tổng quan các tài liệu nghiên cứu về dinh dưỡng và chất ĐHSTTV cho lan, tác giả nhận
thấy: (i) NTDD, chất ĐHSTTV và hỗn hợp phân bón đều ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành
năng suất và chất lượng các loại hoa lan nói chung. (ii) Kết quả tổng quan cũng cho thấy chưa
có những khẳng định về ảnh hưởng của NTDD và chất ĐHSTTV đến loài lan D.sonia. Sau
đây là một số thảo luận làm rõ thêm:
(1) Do chưa có nghiên cứu nào xác định rõ liều lượng sử dụng cuối cùng cũng như thời
điểm bón phân thích hợp cho riêng loài D.sonia. Thế nên, đề tài đã bố trí thí nghiệm với số
lượng nghiệm thức lớn ở các nồng độ khác nhau nhằm xác định được số lượng nghiệm thức
có ảnh hưởng rõ rệt hơn để làm thí nghiệm chính thức. Theo đó, P có mức liều lượng từ 0 –
1.500 ppm, Ca từ 0 – 110 ppm và B từ 0 – 60 ppm.
(2) Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các chất ĐHSTTV có ảnh hưởng rõ rệt tới quá trình
sinh trưởng và ra hoa của lan. Tuy nhiên, nồng độ và liều lượng sử dụng còn tùy thuộc vào
nhiều yếu tố như giống lan, tuổi lan và các nhân tố sinh thái khác. Do đó, đề tài làm rõ sự
khác biệt về ảnh hưởng của các chất ĐHSTTV ngoại sinh đến giai đoạn ra hoa của lan
D.Sonia.
(3) Các tác giả khi đánh giá kết quả có những chi tiết khác nhau về việc xây dựng qui trình
bón phân, nhưng chủ yếu dựa trên kết quả của các thí nghiệm nhỏ và thường dùng phép ngoại
Nội dung 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của từng chất điều hòa sinh trưởng thực vật (Cyt, Ntp và
AbA) đến sinh trưởng và ra hoa của lan Dendrobium Sonia.
Nội dung 3: Đánh giá hiệu lực tương hỗ của 3 nguyên tố dinh dưỡng (P, B và Ca) đến sinh
trưởng và ra hoa của lan Dendrobium Sonia.
Nội dung 4: Đánh giá hiệu lực tương hỗ của 3 chất điều hòa sinh trưởng thực vật (Cyt, Ntp
và AbA) đến sinh trưởng và ra hoa của lan Dendrobium Sonia.
Nội dung 5: Đánh giá hiệu lực tương hỗ của hỗn hợp nguyên tố dinh dưỡng (P, B và Ca) và
chất điều hòa sinh trưởng thực vật (Cyt, Ntp và AbA) đến năng suất, chất lượng hoa lan
Dendrobium Sonia.
Nội dung 6: Thử nghiệm qui trình bón phân và sử dụng chất ĐHSTTV tối ưu đến hiệu quả
nông học trên lan Dendrobium Sonia.
2.3. Các điều kiện và trang thiết bị áp dụng trong vườn thí nghiệm
- Nhà lưới đơn giản trên toàn bộ diện tích 2,0 ha, hệ thống tưới phun mưa tự động theo công
nghệ của Israel, có gắn thiết bị đo nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng.
Các qui định về chăm sóc cho cây thí nghiệm được thực hiện như sau:
- Tưới nước: Không được để giá thể bị ướt quá hoặc khô quá. Độ ẩm không khí trong
vườn duy trì 65-75%, độ ẩm giá thể 60-65%. Vào mùa khô, mỗi ngày tưới 2 lần (sáng sớm và
chiều tối), mỗi lần kéo dài 5-7 phút. Vào mùa mưa, chỉ tưới vào những ngày trời không mưa.
Lúc này, căn cứ vào ẩm độ giá thể để xác định số lần tưới và thời gian tưới cho phù hợp.
- Nhiệt độ: luôn đảm bảo nhiệt độ vườn 26 - 36oC. Vào những ngày nắng nóng, ngoài
tưới nước cho cây thì việc tưới nước cho nền vườn cũng được duy trì.
- Phòng trừ bệnh hại: Vệ sinh vườn hàng tuần, nhổ cỏ dại ở các lối đi và trong chậu
trồng; cắt bỏ lá, thân, phát hoa bị khô héo, đưa ra ngoài và đốt; phun thuốc cloramin B (20
g/L) xung quanh vườn, sàn vườn và mái lưới mỗi tháng một lần .
- Phân bón và chất ĐHSTTV:
+ Phân bón nền gồm: (i) Phân hữu cơ bón gốc dạng túi lưới 7 gram/túi (HT-11: CHC
= 35%; axít humic = 3%, N = 5%, P2O5 = 5%, K2O = 5%, SiO2 = 5%, MgO = 3%) được đặt
trên giá thể cho cả lan 9 và 12 tháng tuổi, mỗi cây đặt một túi lưới, đặt cách gốc 2-3 cm. Định
kỳ 60 ngày bón 1 lần và (ii) Phân vô cơ bón lá (NPK 20-20-20): pha 8 ml với 1 lít nước để
phun lên lá. Lượng dung dịch đã pha được phun với định mức 4 lít/100 m2, định kỳ 7 ngày
nghiệm đã xác định, phun 7 ngày/lần, lượng dung dịch đã pha phun trên 1m2 là 0,04 lít (lan 9
tháng tuổi) và 0,05 lít (lan 12 tháng tuổi).
2.5.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Đối với nội dung 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của từng nguyên tố dinh dưỡng (P, B và Ca) đến
sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia ở giai đoạn sản xuất.
Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của P đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia.
Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu RCBD, gồm 7 nghiệm thức, lặp lại 4 lần. Mỗi
nghiệm thức có 4 chậu, tổng số chậu thí nghiệm là 112 chậu.
