Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam (tt) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ NHƢ TÙNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG
TÀI CHÍNH TOÀN CẦU GIAI ĐOẠN



Đ N

CHẤT LƢỢNG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.03.01

TÓM TẮT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm

15


Công trình đƣợc hoàn thành tại
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai


cuộc khủng hoảng nhà đất tại Mỹ và lan rộng ra toàn cầu, tác động
nghiêm trọng tới mọi tổ chức, doanh nghiệp, định chế tài chính, kinh
tế khác nhau, gây nên cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Khủng
hoảng tài chính toàn cầu cùng với sự đổ vỡ của các công ty dẫn đến
khủng hoảng đã làm gia tăng mức độ chỉ trích chất lượng kiểm toán
và gia tăng áp lực nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán. Việt Nam
với đặc thù là một nền kinh tế non trẻ, đang phát triển và hội nhập
sâu rộng với nền kinh tế thế giới đã chịu những ảnh hưởng nặng nề
của khủng hoảng tài chính đối với mọi mặt của nền kinh tế. Khủng
hoảng tài chính toàn cầu cũng đặt ra những áp lực to lớn tương tự đối
với kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong việc duy trì chất lượng


2
kiểm toán trong bối cảnh khó khăn tác động chung tới các doanh
nghiệp tại Việt Nam. Câu hỏi được đặt ra rằng liệu các công ty kiểm
toán, các kiểm toán viên tại Việt Nam ứng xử như thế nào trong
khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động của khủng hoảng tài
chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán tại Việt Nam.
Từ những vấn đề nêu trên, nhận thấy thực tiễn cần có một
nghiên cứu về chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính đối với các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khủng
hoảng tài chính, tác giả xin được thực hiện nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu giai
đoạn 2008 –

đ n chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các

công ty niêm y t trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu

sau kiểm toán, báo cáo kiểm toán trong phạm vi đối tượng và thời
gian nghiên cứu. Tiếp theo, tác giả tiến hành tính toán các dữ liệu thu
thập được và phân tích, mô tả mối quan hệ giữa các đối tượng trong
mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu tính toán, thu thập được.
Kết quả phân tích, mô tả này sẽ được sử dụng để đưa ra kết luận về
giả thuyết nghiên cứu.
6. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giúp các đối tượng sử dụng thông tin trên báo
cáo tài chính tại Việt Nam, bao gồm: Nhà đầu tư, cơ quan nhà nước,
các tổ chức tài chính, ngân hàng … nhận rõ được tác động của khủng
hoảng tài chính toàn cầu tới chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính
doanh nghiệp qua đó có những biện pháp phù hợp khi mà khủng
hoảng được nghiên cứu rằng mang tính chu kỳ.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng cung cấp một cơ sở thực tiễn về vấn
đề đại diện trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu.


4
7. Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng kiểm toán và đo
lường chất lượng kiểm toán
- Chương 2: Giả thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Phân tích và trình bày kết quả
- Chương 4: Kết luận từ kết quả nghiên cứu và một số kiến nghị
nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới
chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.



