Các nhân tố tác động đến hành vi gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam tt - Pdf 50

1

2

CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

CTNY còn hạn chế mặc dù vấn đề này đang nhận được rất nhiều sự quan tâm từ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời gian gần đây, gian lận báo cáo tài chính (BCTC) ngày càng trở thành một
vấn đề nghiêm trọng cho Chính phủ, CTNY và các nhà đầu tư, đe dọa làm mất đi
niềm tin của thị trường tài chính, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới làm cho các công ty rơi vào tình trạng tài chính cạn kiệt,
kéo theo sự gia tăng không ngừng số lượng doanh nghiệp bị phá sản và trở thành
động cơ cho các hành vi gian lận BCTC ngày càng tăng. Điều đó đã đặt ra nhu cầu
bức thiết phải tăng cường quản lý và
kiểm soát tốt hành vi gian lận BTCT của các CTNY trên TTCK Việt Nam.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chỉ có thể thống kê được những thiệt hại
do hành vi gian lận trên BCTC gây ra trực tiếp về mặt kinh tế mà không thể đo
lường được hết những thiệt hại vô hình không được biểu hiện bằng con số cụ thể
như niềm tin và việc tác động xấu đến TTCK, bởi không phải tất cả những gian
lận trên BCTC đều bị phát hiện. Theo ACFE (2014), chỉ có khoảng 3% trong
tổng số các cuộc gian lận tài chính bị phát hiện tại các tập đoàn kinh tế trên thế
giới 2014. Mặt khác, các kết quả kiểm toán chỉ có thể cho biết có xảy ra hiện
tượng gian lận BCTC hay không nhưng lại không chỉ ra được nguyên nhân dẫn
đến hành vi gian lận BCTC. Vì thế, việc nghiên
cứu các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC sẽ làm cơ sở
giúp cho các nhà quản lý trong việc nâng cao hiệu quả quản trị công
ty, đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách ban hành các

Tại Việt Nam, những nghiên cứu liên quan đến đề tài này cũng đã được bàn
luận đến nhưng chủ yếu là dưới góc độ kiểm toán BCTC, hành vi điều chỉnh lợi
nhuận mà trong đó các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC không phải
là đối tượng và mục tiêu nghiên cứu chính mà chỉ là một phần nhỏ trong nghiên
cứu, do đó các nghiên cứu về nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC chưa
được hệ thống đầy đủ và cũng chưa lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố này đến hành vi gian lận báo cáo chính (Ngô Thị Thu Hà, 2007; Hà
Hồng Hạnh, 2012; Nguyễn Thị Phương, 2012).
Về mô hình nghiên cứu, để phát hiện hành vi gian lận BCTC, các nghiên
cứu của DeAngelo (1986), Friedlan (1994), Healy (1985) và Jones (1991) sử
dụng mô hình dồn tích có điều chỉnh (Discretionary accruals models). Ngoài ra
có thể kể đến mô hình F-score của Dechow và các cộng sự (2011). Mô hình này
cũng được phát triển dựa trên M-score của Beneish, bổ sung các biến số phi tài
chínhvà dữ liệu thị trường ngoài các biến số từ BCTC. Tại Việt


3

4

Nam, có một số nghiên sử dụng mô hình dồn tích như gồm có: Nguyễn Thị
Uyên Phương (2014), Phan Thị Thùy Dương (2015). Sử dụng kỹ thuật thống kê
tiêu biểu gồm nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2013) và nghiên cứu của
Nguyễn Trần Nguyên Trân, 2014 và Hoàng Khánh & Trần Thị Thu Hiền, 2015
áp dụng mô hình Beneish dự đoán sai sót trọng yếu trong BCTC (Phụ lục 2.2).
Hạn chế của các nghiên cứu này là chỉ dừng lại ở mức độ ứng dụng mô hình có
sẵn, chưa có những thay đổi phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam

Câu 3: Mức độ tác động của các nhóm nhân tố động cơ/áp lực, cơ hội và
thái độ đến hành vi gian lận BCTC tại các CTNY trên TTCK Việt Nam hiện nay

Việt Nam.