Nghiệm thức 1: Phun nước lã (Đối chứng- ký hiệu P0);
Nghiệm thức 2: Phun lân nồng độ 250 ppm (ký hiệu P1);
Nghiệm thức 3: Phun lân nồng độ 500 ppm (ký hiệu P2);
Nghiệm thức 4: Phun lân nồng độ 750 ppm (ký hiệu P3);
Nghiệm thức 5: Phun lân nồng độ 1.000 ppm (ký hiệu P4);
Nghiệm thức 6: Phun lân nồng độ 1.250 ppm (ký hiệu P5);
Nghiệm thức 7: Phun lân nồng độ 1.500 ppm (ký hiệu P6).
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của Ca đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia.
Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu RCBD, gồm 7 nghiệm thức, lặp lại 4 lần. Mỗi
nghiệm thức có 4 chậu, tổng số chậu thí nghiệm là 112 chậu.
Nghiệm thức 1: Phun nước lã (Đối chứng- ký hiệu Ca0)
7
Nghiệm thức 2: Phun Ca nồng độ 10 ppm (ký hiệu Ca1)
Nghiệm thức 3: Phun Ca nồng độ 30 ppm (ký hiệu Ca2)
Nghiệm thức 4: Phun Ca nồng độ 50 ppm (ký hiệu Ca3)
Nghiệm thức 5: Phun Ca nồng độ 70 ppm (ký hiệu Ca4)
Nghiệm thức 6: Phun Ca nồng độ 90 ppm (ký hiệu Ca5 )
Nghiệm thức 7: Phun Ca nồng độ 110 ppm (ký hiệu Ca6)
Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của B đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia.
Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu RCBD, gồm 7 nghiệm thức, lặp lại 4 lần. Mỗi
Nghiệm thức 6: Phun Nitrophenol nồng độ 19 ppm (ký hiệu Ntp5 )
Nghiệm thức 7: Phun Nitrophenol nồng độ 23 ppm (ký hiệu Ntp6)
Thí nghiệm 6: Ảnh hưởng của Acid abscisic đến đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia.
Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu RCBD, gồm 7 nghiệm thức, lặp lại 4 lần. Mỗi
nghiệm thức có 4 chậu, tổng số chậu thí nghiệm là 112 chậu.
Nghiệm thức 1: Phun nước lã (Đối chứng- ký hiệu AbA0)
Nghiệm thức 2: Phun Acid abscisic nồng độ 1 ppm (ký hiệu AbA1)
8
Nghiệm thức 3: Phun Acid abscisic nồng độ 3 ppm (ký hiệu AbA 2)
Nghiệm thức 4: Phun Acid abscisic nồng độ 5 ppm (ký hiệu AbA 3)
Nghiệm thức 5: Phun Acid abscisic nồng độ 7 ppm (ký hiệu AbA 4)
Nghiệm thức 6: Phun Acid abscisic nồng độ 9 ppm (ký hiệu AbA 5 )
Nghiệm thức 7: Phun Acid abscisic nồng độ 11 ppm (ký hiệu AbA 6)
Đối với nội dung 3: Đánh giá hiệu lực tương hỗ của 3 nguyên tố dinh dưỡng (P, B và Ca)
đến sinh trưởng và ra hoa của lan Dendrobium Sonia ở giai đoạn sản xuất.
Thí nghiệm 7: Đánh giá hiệu lực tương hỗ của 3 nguyên tố dinh dưỡng (P, Ca và B) đến sinh
trưởng và ra hoa của lan D.Sonia.
Chọn 2 nghiệm thức tốt nhất từ mỗi thí nghiệm 1, 2 và 3 để đưa vào thực hiện thí nghiệm 7.
Ký hiệu các nghiệm thức tốt nhất là P(opt-1) và P(opt-2), Ca(opt-1) và Ca(opt-2), B(opt-1) và B(opt-2).
Nhân tố 1: hai mức lân - P(opt-1) và P(opt-2); Nhân tố 2: hai mức canxi - Ca(opt-1) và Ca(opt-2). Nhân
tố 3: hai mức bo - B(opt-1) và B(opt-2).
Thí nghiệm ba nhân tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, gồm 8 nghiệm thức với
4 lần lặp lại, mỗi nghiệm thức có 4 chậu. Tổng cộng có 128 chậu.
Nghiệm thức 1: P1Ca1B1; Nghiệm thức 2: P1Ca1B2; Nghiệm thức 3: P1Ca2B1;
Nghiệm thức 4: P1Ca2B2; Nghiệm thức 5: P2Ca1B1; Nghiệm thức 6: P2Ca1B2
Nghiệm thức 7: P2Ca2B1; Nghiệm thức 8: P2Ca2B2
Đối với nội dung 4: Đánh giá hiệu lực tương hỗ của 3 chất điều hòa sinh trưởng thực vật
(Cyt, Ntp và AbA) đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia ở giai đoạn sản xuất.
Nghiệm thức 1: DD1ĐH1; Nghiệm thức 2: DD1ĐH2; Nghiệm thức 3: DD1ĐH3
Nghiệm thức 4: DD2ĐH1; Nghiệm thức 5: DD2ĐH2; Nghiệm thức 6: DD2ĐH
Nghiệm thức 7: DD3ĐH1; Nghiệm thức 8: DD3ĐH2; Nghiệm thức 9: DD3ĐH3
Đối với nội dung 6: Thử nghiệm qui trình bón phân và sử dụng chất ĐHSTTV tối ưu đến
hiệu quả nông học trên lan D.Sonia.
Thí nghiệm 10: So sánh hiệu lực của số lần phun tổ hợp [(P-Ca-B) + (Cyt- Ntp-ABA)] đối
với sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia.
Chọn 2 nghiệm thức tốt nhất từ thí nghiệm 9, ký hiệu là TN9(opt-1) và TN9(opt-2). Xác
định 4 chế độ phun khác nhau để thực hiện thí nghiệm 2 nhân tố.
Nhân tố 1: Tổ hợp dinh dưỡng và điều hòa sinh trưởng, gồm 2 công thức TN9(opt-1) và
TN9(opt-2)
Nhân tố 2: Chế độ phun, gồm 4 công thức: Phun 4 lần/vụ (ký hiệu: Ph-4); Phun 6
lần/vụ (ký hiệu: Ph-6); Phun 8 lần/vụ (ký hiệu: Ph-8); Phun 10 lần/vụ (ký hiệu: Ph-10).