6
c. Khuôn khổ pháp lý
d. Văn phòng thực hiện kiểm toán
e. Nhiệm kỳ kiểm toán
f. Nhiệm kỳ đối tác kiểm toán
g. Tính độc lập của kiểm toán viên
h. Quy mô khách hàng
i. Các yếu tố khác
Các yếu tố khác được nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng đến chất
lượng kiểm toán bao gồm: Mức độ tăng trưởng của công ty, quỹ thời
gian kiểm toán, năng lực và khả năng phán đoán nghề nghiệp của
kiểm toán viên…
1.2.3. Mối quan hệ giữa chất lƣợng kiểm toán và chất lƣợng
báo cáo tài chính
a. Mối quan hệ giữa chất lượng kiểm toán và chất lượng báo
cáo tài chính.
Chất lượng kiểm toán là một phần của chất lượng báo cáo tài
chính (trong nghiên cứu này tác giả ngầm định báo cáo tài chính là
báo cáo tài chính sau kiểm toán) vì chất lượng kiểm toán làm tăng
chất lượng báo cáo tài chính (Defond và Zhang, 2013). Tuy nhiên
chất lượng kiểm toán không phải là thành phần duy nhất của chất
lượng báo cáo tài chính, chất lượng báo cáo tài chính còn bị ảnh
hưởng bởi chất lượng báo cáo tài chính trước kiểm toán được quyết
định bởi hệ thống báo cáo tài chính hay hệ thống thông tin tài chính
của công ty. Chất lượng kiểm toán có thể được suy ra từ chất lượng
lợi nhuận, chất lượng kiểm toán cao hơn là sự giảm bớt mức độ điều
chỉnh lợi nhuận và gia tăng tính thông tin của báo cáo tài chính.


7

8
- Sai sót trọng yếu.
- Ý kiến kiểm toán.
- Đánh giá của người sử dụng thông tin.
- Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh.
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng biến kế toán dồn tích có
thể điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán vì những
lợi thế của phép đo này bao gồm: Có thể điều chỉnh nắm bắt được sự
thay đổi nhỏ trong chất lượng kiểm toán và đồng nhất với nhận định
của tác giả về chất lượng kiểm toán là một biến biến đổi liên tục nên
tác giả cho rằng phù hợp khi sử dụng biến kế toán dồn tích có thể
điều chỉnh (DA) để đo lường cho chất lượng kiểm toán trong nghiên
cứu này. Ngoài ra một lợi thế khác của phép đo này mà tác giả cũng
cho rằng phù hợp trong nghiên cứu của tác giả là phép đo chất lượng
kiểm toán thông qua biến kế toán dồn tích (DA) phù hợp với một cỡ
mẫu nhỏ và một khung thời gian ngắn.
c. Các mô hình đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều
chỉnh
Có nhiều mô hình nghiên cứu quản trị lợi nhuận thông qua đo
lường biến toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA) trên thế giới nhưng
những mô hình phổ biến nhất bao gồm: The Healy Model (1985),
The DeAngelo Model (1986), The Jones Model (1991), Modified
Jones Model (1995), The Friedlan (1994).
Mô hình Modified Jones (1995) được xem là mô hình phổ biến
nhất và hiệu quả nhất để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều
chỉnh (DA) hay phát hiện hành vi quản trị lợi nhuận (Tianran, 2010),
tuy nhiên việc áp dụng mô hình này hay mô hình Jones (1991) đòi
hỏi một cơ sở dữ liệu quá khứ lâu dài cần thiết để ước lượng các
tham số trong mô hình. Đối tượng của nghiên cứu này là các công ty



10
toàn cầu đo đó toàn bộ hệ thống tài chính toàn cầu bị cuốn vào khủng
hoảng.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu gây ra những khó khăn cho hoạt
động của doanh nghiệp bao gồm nguy cơ hiệu quả hoạt động suy
giảm, kết quả kinh doanh thu lỗ, tình hình sản xuất đình đốn do đó
dẫn đến rủi ro kiểm toán cao hơn đối với kiểm toán viên.
1.3.2. Ảnh hƣởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới
Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã tác động mạnh tới nền
kinh tế Việt Nam với tư cách là nền kinh tế đang hội nhập sâu rộng
vào kinh tế toàn cầu. Việt Nam vừa mở rộng cánh cửa với thế giới
vào năm 2007 với việc trở thành thành viên chính thức của tổ chức
thương mại thế giới WTO thì năm 2008 Việt Nam đã phải đón nhận
cơn khủng hoảng kinh tế thế giới. Giai đoạn tăng trưởng GDP liên
tục trên mức 7% của kinh tế Việt Nam kết thúc, và suy giảm liên tục
trong hai năm khủng hoảng. Sự suy giảm này bao quát nhiều mặt của
nền kinh tế bao gồm: sản xuất kinh doanh, tiêu thụ, xuất khẩu, thị
trường chứng khoán…
Những khó khăn mà các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam
gặp phải trong bối cảnh khủng hoảng đặt ra cho các kiểm toán viên,
công ty kiểm toán một rủi ro kiểm toán lớn hơn. Cách thức các kiểm
toán viên, công ty kiểm toán tại Việt Nam đối phó với những rủi ro
này còn là dấu hỏi trong bối cảnh hoạt động kiểm toán trên thế giới
bị chỉ trích mạnh mẽ bởi những thất bại trong kiểm toán và sự nghi
ngờ về tính độc lập của các kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong
bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu.