1.3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Câu 1: Cơ sở lý thuyết nào được dùng làm nền tảng để nghiên cứu các
nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC?
Câu 2: Có những nhóm nhân tố nào tác động đến hành vi gian lận BCTC
của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam?

vi gian lận BCTC tại các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới góc
nhìn của KTV độc lập thuộc các công ty kiểm toán được chấp thuận.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi gian lận
BCTC dựa trên mô hình tam giác gian lận với cơ sở hướng dẫn của chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 240 (VSA 240) và các dấu hiệu đỏ trong mô hình bàn
cân gian lận về khía cạnh quản lý thực tiễn. Nghiên cứu này lựa chọn các Công
ty Cổ phần phi tài chính trên TTCK Việt Nam.
1.5. Các đóng góp mới của luận án

1. Xác định được các cơ sở lý thuyết nghiên cứu phù hợp với bối cảnh thị
trường chứng khoán Việt Nam về các nhân tố tác động đến hành vi gian lận
BCTC của các CTNY.
2. Thông qua việc phỏng vấn các chuyên gia trong các lĩnh vực thị trường
chứng khoán, tài chính, kiểm toán, tác giả đã phát triển mới 10 tiêu chí đo lường
3 biến độc lập thuộc nhóm nhân tố cơ hội bao gồm Môi trường pháp lý, Môi
trường kinh tế vĩ mô và Kiểm soát của Nhà nước đối với hành vi gian lận
BCTC) cho phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam.

3. Xây dựng và kiểm định được mô hình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến
hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết

tố đến hành vi gian lận BCTC của các
CTNY trên TTCK Việt Nam.

4. ðề xuất các khuyến nghị.

Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận án
1.7. Kết cấu của Luận án
Luận án được chia thành 5 chương có kết cấu chặt chẽ với nhau. Bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về hành vi gian lận báo cáo tài chính công ty
niêm yết và các nhân tố ảnh hưởng


6
CHƯƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG

2.1. Khái quát về gian lận báo cáo tài chính
2.1.1. Khái niệm gian lận và gian lận báo cáo tài chính
2.1.1.1. Khái niệm gian lận
Trên thế giới, Edwin H. Sutherland - nhà nghiên cứu về tội phạm người Mỹ là người đã khai
sinh ra thuật ngữ “white - collar crime”, để ám chỉ tới hành vi gian lận do những nhà quản trị cao
cấp của công ty gây ra nhằm lường gạt công chúng. Các nghiên cứu sau này đều sử dụng thuật ngữ
này để thay thế cho thuật ngữ gian lận thông thường.
Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu, Luận án tập trung nghiên cứu đến hành vi gian lận dựa trên
cơ sở hướng dẫn của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 240 ( VSA 240). Theo VSA 240, “Gian lận là
hành vi cố ý do một hay nhiều
người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ 3 thực hiện bằng các hành
vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp”.