Thí nghiệm hai nhân tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, gồm 8 công thức với 3
lần lặp lại, mỗi công thức có 4 chậu. Tổng cộng có 96 chậu.
Nghiệm thức 1: TN9opt1Ph4; Nghiệm thức 2: TN9opt1Ph6; Nghiệm thức 3: TN9opt1Ph8;
Nghiệm thức 4: TN9opt1Ph10; Nghiệm thức 5: TN9opt2Ph4; Nghiệm thức 6: TN9opt2Ph6
Nghiệm thức 7: TN9opt2Ph8; Nghiệm thức 8: TN9opt2Ph10).
Thí nghiệm 11: Ảnh hưởng của bón phân nền trên công thức dinh dưỡng tối ưu đến năng suất
và chất lượng hoa lan D.Sonia.
Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên, gồm 4 nghiệm thức với
4 lần lặp lại, mỗi nghiệm thức có 4 chậu. Tổng cộng có 4 x 4 x 4 = 64 chậu.
Nghiệm thức 1: Không bón phân (Đối chứng), ký hiệu Pn0.
Nghiệm thức 2: Phun qua lá phân NPK 20-20-20, ký hiệu Pn1.
Nghiệm thức 3: Bón phân 100% phân hữu cơ HT11, ký hiệu Pn2.
Nghiệm thức 4: Bón 50% phân hữu cơ HT11+ 50% phân NPK 20-20-20, ký hiệu Pn3.
Tất cả các nghiệm thức đều được phun tổ hợp dinh dưỡng, chất điều hòa sinh trưởng và số lần
phun được xác định tốt nhất của thí nghiệm 10.
2.5.3. Chỉ tiêu theo dõi và thu thập số liệu
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng của cây: Số giả hành mới/cây (cái); Chiều dài và đường kính
- Phương pháp thu thập số liệu: Đo, đếm trên toàn bộ số cây thí nghiệm. Tất cả các cây đo
đếm đều được đánh dấu trên chậu và tại vị trí đo. Đo đếm và ghi chép số liệu định kỳ hàng
tháng. Quan sát thay đổi hình thái thân, lá, hoa.
* Tính toán các chỉ tiêu theo dõi
+ Chiều dài giả hành: được tính từ mặt chậu đến đỉnh sinh trưởng của cây
Chiều dài giả hành (cm) = (Tổng chiều dài (cm) của các cây theo dõi) / (Tổng số cây theo dõi)
+ Đường kính giả hành: đo tại vị trí cách gốc của giả hành 5,0 cm
Đường kính giả hành (cm) =(Tổng đường kính (cm) các giả hành) / (Tổng số giả hành theo dõi)
+ Số lá/cây: được tính từ gốc cây đến đỉnh ngọn, đếm lá bằng cách đánh dấu lá sau mỗi lần
theo dõi.
Số lá trung bình/ cây (lá) = (Tổng số lá (lá) của các cây theo dõi) / (Tổng số cây theo dõi)
+ Tỷ lệ cây ra phát hoa (%) =Tổng số cây ra phát hoa (cây)/(Tổng số cây thí nghiệm) x100
+ Chiều dài phát hoa (cm): từ điểm (gốc) phân hóa mầm hoa đến đỉnh cành.
+ Số phát hoa/ cây = (Tổng số phát hoa) / (Số chậu theo dõi)
+ Số hoa/phát hoa = (Tổng số hoa) / (Số phát hoa theo dõi)
+ Theo dõi sự gia tăng chiều dài và đường kính giả hành sau khi bón phân được 30 ngày:
Sự gia tăng chiều dài giả hành = CD2 – CD1 (cm)
Sự gia tăng đường kính giả hành = ĐK2 – ĐK1 (cm)
(CD1: chiều dài giả hành ban đầu, CD2: chiều dài giả hành sau bón phân 30 ngày. ĐK1: chu vi giả
hành ban đầu, ĐK2: chu vi giả hành sau bón phân 30 ngày).
+ Theo dõi sự gia tăng số lá sau khi bón phân được 30 ngày: Sự gia tăng số lá = SL2 – SL1
(cái).(SL1: số lá ban đầu, SL2: số lá sau khi bón phân 30 ngày).
* Tính năng suất hoa:
+ Số phát hoa/m2 = (Tổng số phát hoa) /(Số chậu trên một m2)
+ Năng suất phát hoa/vụ/ha = Số phát hoa/cây*Tỷ lệ cây ra phát hoa/ha*Số cây/ha
+ Sản lượng hoa/năm = Năng suất hoa vụ 1 + Năng suất hoa vụ 2 + Năng suất hoa vụ 3
+ Độ bền hoa cắt cành (cắm lọ, ngày): Hoa được thu hoạch ở thời điểm có một nửa số
3.1. Ảnh hưởng riêng rẽ của 3 nguyên tố dinh dưỡng (P, B và Ca) đến sinh trưởng và ra
hoa của lan D.Sonia 9 và 12 tháng tuổi
3.1.1. Ảnh hưởng của P đến sinh trưởng của hoa lan D.Sonia
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của P đến sinh trưởng của lan 9 và 12 tháng tuổi
(từ 30/3/2013 đến 30/6/2013)
Lan 9 tháng tuổi
Lan 12 tháng tuổi
Nồng độ P
Số GHM
CDGH
ĐKGH Số GHM,
CDGH
ĐKGH
(ppm)
(cái/chậu)
(cm)
(cm)
(cái/chậu)
(cm)
(cm)
0
1,3c
26,3c
0,9
0,8abc
35,4c
1,2
250
2,3b
27,0bc
38,0a
1,2
1500
2,3b
26,3c
1,0
0,5c
34,0d
1,1
F
**
**
ns
*
**
ns
CV(%)
17,5
1,0
30,7
33,5
1,10
1,3
Ghi chú: Trong cùng một cột, các số có chữ theo sau khác nhau thì khác biệt ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa
1% (**), 5% (*) và (ns) không khác biệt ý nghĩa thống kê.