12
H1: Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu.
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHI N CỨU
2.2.1. Chọn mẫu và dữ liệu thực hiện nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên từ tổng thể là các công ty
niêm yết giao dịch trên hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và
HOSE trong giai đoạn 2005 – 2009 nhưng không bao gồm các công
ty tài chính và ngân hàng.
2.2.2. Đo lƣờng chất lƣợng kiểm toán
a. Đo lường chất lượng kiểm toán
Nhiều nghiên cứu trên thế giới nhận định rằng biến kế toán dồn
tích có thể điều chỉnh (DA) là một trong những quan sát phổ biến
nhất để đại diện cho chất lượng lợi nhuận cũng như chất lượng kiểm
toán. Báo cáo tài chính đã được kiểm toán nhưng vẫn tồn tại hành vi
điều chỉnh lợi nhuận là sự phản ánh không thực tế tình hình lợi
nhuận cũng như hoạt động kinh tế của đơn vị tương ứng với sự suy
giảm chất lượng kiểm toán. Mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo
cáo tài chính sau kiểm toán đi ngược lại với mức độ trung thực của
thông tin mà báo cáo tài chính sau kiểm toán truyền tải tới cổ đông,
nhà đầu tư và đối tượng sử dụng khác về tình hình lợi nhuận và thực
tế hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị, đo đó mức độ gia tăng
điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính sau kiểm toán là đi ngược
lại với chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Trong nghiên cứu
này, tác giả tính toán biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DA)
dựa trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán của đơn vị nhằm đo
lường cho chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính. Đồng thời, trong


(TAt)

(DAt)

n

Doanh thut

(TAt-1)
Doanh thut-1

Trong đó:
iến ế toán

n t ch

(Total Accruals)

=

Lợi nhuận
au thuế

-

Lƣu chu ển tiền thuần
từ hoạt đ ng inh oanh

2.2.3 Mô hình nghiên cứu

hoảng.

ROA

Đo lường hiệu quả hoạt Lợi nhuận sau thuế / Tổng
động của công ty được kiểm tài sản
toán

BIG4

Nếu các công ty kiểm toán là 0= không được kiểm toán
một trong 4 công ty kiểm bởi 4 công ty kiểm toán
toán lớn: KPMG, E&Y, lớn
D&T hoặc PWC.

1= được kiểm toán bởi
một trong 4 công ty kiểm
toán lớn.

LOSS (LỖ)

Đo hiệu quả hoạt động của 0 = lợi nhuận sau thuế>0
công ty được kiểm toán

1 = lợi nhuận sau thuế
thống kê lớn nhất được tìm thấy là mối quan hệ tương quan thuận
giữa biến BIG4 và biến LNASSET với hệ số tương quan là 0.506.
Tương quan nghịch có ý nghĩa lớn nhất được tìm thấy là mối tương
quan giữa biến ROA và biến LOSS với hệ số tương quan là -0.400.
Hai mối quan hệ tương quan có ý nghĩa thống kê đáng chú ý được
phát hiện là mối quan hệ giữa biến ROA và biến ABSDA, giữa biến
LOSS và biến ABSDA cho thấy mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt


16
động và mức độ điều chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính (nghiên
cứu này mặc định rằng báo cáo tài chính là báo cáo tài chính sau
kiểm toán).
Mối quan hệ chính mà nghiên cứu này tìm hiểu là mối tương
quan giữa biến CRISIS và biến ABSDA, hệ số tương quan có ý
nghĩa thống kê giữa hai biến này là 0.229 là tương đối lớn, chỉ ra
rằng trong khủng hoảng thì các công ty niêm yết có mức độ điều
chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính cao hơn so với bình thường và
chỉ báo cho một chất lượng kiểm toán có khả năng bị suy giảm trong
khủng hoảng tài chính.
c. Phân tích hồi quy
Mô hình nghiên cứu được biểu diễn dưới dạng phương trình hồi
quy tuyến tính đa biến có dạng như sau:
ABSDA = β1 + β2ROA +β3 IG4 + β4LOSS + β5LNASSET +
β6GROWTHASSET + β7CRISIS + Ɛi
Thực hiện hồi quy các biến nghiên cứu trong mô hình ta được
bảng 3.7. Ý nghĩa thống kê của mô hình được thể hiện bởi giá trị sig
= 0.000 tức vô cùng bé hay mô hình thật sự có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.7 Bảng tổng hợp kết quả h i quy sau khi loại trừ các biến
không phù hợp trong mô hình

Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến chất lượng
kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam được xác nhận khi tồn tại mối quan hệ có ý
nghĩa thống kê giữa biến ABSDA đo lường cho chất lượng kiểm
toán và biến CRISIS đại diện cho giai đoạn khủng hoảng tài chính
toàn cầu với hệ số của biến CRISIS là 0.084 cho thấy chất lượng
kiểm toán suy giảm trong khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa
thống kê giữa biến ROA và biến LOSS với biến ABSDA. Hệ số hồi
quy của biến ROA là -0.334 và đây cũng là biến tác động mạnh nhất
đến biến ABSDA trong mô hình, điều này cho thấy nếu hiệu quả
hoạt động kinh doanh của công ty niêm yết bị suy giảm thì công ty sẽ
có động lực lớn để tăng cường điều chỉnh lợi nhuận tương ứng với
chất lượng báo cáo tài chính bị suy giảm. Hệ số hồi quy của biến
LOSS là 0.312 chỉ ra rằng nếu công ty có kết quả hoạt động kinh
doanh thua lỗ thì công ty sẽ tăng cường điều chỉnh lợi nhuận tương
ứng với sự suy giảm chất lượng kiểm toán hay việc thua lỗ trong
hoạt động kinh doanh của công ty là một trong những động lực khiến
doanh nghiệp tăng cường điều chỉnh lợi nhuận khiến cho chất lượng
kiểm toán suy giảm trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và chất
lượng kiểm toán trong bối cảnh suy giảm chất lượng kiểm toán trong
khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến kết luận rằng sự thất bại của
kiểm toán viên và công ty kiểm toán tại Việt Nam trong việc ứng phó
với rủi ro suy giảm chất lượng kiểm toán mà khủng hoảng tài chính
toàn cầu mang đến là một trong những nguyên nhân làm suy giảm