Gian lận và sai sót đều là những sai phạm tiềm ẩn trong báo cáo tài chính
của mỗi doanh nghiệp, ảnh hưởng đến kết quả trên báo cáo tài chính, phản ánh
sai lệch tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp
Trong khuôn khổ của Luận án, tác giả đi sâu vào nghiên cứu hành vi gian
lận BCTC do những ảnh hưởng mang tính chất lan tỏa của hành vi này đến các
đối tượng tham gia TTCK và sự phát triển bền vững của CTNY trên TTCK.
2.1.2. Các hình thức gian lận báo cáo tài chính.
Kết quả nghiên cứu của COSO (2010), Ngô Thị Thu Hà (2007), ACFE
(2012), Nguyễn Thị Hương Giang (2013), Lê Nguyễn Thế Cường (2013) đều
cho thấy khai khống lợi nhuận/tài sản là hình thức phổ biến trong các hành vi
gian lận BCTC của các CTNY. Vì thế, Luận án tập trung nghiên cứu về hành vi
gian lận BCTC phổ biến là hành vi khai khống lợi nhuận/tài sản.
2.1.3. Động cơ thực hiện hành vi gian lận báo cáo tài chính.
Trong luận án này, tác giả khái quát một số động cơ thực hiện hành vi gian
lận BCTC phổ biến đó là: sự ổn định tài chính, áp lực từ bên thứ ba và mục tiêu
tài chính.
2.1.4. Tác hại của hành vi gian lận báo cáo tài chính
Đối với CTNY. Nếu các CTNY có hành vi gian lận BCTC bị phát hiện sẽ
phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng khác như bị phá sản, uy tín của
CTNY bị giảm sút nghiêm trọng.
Đối với nhà đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn được quan tâm nhiều nhất. Khi
báo cáo tài chính sai lệch có chủ đích sẽ dẫn việc nhà đầu tư kỳ vọng quá cao
hoặc quá thấp vào doanh nghiệp niêm yết, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng
sinh lời của vốn thậm chí làm mất vốn bỏ ra.
Đối với người cho vay đặc biệt là các tổ chức tín dụng như ngân hàng sẽ
gặp rủi ro khi cho vay các doanh nghiệp có hành vi gian lận báo cáo tài chính.
Trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ dẫn đến tình trạng
nợ xấu tồn đọng trong các ngân hàng, ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân
hàng nói chung, làm giảm tăng trưởng kinh tế quốc gia.


- Hệ thống kiểm soát nội bộ CTNY còn nhiều yếu điểm


9
2.2. Các lý thuyết vận dụng để nghiên cứu hành vi gian lận báo cáo tài
chính của công ty niêm yết
Lịch sử phát triển của các công trình nghiên cứu liên quan đến hành vi
gian lận thông qua các lý thuyết nền tảng sau:

- Lý thuyết thông tin bất cân xứng
- Lý thuyết đại diện
- Lý thuyết bàn cân gian lận dựa trên các dấu hiệu đỏ
- Lý thuyết tam giác gian lận
2.3. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi gian
lận báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết.
Ngoài việc tổng quan các công trình nghiên cứu về chủ đề gian lận BCTC,
luận án tập trung tổng kết những nghiên cứu liên quan về các nhân tố tác động
đến hành vi gian lận BCTC được xem xét trên nhiều khía cạnh khác nhau. Theo
đó, các nhóm nhân tố bao gồm:
2.3.1. Nhóm nhân tố về động cơ/áp lực

- Sự ổn định tài chính
- Áp lực từ bên thứ 3
- Mục tiêu tài chính
2.3.2. Nhóm nhân tố về cơ hội

- Đặc điểm BCTC và ngành nghề hoạt động của CTNY
- Chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ
- Quy mô CTNY
- Đặc tính của HĐQT CTNY

nghiên cứu định lượng, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát để thống kê mô tả
về hành vi gian lận BCTC và tiến hành kiểm định giả thuyết nghiên cứu.
Trên cơ sở lý luận, thực trạng, kết quả phân tích tình huống và tham khảo ý
kiến chuyên gia, tác giả kế thừa mô hình nghiên cứu tam giác gian lận và mô
hình bàn cân gian lận, để phát triển mô hình nghiên cứu của luận án
Dựa trên mô hình nghiên cứu, giả thuyết thiết lập như sau:
H: Các nhân tố áp lực/động cơ (ĐCAL), cơ hội (CH), thái độ (TĐ) của nhà
quản lý có tác động tới gian lận trong lập BCTC của các CTPTCNY trên TTCK
Việt Nam.
Các nhân tố được lựa chọn khảo sát bao gồm 15 nhân tố (3nhân tố áp
lực/động cơ, 8 nhân tố cơ hội, 4 nhân tố thái độ của nhà quản lý). Các nhân tố
này được đánh giá có tính phổ biến và quan trọng thông qua kết quả của tổng
quan nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, kết quả phỏng vấn sâu các chuyên
gia trong lĩnh vực chứng khoán – tài chính - kế toán có nhiều kinh nghiệm tại
Việt Nam.