12
Kết quả thí nghiệm ở bảng 3.1 cho thấy: Với lan 9 tháng tuổi, đã có sự khác biệt thống
kê giữa các nghiệm thức xử lý P ở các nồng độ 750, 1000 và 1000 ppm so với các nghiệm
nhất
(ngày)
(cái)
(NSXL)
0
12,5e
38,0a
35,6a
0,3c
29,6c
4,0c
250
25,0c
32,5c
33,3b
0,8bc
29,0c
5,0b
500
43,8b
32,0cd
32,2bc
0,8bc
30,4b
5,0b
750
50,0ab
30,0d
32,1bc
1,0ab
CV(%)
44,3
1,4
20,7
28,5
8,7
6,9
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của P đến sự ra hoa của lan D.Sonia và 12 tháng tuổi
(từ 30/3/2013 đến 30/6/2013)
Nồng độ
Lan 12 tháng tuổi
P (ppm)
Tỷ lệ cây
T.gian ra
T.gian
Số
CDPH
SH/PH
ra hoa (%)
PH sớm
nuôi hoa
PH/chậu
(cm)
(cái)
nhất
(ngày)
(cái)
(NSXL)
0
31,3e
2,0a
41,8a
9,0b
1250
75,0b
7,5c
28,1d
2,0a
41,1a
9,8a
1500
10,5a
33,5b
1,5b
39,1c
5,3e
25,0f
F
**
**
**
**
**
**
CV(%)
41,1
11,3
22,7
21,1
1,2
Hoa chậu
(ngày)
Hoa cắt cành
(ngày)
Hoa chậu
(ngày)
0
8,0c
14,7b
17,7e
34,7f
250
9,3ab
16,7ab
24,0c
45,7c
1250
10,0a
17,7a
25,7ab
48,3a
1500
8,7abc
16,7ab
19,0d
44,3d
F
**
*
**
**
- Lan 12 tháng tuổi (bảng 3.9): Thời gian ra phát hoa đầu tiên sớm nhất là sau 8 NSXL
(Ca=70 và 90 ppm) và khác biệt rất có ý nghĩa về mặt thống kê (ở mức ý nghĩa 1%) so với
đối chứng và các nghiệm thức còn lại. Tỷ lệ cây ra phát hoa đạt cao nhất là 75%, cao hơn so
với lan 9 tháng tuổi 25%, cao hơn và khác biệt có ý nghĩa ở mức 1% so với tất cả các nghiệm
thức còn lại. Số phát hoa/chậu cho kết quả cao nhất (2,5 cái) là nghiệm thức Ca=70 ppm, thấp
nhất là đối chứng (1,1 cái ). Chiều dài phát hoa chưa có sự khác biệt có ý nghĩa ở các nghiệm
thức xử lý Ca =10, 30, 50, 70 và 90 ppm (42,6 – 43,0 cm), nhưng giữa chúng lại khác biệt
thống kê so với nghiệm thức Ca= 110 ppm (40,3 cm) và đối chứng (40,7 cm) ở mức ý nghĩa
1%. Số hoa/phát hoa cao nhất là 10 (hoa) ở nghiệm thức Ca=70 ppm, cao hơn và khác biệt rất
có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại.
3.1.6. Ảnh hưởng của Ca đến độ bền hoa lan 9 và 12 tháng
Kết quả ở bảng 3.10 chỉ ra rằng, với lan 9 tháng tuổi, độ bền hoa cắt cành và hoa chậu
ở các nghiệm thức xử lý Ca=10, 30, 50, 70 và 90 ppm đều chưa có sự khác biệt thống kê,
nhưng giữa chúng lại khác biệt có ý nghĩa ở mức 1% so với Ca6=110 ppm và đối chứng. Còn
ở lan 12 tuổi, chưa có sự khác biệt thống kê ở các nghiệm thức Ca= 30, 50, 70 và 90 ppm (lan
cắt cành); còn với hoa chậu, 3 nghiệm thức có hoa bền nhất là 48 ngày gồm Ca=50, 70 và 90
ppm, cao hơn và khác biệt thống kê ở mức 1% so với các nghiệm thức còn lại.
Tổng hợp các kết quả thí nghiệm thì Ca4 (70 ppm) và Ca5 (90 ppm) là 2 nghiệm thức
tối ưu được chọn để đưa vào các thí nghiệm sau.
3.1.7. Ảnh hưởng của B đến sinh trưởng của lan 9 và 12 tháng tuổi
Bảng kết quả 3.11 và 3.12 cho thấy: Ở lan 9 tháng tuổi, số giả hành mới/chậu tăng cao
nhất ở nghiệm thức B=30 và 40 ppm (cùng đạt 2,3 GHM), thấp nhất ở đối chứng (1,3 GHM).
Chiều dài giả hành đạt cao nhất ở nghiệm thức B= 40ppm (29,3 cm), kế đến là B=30 và 50
ppm (cùng đạt 28,9 cm). Còn với lan 12 tháng tuổi, số giả hành mới/chậu đạt kết quả cao nhất
là 1,3 (cái) ở nghiêm thức B = 30, 40 và 50 ppm; chiều dài giả hành cao nhất là 39,5 cm
(B=50 ppm), kế đến là 39,4 cm (nghiệm thức B=40ppm), thấp nhất là B=60ppm (34,5cm) và
đối chứng (34,7 cm).
3.1.8. Ảnh hưởng của B đến sự ra hoa của lan 9 và 12 tháng tuổi
- Lan 9 tháng tuổi (bảng 3.13): Thời gian cho phát hoa sớm nhất là 29 NSXL thuộc về
nghiệm thức B4 (40ppm), kế đến là B3 (30ppm) và B5 (50ppm) cùng có 29,5 NSXL, muộn
rất khác nhau. Điều này có thể giải thích bởi đặc tính sinh vật học của loài (cây hàng năm và
cây nhiều năm). Theo đó, có thể thấy tỷ lệ C/N ở cây trưởng thành của loài D.Sonia là 39:1.
Ngoài ra, Ở thí nghiệm xử lý P, hàm lượng P trong cây tăng đều theo nồng độ bón P từ
nghiệm thức P1 đến P5, nhưng đến P6 thì hàm lượng P bắt đầu giảm. Qui luật tương tự cũng
được chúng tôi phát hiện với bón Ca và B.