18
chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết tại Việt

chỉnh lợi nhuận trên báo cáo tài chính cao hơn. Điều này đặt ra câu
hỏi về vai trò của các kiểm toán viên, công ty kiểm toán trong việc
đối phó với rủi ro của khủng hoảng tài chính toàn cầu khi các doanh
nghiệp có kết quả hoạt động không thuận lợi thường có một mức độ
điều chỉnh lợi nhuận cao hơn trên báo cáo tài chính của mình. Chất
lượng kiểm toán suy giảm trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn
cầu do đó có nguyên nhân quan trọng bởi sự thất bại trong việc đối
phó với rủi ro mà cuộc khủng hoảng này mang lại của kiểm toán viên
và công ty kiểm toán.
Kết quả phân tích các biến trong mô hình bao gồm biến LOSS,
ROA và biến CRISIS cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với
biến ABSDA như đã phân tích ở trên đây chứng minh cho giả thuyết
được đưa ra rằng: “Chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam suy giảm trong
khủng hoảng tài chính toàn cầu” là đúng.
3.2.2. Kiểm tra các điều kiện vận dụng mô hình
a. Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến
Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho kết luận rằng mô hình
nghiên cứu không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến.
b. Kiểm tra hiện tượng tự tương quan
Kiểm tra hiện tượng tự tương quan cho kết luận rằng mô hình
nghiên cứu không tồn tại hiện tượng tự tương quan.


20
CHƢƠNG 4
K T LUẬN TỪ K T QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ
KI N NGHỊ NHẰM GIẢM THIỂU ẢNH HƢỞNG CỦA KHỦNG
HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU TỚI CHẤT LƢỢNG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÁC CÔNG TY NIÊM Y T TRÊN

công ty niêm yết trong khủng hoảng tài chính toàn cầu là một trong
những nguyên nhân khiến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các
công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam suy giảm
trong khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Kết quả nghiên cứu cũng dẫn đến kết luận rằng các công ty kiểm
toán và kiểm toán viên tại Việt Nam đã thất bại trong việc đối phó
với rủi ro của khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn đến chất lượng
kiểm toán báo cáo tài chính các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam suy giảm trong khủng hoảng. Kết quả này là
phù hợp với những chỉ trích của Sikka (2009) nhằm vào chất lượng
kiểm toán trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu. Thất bại
của các kiểm toán viên và công ty kiểm toán khi đối phó với khủng
hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến sự suy giảm chất lượng kiểm toán
tại Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng có thể do các kiểm toán
viên, công ty kiểm toán không có biện pháp đối phó với khủng hoảng
tài chính toàn cầu hoặc những biện pháp đối phó mà họ đưa ra là
không phù hợp.
Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận rằng vai trò quan trọng của
kiểm toán trong việc giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin, mâu
thuẫn lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp đặc biệt
trong điều kiện khủng hoảng tài chính bị suy yếu hay thậm chí không
phát huy được vai trò của mình. Chất lượng thông tin trên thị trường


22
chứng khoán vì thế cũng có thể bị suy giảm trong điều kiện khủng
hoảng tài chính toàn cầu.
4.2. CÁC KI N NGHỊ
Tác giả đưa một số kiến nghị cho các bên liên quan nhằm mục
đích nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các công ty

đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình.
+ Hiệp hội nghề nghiệp kế toán – kiểm toán và Bộ Tài chính cần
tổ chức thường xuyên các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức
chuyên môn kế toán – kiểm toán, tài chính – chứng khoán, nhằm
nâng cao năng lực của kiểm toán viên khi kiểm toán trong bối cảnh
môi trường tài chính, chứng khoán ngày càng phức tạp, đa dạng hóa
như hiện nay.
+ Các khuôn khổ mà các hoạt động kiểm toán tuân thủ ảnh
hưởng đến chất lượng kiểm toán nên việc Hiệp hội nghề nghiệp và
các cơ quan chính phủ cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống các quy
định, văn bản, các cơ chế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kế
toán, kiểm toán, tính minh bạch hay chất lượng thông tin công bố là
yêu cầu cần thiết để cải thiện chất lượng hoạt động kiểm toán.
Các cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư và các đối tượng khác cần
có các biện pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của việc suy giảm hiệu
quả của kiểm toán đến hoạt động đầu tư, cho vay … của mình. Tác
giả đồng thời đưa ra một số ý kiến như là công cụ bổ trợ cho kiểm
toán trong việc giải quyết vấn đề đại diện trong doanh nghiệp dưới
ảnh hưởng suy giảm hiệu quả của kiểm toán trong khủng hoảng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status