11
Sự ổn định tài chính (H1)
Áp lực từ bên thứ 3 (H2)

12
(chiếm 74,62%). Phiếu phản hồi có độ tin cậy cao và thể hiện đối tượng khảo sát
có ý thức trả lời cũng như hiểu sâu về các câu hỏi trong phiếu khảo sát. Sau đó,
khai báo và nhập dữ liệu trên phần mềm SPSS. Kiểm định độ tin cậy của thang
đo đối với các biến nhân tố bằng chỉ số Cronbach Alpha. Cuối cùng đánh giá kết
quả thống kê mô tả.

Nhân tố về
động cơ/áp

luật của BGĐ (H14)
Thái độ, tính chuyên nghiệp
của BGĐ (H15)

Bước 2: Kiểm định độ tin cậy thang đo các nhân tố trong mô hình nghiên
cứu được thực hiện bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và hệ số
tương quan biến tổng.
Bước 3: Phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phàn mềm xử lý
SPSS 22 để loại bỏ tiêu chí quan sát không đáp ứng tiêu chuẩn.
Bước 4: Phân tích tương quan: Phân tích tương quan cho biết giữa các
biến nghiên cứu trong mô hình có quan hệ với nhau hay không. Nếu hệ số tương
quan bằng không thì có thể xem các biến là độc lập với nhau, hệ số tương quan
khác không có thể xem các biến có mối quan hệ với nhau.

Ki ểm toán độc lập (H10)

Trình độ chuyên môn nghiệp
vụ của BGĐ (H13)

Hành vi
gian lận
báo cáo
tài chính

Nhân tố về
thái độ

Bước 5: Phân tích hồi quy đa biến sẽ cho biết mức độ ảnh hưởng của từng
nhân tố đến hành vi gian lận BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam thông qua các hệ số hồi quy.

Mẫu nghiên cứu (đối
tượng khảo sát được lựa
chọn) để gửi phiếu khảo
sát

là các Kiểm toán viên độc
lập.
Thu thập dữ liệu:
Tổng số phiếu khảo sát
tác giả đã phát ra là 650
phiếu,
dưới 2 hình thức sau: Gửi
phiếu khảo sát qua mail và
gửi trực tiếp phiếu khảo sát
tới đối tượng khảo sát. Tổng
số phiếu khảo sát thu hồi
được là 485 phiếu hợp lệ


14

13
CHƯƠNG 4:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Kết quả thông tin nhân khẩu học của đối tượng khảo sát
Số lượng các đối tượng khảo sát trung bình trên 5 năm kinh nghiệm chiếm
tỷ lệ lớn hơn 90% và số lượng KTV có kinh nghiệm trong việc phát hiện gian
lận chiếm 76,7% thì việc khảo sát các KTV này để đưa ra nhận định về mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến hành vi gian lận BCTC tại các CTNY
trên TTCK Việt Nam là đáng tin cậy cho kết quả nghiên cứu của Luận án.