3.1.11. Đánh giá chung kết quả đạt được của các thí nghiệm 1, 2 và 3
Để tiếp tục cho các thí nghiệm sau, đề tài tổng hợp các chỉ tiêu nghiên cứu và ghi nhận
2 nghiệm thức tối ưu ở lan 9 tháng tuổi gồm: P =1000 và 1250 ppm, Ca = 70 và 90 ppm, B
= 30 và 40 ppm (với các giá trị đạt được tương ứng: Số giả hành mới 2,3 - 3,1 cái; chiều dài
giả hành 28,6 – 29,3 cm; đường kính giả hành 1,1 cm; số lá/giả hành 6,1 cái). Và lan 12 tháng
tuổi là: P = 1000 và 1250 ppm, Ca = 70 và 90 ppm, B = 40 và 50 ppm (Số phát hoa/chậu
2,0- 2,5 cái, chiều dài phát hoa 41,8 – 43,0 cm, số hoa/phát hoa 9,0 – 10,0).
3.2. Ảnh hưởng riêng rẽ của từng chất ĐHSTTV (Cyt, Ntp và AbA) đến sinh trưởng và
ra hoa của lan D.Sonia 9 và 12 tháng tuổi
3.2.1. Ảnh hưởng của Cyt đến sinh trưởng của lan 9 và 12 tháng tuổi
Kết quả ở bảng 3.17 cho thấy: Với lan 9 tháng tuổi, số giả hành mới/chậu đạt cao nhất
ở 2 nghiệm thức Cyt4 và Cyt5 (2,1 cái), thấp nhất ở đối chứng (1,6 cái). Chiều dài giả hành ở
các nghiệm thức xử lý Cyt đều cao hơn có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (34,5cm so với
26,8cm); đồng thời, so với thí nghiệm xử lý riêng rẽ từng NTDD thì kết quả này cũng đạt cao
hơn (28,8 - 29,3cm so với 34,5cm). Số lá/giả hành cao nhất là 6,0 (cái) ở 2 nghiệm thức Cyt4
và Cyt5, cao hơn và khác biệt thống kê so với các nghiệm thức còn lại ở mức ý nghĩa 1%.
Với lan 12 tháng tuổi (bảng 3.17): Số giả hành mới/chậu nhiều nhất là 1,3 (cái) ở 2
nghiệm thức Cyt4 và Cyt5, cao hơn và khác biệt rất có ý nghĩa so với Cyt6 và đối chứng.
16
Chiều dài giả hành dài nhất là 43,2 cm thuộc về Cyt4 và khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa so
1% với các nghiệm thức còn lại. Số lá/giả hành có sự khác biệt thống kê giữa các nghiệm thức
từ Cyt1 đến Cyt5 so với đối chứng và Cyt6 ở mức ý nghĩa 1%.
3.1.2. Ảnh hưởng của Cyt đến sự ra hoa của lan 9 và 12 tháng tuổi
Ntp4 và Ntp5, cao hơn và khác biệt có ý nghĩa ở mức 1% so với các nghiệm thức còn lại.
3.2.5. Ảnh hưởng của Ntp đến sự ra hoa của lan 9 và 12 tháng tuổi
- Lan 9 tháng tuổi (bảng 3.22): Sau 31 ngày xử lý Ntp, xuất hiện phát hoa đầu tiên ở
các nghiệm thức Ntp3 (11 ppm), Ntp4 (15ppm) và Npt5 (19ppm), sớm hơn nghiệm thức đối
chứng và Ntp6 (23ppm) từ 5 - 7 ngày và khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1%. Tỷ lệ cây ra
phát hoa và số hoa/phát hoa cao nhất cũng ở Ntp3, Ntp4 và Npt5 (50% số cây ra phát hoa và
6,0 hoa/phát hoa) và khác biệt thống kê với các nghiệm thức còn lại ở mức ý nghĩa 1%.
- Lan 12 tháng tuổi (bảng 3.23): Các chỉ tiêu nghiên cứu đều cho kết quả thấp nhất ở
nghiệm thức Ntp6. Như vậy, ở mức nồng độ cao, nitrophenol không có vai trò đối với sự cảm
ứng ra hoa ở lan 12 tháng tuổi. Kết quả tốt nhất ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu nằm ở Ntp4
17
và Ntp5, với giá trị đạt được tương ứng: Tỷ lệ cây ra phát hoa 75%, số phát hoa/chậu (2,5 và
2,3), chiều dài phát hoa (42,9 cm và 43,0 cm), số hoa/phát hoa (10,5 – 10,8).
3.2.6. Ảnh hưởng của Ntp đến độ bền hoa lan 9 và 12 tháng
Độ bền hoa cắt cành và hoa chậu (bảng 3.24) ở các nghiệm thức Ntp = 3, 7, 11, 15 và
19 ppm đều chưa có sự khác biệt thống kê ở cả lan 9 và 12 tháng tuổi. Song, độ bền hoa cắt
cành và hoa chậu ở lan 12 tháng tuổi luôn cao hơn so với lan 9 tháng tuổi từ 1,7 đến 2,0 lần,
cụ thể : 10 ngày so với 17 ngày ở hoa cắt cành và 17 ngày so với 35 ngày ở hoa chậu.
Tổng hợp các kết quả thí nghiệm thì lựa chọn tối ưu cho lan 9 tháng tuổi là Ntp3 (11
ppm) và Ntp4 (15 ppm) và cho lan 12 tháng tuổi là Ntp4 (15 ppm) và Ntp5 (19 ppm).
3.2.7. Ảnh hưởng của AbA đến đến sinh trưởng của lan 9 và 12 tháng
Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.25 cho thấy: Với lan 9 tháng tuổi, số giả hành mới/chậu
đạt cao nhất là 2,0 (cái) ở các nghiệm thức xử lý AbA nồng độ 1 ppm - 3 ppm – 5 ppm, thấp
nhất là AbA5 (9 ppm), AbA6 (11ppm) và đối chứng (cùng có 1,6 cái); chiều dài giả hành đạt
cao nhất ở AbA2 và AbA3 với các giá trị tương ứng 29,0 - 29,7 cm và khác biệt thống kê ở
mức ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức còn lại. Ở lan 12 tháng tuổi, số giả hành mới đạt cao
nhất ở các nghiệm thức từ AbA0 đến AbA4 (1,0 cái); chiều dài giả hành ở AbA2 đạt cao nhất
(37,0 cm) và khác biệt thống kê so với các nghiệm thức AbA0, AbA1 và AbA6 ở mức ý nghĩa
đánh giá là tốt hơn ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu (cho cả 2 lứa tuổi của lan) và là hai lựa
chọn để đưa vào các thí nghiệm sau.
3.2.10. Đánh giá chung kết quả đạt được của các thí nghiệm 4, 5 và 6
Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận các công thức tối ưu đưa vào làm ở thí nghiệm sau
cho lan 9 tháng tuổi gồm: Cyt = 20 và 25 ppm, Ntp = 11 và 15 ppm, AbA = 3 và 5 ppm (Số
giả hành mới/chậu 2,0 - 2,1; chiều dài giả hành 29,0 – 34,5 cm; số lá/giả hành 6,0). Và lan 12
tháng tuổi: Cyt = 20 và 25 ppm, Ntp = 15 và 19 ppm, AbA = 3 và 5 ppm (Số phát hoa/chậu
1,5- 2,5, chiều dài phát hoa 40,0 – 43,6 cm, số hoa/phát hoa 8,0 – 10,8 ).
3.3. Ảnh hưởng tương hỗ của 3 nguyên tố dinh dưỡng (P, Ca và B) đến sinh trưởng và ra
hoa của lan Dendrobium Sonia 9 và 12 tháng tuổi
3.3.1. Ảnh hưởng của 3 NTDD đến sinh trưởng và ra hoa của lan 9 tháng tuổi
Kết quả ở bảng 3.29 cho thấy, ảnh hưởng tương tác (Ca x B) là tích cực và có ý nghĩa
thống kê ở mức 1% cho chỉ tiêu chiều dài giả hành, tương tác (P x Ca) có sự khác biệt thống
kê ở mức ý nghĩa ở mức 5% cho chỉ tiêu số hoa/phát hoa.
Kết quả về sự tương tác của P x Ca x B (bảng 3.30) cũng chỉ ra số giả hành mới đạt
cao nhất ở 2 nghiệm thức P1 x Ca1 x B1 và P2 x Ca1 x B2 (cùng có 2,9 cái), thấp nhất là 2,2
cái ở nghiệm thức P2 x Ca2 x B2. Tuy nhiên, giữa các nghiệm thức chưa có sự khác biệt nhau
có ý nghĩa về mặt thống kê ở chỉ tiêu số giả hành mới. Số phát hoa/chậu đã có sự khác biệt
thống kê ở mức ý nghĩa 5%; theo đó, các nghiệm thức cho kết quả bình quân tốt nhất là 1,5
phát hoa, cao hơn các nghiệm thức còn lại từ 0,33 - 0,42 phát hoa, gồm: P1 x Ca2 x B2, P2 x
Ca1 x B1, P2 x Ca1 x B2 và P2 x Ca2 x B1. Chiều dài phát hoa dài nhất nằm ở nghiệm thức
P2 x Ca1 x B1 với 43,3 cm, đứng thứ nhì là nghiệm thức P2 x Ca1 x B2 (với 42,6 cm). Giữa
công thức đứng thứ nhất và thứ hai không có sự sai khác về mặt thống kê, nhưng chúng lại
khác biệt có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại ở mức ý nghĩa 1%.
Bảng 3.29. Ảnh hưởng của 3 nguyên tố dinh dưỡng (P, Ca và B) đến sinh trưởng và ra hoa
của lan D.Sonia 9 tháng tuổi (từ 02/02/2014 – 02/5/2014)
Nghiệm
Nhân tố
GHM
CDgh
B1
2,8
32,7b
1,3
41,6a
5,8
B (C)
B2
2,7
33,6a
1,3
40,9b
5,7
F(A)
ns
ns
ns
**
ns
F(B)
*
*
ns
ns
ns
F(C)
ns
**
ns
**
5,04
19
Kết quả ở bảng 3.29 và 3.30 cũng chỉ ra một số chỉ tiêu nghiên cứu ở thí nghiệm này
đạt cao hơn so với thí nghiệm phun riêng rẽ từng nguyên tố dinh dưỡng, cụ thể: 1,5 so với 1,3
và 1,4 ở chỉ tiêu số phát hoa; 43,3 cm so với 41,6 cm và 41,7 cm ở chỉ tiêu chiều dài phát hoa.
Kết quả cũng ghi nhận ảnh hưởng tương tác của P x Ca x B ở các nghiệm thức: P1 x Ca2 x
B2, P2 x Ca1 x B1 và P2 x Ca1 x B2 được xem là tích cực đối với các chỉ tiêu sinh trưởng của
lan 9 tháng tuổi.
3.3.2. Ảnh hưởng của 3 NTDD đến sinh trưởng và ra hoa của lan 12 tháng tuổi
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.31 chỉ ra rằng, chiều dài giả hành ở tất cả các nghiệm
thức xử lý P, Ca và B riêng rẽ đều cho kết quả khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê; trong đó,
kết quả chiều dài giả hành bình quân cao nhất ở các nghiệm thức P2, Ca1 và B1 đạt được
tương ứng là 44,6 – 44,7 – 44,8 cm, cao hơn và khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức còn
lại ở mức ý nghĩa 1%. Chiều dài phát hoa trung bình ở nghiệm thức phun B (40 ppm) cho kết
quả tốt nhất (48,6 cm), cao hơn và khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với nghiệm thức
phun B=50 ppm (48,4 cm). Chiều dài phát hoa ở các nghiệm thức phun P x Ca, P x B, Ca x B
và P x Ca x B có sự khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1%.