4.3.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo các nhân tố trong mô
hình nghiên cứu.
Kết quả sau khi kiểm định độ tin cậy của thang đo 15 nhân tố trong mô
hình nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi gian lận BCTC
của các CTNY trên thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả dựa vào hệ số
Cronbach Alpha và hệ số tương quan biến tổng đã loại ra hai tiêu chí đo lường là
Các hoạt động kiểm tra, giám sát và Mức độ thay đổi chính sách thuế vì có hệ số
tương quan thấp
4.3.3. Kết quả phân tích khám phá nhân tố EFA
Việc sử dụng phương pháp phân tích khám phá nhân tố sẽ giúp cho tác giả
tóm tắt từ nhiều biến quan sát thành những thành phần tiềm ẩn chính đại diện
được cho toàn bộ dữ liệu. Do phương pháp phân tích khám phá nhân tố không
có sự phân biệt giữa biến độc lập và biến phụ thuộc (Hair và cộng sự, 1998). Vì
thế, tác giả tiến hành phân tích khám phá nhân tố với các biến độc lập cùng một
lượt và các biến phụ thuộc trong mô hình được phân tích riêng. Để có thể áp
dụng được phân tích EFA thì các biến phải có liên hệ với nhau. Để đảm bảo nội
dung giải thích của các nhân tố thu được từ kết quả phân tích EFA, tác giả lựa
chọn các nhân tố có các tiêu chí:

-

Factor loading > 0.5
0.5 < KMO < 1
Kiểm định Bartlett test có Sig < 0.05
Phương sai giải thích > 50%

Bộ công cụ có phương sai giải thích ở mức khá cao, kết quả này cũng phù
hợp với kết quả của tác giả khi xây dựng bộ công cụ cũng như các tác giả trước
đã sử dụng. Giải thích cho điều này có thể thấy rằng mỗi một phần của bộ công


chỉnh cho biết mức độ (%) sự biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi biến

Phân tích hồi qui nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK tại Việt Nam. Do hệ số tương
quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc là khá chặt chẽ nên trước khi thực
hiện phân tích hồi quy cần kiểm tra đa cộng tuyến. Hiện tượng đa cộng tuyến
(Multicollinearity) là hiện tượng các biến độc lập có quan hệ gần như tuyến tính.
Việc bỏ qua hiện tượng đa cộng tuyến làm các sai số chuẩn thường cao hơn, giá
trị thống kê thấp hơn và có thể không có ý nghĩa. Để kiểm tra hiện tượng này, ta
sử dụng thước đo độ phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor - VIF) để
kiểm định hiện tượng tương quan giữa các biến độc lập. Điều kiện là VIF < 2 để
không có hiện tượng đa cộng tuyến Nguyễn Đình Thọ (2013), (Đinh Phi Hổ,
2014).

Mục tiêu của kiểm định này nhằm xem xét mối quan hệ tuyến tính giữa các
biến độc lập với biến phụ thuộc hay không. Mô hình được xem là không phù
hợp khi tất cả các hệ số hồi quy đều bằng không, và mô hình được xem là phù
hợp khi có ít nhất một hệ số hồi quy khác không. Phân tích phương sai (Analysis
of Variance - ANOVA) được sử dụng để kiểm định mức độ phù hợp của mô
hình. Nếu mức ý nghĩa đảm bảo có độ tin cậy ít nhất 95% (Sig. < 0,05), mô hình
được xem là phù hợp (Nguyễn Đình Thọ, 2013), (Đinh Phi Hổ, 2014).

Kết quả tại cho thấy VIF của các biến đưa vào mô hình là rất thấp, đều nhỏ
hơn 2. Vì vậy, hiện tượng đa cộng tuyến không xảy ra giữa các biến này.
Mức độ giải thích của mô hình

độc lập. Trong trường hợp này, có thể nói sự biến động của biến phụ thuộc (hành vi
gian lận BCTC) do tác động bởi các biến độc lập là 56%. Ngoài ra, hệ số Durbin –
Watson = 1,972 gần bằng 2 cho thấy không có hiện tượng tự tương quan.