Bảng 3.31. Ảnh hưởng của 3 NTDD (P, Ca và B) đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia
12 tháng tuổi (từ 02/02/2014 – 02/4/2014)
Nhân tố
Nghiệm thức
CDgh
Số PH
CDPH
10,3a
Ca2
43,9b
1,9
48,4
9,8b
B1
44,8a
1,9
48,6a
10,4a
B2
43,7b
1,9
48,4b
**
F(AxB)
**
**
**
**
F(AxC)
*
**
**
**
F(BxC)
**
ns
**
P2 x Ca2 x B1 (48,8 cm), thấp nhất ở P2 x Ca2 x B2 (47,3 cm); số hoa/phát hoa đạt cao nhất
là 11,0 (hoa) ở 3 nghiệm thức: P2 x Ca1 x B1, P2 x Ca1 x B2 và P2 x Ca2 x B1, cao hơn và
khác biệt rất có ý nghĩa so với các nghiệm thức còn lại ở mức 1%. So sánh các kết quả cao
nhất về chỉ tiêu số hoa/phát hoa ở thí nghiệm này với kết quả phun riêng rẽ từng nguyên tố
dinh dưỡng cho thấy kết quả này cao hơn rất có ý nghĩa về mặt thống kê (11 so 10,3 hoa).
20
3.3.2. Ảnh hưởng của tổ hợp 3 nguyên tố dinh dưỡng [P, Ca và B] đến độ bền hoa lan
D.Sonia 9 và 12 tháng tuổi
Kết quả ở bảng 3.33 cho thấy, lan 12 tháng tuổi luôn có hoa bền hơn đối chứng từ 10 11 ngày (với hoa cắt cành) và từ 23 - 24 ngày (hoa chậu); trong khi ở lan 9 tháng tuổi thì độ
bền hoa cắt cành và hoa chậu đạt cao nhất cũng chỉ hơn đối chứng 3 - 4 ngày (10,7 so với 6,3
ngày ở hoa cắt cành và 17,7 so với 13,3 ngày ở hoa chậu). Kết quả này cũng chỉ ra việc tác
động ra hoa ở lan 9 tháng tuổi là không hiệu quả.
Để tiếp tục cho các thí nghiệm sau, căn cứ kết quả đạt được của thí nghiệm và đối
chiếu với yêu cầu của đề tài, ba lựa chọn tốt nhất cho mỗi lứa tuổi của lan sẽ bao gồm: (P2 x
Ca1 xB1), (P2 x Ca1 x B1) và (P2 x Ca2 x B1).
3.4. Ảnh hưởng tương hỗ của 3 chất ĐHSTTV (Cyt, Ntp và AbA) đến năng suất và chất
lượng hoa D.Sonia 9 và 12 tháng tuổi
3.4.1. Ảnh hưởng tương hỗ của 3 chất ĐHSTTV đến sinh trưởng và ra hoa của lan 9
tháng tuổi
Kết quả nghiên cứu ở bảng 3.34 cho thấy: Số giả hành mới/chậu ở nghiệm thức Cyt1
(20 ppm) đạt 2,0 cái, cao hơn và khác biệt có ý nghĩa ở mức 1% so với nghiệm thức Cyt2 (25
ppm). Chiều dài giả hành ở nghiệm thức Cyt1 cũng cho kết quả cao hơn và khác biệt ở mức ý
nghĩa 5% so với nghiệm thức Cyt2 (34,5 cm so với 34,1 cm). Tương tự, số phát hoa/cây cũng
cho kết quả bình quân cao nhất ở Cyt1 và khác biệt có ý nghĩa ở mức 1% so với Cyt2. Chiều
dài phát hoa và số hoa/phát hoa cũng đều cho kết quả cao nhất ở Cyt1 và khác biệt có ý nghĩa
ở mức 1% so với Cyt2 (36,7 cm so với 35,9 cm và 5,8 so với 5,5).
Kết quả xử lý Ntp và AbA riêng rẽ và tương hỗ cho lan 9 tháng tuổi đều chưa có khác
biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu. Tuy nhiên, khi xử lý Cyt x
ĐH3); cụ thể: (i) Lan 9 tháng tuổi: DD1-1000+90+40, DD2-1250+70+30, DD3-1250+70+40;
ĐH1-20+11+3, ĐH2-20+15+3, ĐH3-20+15+3. (ii) Lan 12 tháng tuổi: DD1-1250+70+40,
DD2-1250+70+50, DD3-1250+90+40; ĐH1-20+15+3, ĐH2-20+19+3, ĐH3-25+15+3.
3.5.1. Ảnh hưởng tương hỗ của hỗn hợp 3 NTDD và hỗn hợp 3 chất ĐHSTTV đến sinh
trưởng và ra hoa của lan D.Sonia 9 tháng tuổi
Kết quả ở bảng 3.39 cho thấy: Khi phun riêng rẽ từng tổ hợp chất ĐHSTTV đã có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê; theo đó, số GHM bình quân cao nhất là 2,0 cái (nghiệm thức
ĐH1), cao hơn và khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% so với ĐH2 và ĐH3. Đồng thời, ở chỉ
tiêu sinh giả hành mới, mức ảnh hưởng tương hỗ giữa hỗn hợp DD và ĐH được ghi nhận khác
biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Số phát hoa/chậu cho kết quả cao nhất ở 2 nghiệm thức DD1
và ĐH2 (cùng có 1,2 cái), cao hơn và khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 5% ; tuy nhiên ở
nghiệm thức xử lý tương hỗ tổ hợp DD và tổ hợp ĐH thì chưa có sự khác biệt có ý nghĩa nào.
Còn về số hoa, đã có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 1% ở tất cả các nghiệm thức thí
nghiệm. Đồng thời, kết quả ở bảng 3.40 cũng chỉ ra ảnh hưởng tương tác của hỗn hợp 3 chất
dinh dưỡng và 3 chất ĐHSTTV là tương tác thuận. Số hoa bình quân cao nhất là 6,0 - 6,2 6,3 hoa (nghiệm thức tương ứng: DD1 x ĐH3, DD1 x ĐH1 và DD3 x ĐH1), cao hơn và khác
biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức còn lại.