Nguồn: kết quả phân tích từ phần mềm
SPSS

Hệ số hồi quy (Coefflcientsa)

Các hệ số trong mô hình hồi quy và mức ý nghĩa pvalue là những thông số quan trọng nhất để chúng ta đưa ra
kết luận về mối quan hệ giữa các biến trong mô hình hồi quy
đa biến.
Phương trình hồi quy:

Biến

GL = 2.682 + 0.038TC + 0.038AL + 0.035MT + 0.034NN 0.058HĐQT +0.046PL

Hệ số
chặn
TC
AL
MT
NN
KSNB
QM
1

HĐQT
PL
KTVM
KTĐL
KSNN
ĐĐ

0.001< 0.05. Điều này cho thấy việc CTNY có sử dụng công ty kiểm toán thuộc BIG4 thì có tác động
hạn chế hành vi gian lận BCTC so với các công ty không thuộc BIG4. Nhân tố kiểm soát của Nhà nước
đối với hành vi gian lận BCTC có hệ số beta = -0.205 với mức ý nghĩa thống kê = 0.000< 0.05, cho thấy
mức tác động của nhân tố này càng cao thì hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam
càng ít có cơ hội xảy ra. Các nhân tố đặc tính của HĐQT và trình độ chuyên môn của BGĐ cũng có mức
tương quan âm đến hành vi gian lận BCTC, cho thấy rằng mức độ tác động của các nhân tố này càng lớn
thì càng hạn chế được hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam.


19

20

CHƯƠNG 5
BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHUYẾN NGHỊ

(doanh nghiệp) sẽ giảm đi, nhà quản lý sẽ hạn chế vi phạm hợp đồng ràng buộc
và từ đó có thể tác động tích cực tới việc cung cấp thông tin nhằm công bố
những con số trung thực và hợp lý cho người sử dụng thông tin. Thông thường,
khi đánh giá một CTNY, các nhà đầu tư chủ yếu quan tâm tới khả năng sinh lời
của cổ phiếu hay thông tin về kết quả kinh doanh trên báo cáo tài chính
(Charfeddine, Riahi và Omri, 2013), do đó nếu CTNY hoạt động không có hiệu
quả, giá cổ phiếu giảm thì sẽ khó thu hút được nhà đầu tư. Do đó, để duy trì sự
ổn định tài chính, đạt được các mục tiêu tài chính, các CTNY trên TTCK Việt
Nam sẽ tìm cách thực hiện hành vi gian lận BCTC. Đây cũng là cơ sở để giúp
các nhà đầu tư đánh giá thận trọng hơn về hiệu quả kinh doanh của các CTNY
được thể hiện trên BCTC nhằm đưa ra được quyết định đầu tư chính xác nhất.
5.1.2. Nhóm nhân tố về Thái độ

5.1. Bàn luận kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi


Tiếp theo, nhóm nhân tố thứ hai tác động phổ biến tới gian lận trong lập
BCTC là nhóm nhân tố về Thái độ (BGĐ cố tình can thiệp vào chính sách kế
toán để chỉnh số liệu và BGĐ quan tâm quá mức cổ phiếu để duy trì hoặc tăng
giá cổ phiếu, BGĐ có tư cách đạo đức yếu kém, hạn chế KTV tiếp cận với nhân
viên và thông tin với BQT về hành vi gian lận trong lập BCTC). Dựa vào kết
quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy:
Nhân tố “Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của BGĐ” (ĐĐ) có quan hệ
thuận chiều với hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, có
hệ số = 0,156 với p-value = 0,000 < 0,05. Điều này có nghĩa là các CTNY trên
TTCK Việt Nam vi phạm về chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp càng cao thì khả
năng xảy ra hành vi gian lận BCTC càng lớn.
Nhân tố “Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của BGĐ ” (CM) có quan hệ
ngược chiều với hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, hệ
số = - 0.125 với p-value = 0,000 < 0,05. Điều này có nghĩa là việc BGĐ của
công ty có trình độ chuyên môn cao sẽ giúp cho nhận biết được rủi ro liên quan
đến công ty mình, phát hiện được các sai phạm trọng yếu để ngăn chặn được
hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam.
Nhân tố “Nhận thức, hiểu biết về pháp luật của BGĐ” (PL) có quan hệ
thuận chiều với hành vi gian lận BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam, hệ
số = 0.126 với p-value = 0,000 < 0,05. Điều này có nghĩa là Ý thức kém


21

22

trong việc tuân thủ pháp luật của BGĐ thì khả năng xảy ra hành vi gian lận
BCTC càng nhiều.


BCTC và ngành nghề hoạt động của CTNY” (NN) có quan hệ thuận chiều với hành

động lớn nhất tới hành vi gian lận BCTC so nhóm nhân tố cơ hội và áp lực.

vi gian lận BCTC của CTNY trên TTCK Việt Nam, có hệ số beta

= 0,100 và p-value = 0,003 < 0,05. Với kết quả này, Đặc điểm BCTC và ngành nghề
hoạt động của CTNY càng phức tạp thì khả năng thực hiện hành vi gian lận BCTC
của CTNY trên TTCK Việt Nam càng nhiều. Tại Việt Nam, các khoản mục/nghiệp vụ
trên BCTC của các CTNY trên thị trường chứng khoán thường phức tạp vì các khoản
mục như hàng tồn kho và các khoản đầu tư tài chính... là các khoản mục gặp khó

5.2. Các khuyến nghị
5.2.1. Khuyến nghị đối với các công ty niêm yết
Các CTNY cần hoàn thiện cơ chế quản trị công ty để thúc đẩy công
ty hoạt động hiệu quả, tăng cường giá trị doanh nghiệp, thu hút đầu tư vì
mục tiêu phát triển lâu dài và bền vững trên TTCK Việt Nam.
CTNY cần duy trì, thiết kế và nâng cao chất lượng hoạt động của BKSNB

khăn trong việc đánh giá tính trung thực, hợp lý. Điều này, sẽ càng gây khó khăn cho

để có thể ngăn ngừa được hành vi gian lận BCTC một cách hữu hiệu.

KTV trong việc thu thập các bằng chứng thích hợp, cũng như khả năng phát hiện

CTNY cần tự điều chỉnh để giảm thiểu các nhân tố tác động đến hành
vi gian lận BCTC

gian lận của KTV, vì vậy dẫn đến các ý kiến kiểm toán có thể không xác đáng, theo
đó sẽ là cơ hội để các CTNY thực hiện hành vi gian lận BCTC. Ngoài ra, kết quả


23

24

Các nhà đầu tư cần phải nâng cao trình độ, kiến thức để có thể có sự đánh

Nam như doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn
đầu tư nước ngoài,...

giá đầy đủ hơn về các thông tin trên BCTC, về quản trị công ty để có quyết sách

phù hợp trong việc ra quyết định đầu tư.
5.2.4. Khuyến nghị đối với Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam, Bộ

Tài chính và Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Thứ nhất là, tăng cường các chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm
trong lập BCTC của các CTNY.
Thứ hai là, tăng cường các biện pháp kỷ luật đối CTKT vi phạm quy
định về kiểm toán BCTC của các CTNY.
Thứ ba là, cập nhật chuẩn mực kế toán Việt Nam phù hợp với chuẩn
mực kế toán quốc tế.
Thứ tư là, xây dựng lộ trình nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các
thông tư hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán, đặc biệt các chuẩn mực
kiểm toán cơ bản trong đó bao gồm chuẩn mực kiểm toán VSA số 240.
Thứ năm là, đối với Hội KTV hành nghề Việt Nam bồi dưỡng và nâng
cao nghiệp vụ chuyên môn đối với KTV về kiểm toán gian lận
Thứ sáu là, Bộ Tài chính cần bổ sung VSA số 701 “Thông báo các
vấn đề kiểm toán quan trọng trong báo cáo kiểm toán của KTVĐL”.
Thứ bẩy là, đối với UBCKNN thành lập Ủy ban giám sát chất lượng

khảo sát là cán bộ thanh tra thuế và các chuyên gia điều tra gian lận giúp nhìn
nhận chính xác hơn về các hình thức gian lận BCTC.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status