3.5.2. Ảnh hưởng của hỗn hợp 3 NTDD và 3 chất ĐHSTTV đến sinh trưởng và ra hoa
của lan D.Sonia 12 tháng tuổi
Kết quả phun hỗn hợp DD và ĐH có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng của cây (bảng
3.41): Số giả hành mới cao nhất đạt 1,2 cái lần lượt ở các nghiệm thức DD1, DD3 và ĐH2;
tuy nhiên, chúng chưa khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại.Tương tự,
chiều dài giả hành đạt bình quân 36,1 – 36,9 cm và chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở
tất cả các nghiệm thức thí nghiệm.
Số phát hoa/chậu ở các nghiệm thức phun riêng rẽ từng tổ hợp DD và ĐH chưa có sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê, nhưng các nghiệm thức tương tác giữa tổ hợp DD x ĐH lại có
sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê; cụ thể (bảng 3.42): Số phát hoa bình quân cao nhất là
2,3 (cái) ở 3 nghiệm thức DD1 x ĐH1, DD2 x ĐH1 và DD2 x ĐH2, cao hơn và khác biệt
thống kê ở mức ý nghĩa 5%. Chiều dài phát hoa trung bình dài nhất là 50,5 cm (DD2 + ĐH1),
kế đến là các nghiệm thức DD1 + ĐH1 (50,3 cm), DD2 + ĐH2 (50,0 cm) và DD1 + ĐH3
(49,9 cm). Mặc dù giữa 3 nghiệm thức này không có sự khác biệt nào về mặt thống kê nhưng
khác biệt thống kê so với các nghiệm thức còn lại ở mức ý nghĩa 1%. Chiều dài phát hoa cao
nhất đạt 51,7 cm ở nghiệm thức Ph10, cao hơn và khác biệt thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với
các nghiệm thức còn lại. Bên cạnh, số hoa/phát hoa bình quân ở các nghiệm thức TH1 và TH2
đạt cao và khá đều nhau (11,0 và 11,2); trong khi nghiệm thức Ph10 có số hoa bình quân cao
nhất là 11,3; kế đến là Ph8 với 11,0 hoa. Cả 2 nghiệm thức này đều cao hơn và khác biệt
thống kê ở mức ý nghĩa 1% so với các nghiệm thức Ph6 (10,4 hoa) và Ph4 (9,7 hoa). Ngoài
ra, các nghiệm thức tương tác TH x Ph ở chỉ tiêu số hoa cũng cho kết quả tương tác thuận ở
mức ý nghĩa 5%.
Tổng hợp kết quả thí nghiệm và đối chiếu tất cả các yếu tố cấu thành năng suất, chất
lượng và phí đầu tư, nghiệm thức NT3(TH1 + Ph8) = [(1250 +70+40) + (20+15+3) + Ph-8] được
đánh giá là tối ưu hơn và được chọn để tiếp tục nghiên cứu ở thí nghiệm 11.
3.7. Ảnh hưởng của phân bón nền, hỗn hợp 3 NTDD, 3 chất ĐHSTTV và số lần phun
đến sinh trưởng và ra hoa của lan D.Sonia 12 tháng tuổi
Phân bón nền gồm: Pn-0 (không bón phân nền); Pn-1 (100% vô cơ bón lá: NPK 2020-20); Pn-2 (100% hữu cơ bón gốc); và Pn-3 (50% hữu cơ + 50% vô cơ). Kết quả theo dõi
về sinh trưởng và ra hoa của lan 12 tháng tuổi được trình bày ở bảng 3.45, 3.46 và phụ lục 4c.
Kết quả ở bảng 3.45 cho thấy, chưa có sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở tất cả
các nghiệm thức cho chỉ tiêu sinh trưởng. Còn về hình thái thì thấy Pn-3 [(1250 +70+40) + (20+15+3) +
Ph-8] + (50% VC+ 50% HC) có các biểu hiện trội hơn như: rễ nhiều và khỏe, giả hành cân đối và đồng
đều; đặc biệt, trong giai đoạn hình thành phát hoa thì giả hành mới vẫn xuất hiện khỏe mạnh,
không ảnh hưởng đến số phát hoa cũng như số lượng và chất lượng hoa.
23
Với các chỉ tiêu về hoa (bảng 3.46): 100% nghiệm thức thí nghiệm cho phát hoa và
hoa (phụ lục 4c); trong đó kết quả cao nhất ở tất cả các chỉ tiêu nghiên cứu nằm ở Pn-3 (số
phát hoa/chậu 2,2, chiều dài phát hoa 51,7 cm, số hoa/phát hoa 12,3), cao hơn và khác biệt
thống kê so với đối chứng ở mức ý nghĩa 1%. Đồng thời, kết quả về số hoa cũng cao hơn so
với nghiệm thức tốt nhất ở thí nghiệm trước đó (NT3(TH1 + Ph8) = [(1250 +70+40) + (20+15+3)
+ Ph-8]) – 12,3 hoa so với 11,3 hoa. Đối chiếu với kết quả thí nghiệm của Dương Hoa Xô và
cs (2008) khi áp dụng qui trình bón phân nền 100% hữu cơ cho D.Sonia thì ở thí nghiêm này
hoa; trong khi đó số hoa/ha/năm của lô thí nghiệm lại nhiều hơn lô đối chứng 1.469.083 hoa
(6.808.345 so với 5.339.263). Sở dĩ có kết quả này là do số hoa bình quân/phát hoa của lô thí
nghiệm cao hơn so với lô đối chứng (10,8 hoa so với 8,3 hoa – bảng 3.47 và phụ lục 5b).
Ngoài ra, kết quả ở bảng 3.49 cho biết thêm lợi nhuận ròng thu được ở lô thí nghiệm cao hơn
so với lô đối chứng 80% (1.294 triệu đồng/ha so với 720 triệu đồng/ha).
Bên cạnh đó, đề tài đã bố trí thêm thí nghiệm ở Vườn lan Trung tâm CNSH quận 12.
Kết quả ở vườn này cũng chỉ ra, số giả hành mới/chậu tăng 1,25 so với đối chứng (6,4 so với