BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. MAI THỊ HOÀNG MINH
TS. HUỲNH LỢI
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016
1
Công trình hoàn thành tại: ........................................................................................................
Người hướng dẫn khoa học: .....................................................................................................
...................................................................................................................................................
Phản biện 1: ..............................................................................................................................
Phản biện 2: ..............................................................................................................................
Phản biện 3: ..............................................................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại: ............................
...................................................................................................................................................
Vào hồi
cải thiện chất lượng thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần
lành mạnh hóa thị trường và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
a. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng báo cáo tài chính đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết
trên TTCK tại Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên
quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty
niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay.
b. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của luận án đặt ra ở trên, nội dung chính của luận án cần phải
trả lời được các câu hỏi sau:
1. Thực trạng thực chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của
các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay là gì?.
3
2. Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng
lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay?.
3. Cần đề xuất một số kiến nghị nào đối với các đối tượng liên quan đến việc trình
bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK
Việt Nam hiện nay?.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, cụ thể là báo
cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố, báo cáo thường niên của các công ty niêm yết
tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2014.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC
các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK tại Việt Nam niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch
- Về mặt thực tiễn:
+ Kết quả nghiên cứu cho thấy, thực trạng chất lượng về BCTC của các công ty
niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay chưa cao. Theo tìm hiểu của tác giả, luận án này là
một trong số những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá thực trạng chất lượng
BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK thông qua phương pháp tiếp cận đo lường
BCTC bằng chất lượng lợi nhuận, đặc biệt đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên cả 2 cơ
sở là dựa trên cơ sở kế toán và dựa trên cơ sở thị trường với việc sử dụng dữ liệu thứ cấp
(số liệu được trình bày trên BCTC) và cập nhật mới nhất giai đoạn 2012 - 2014 (số liệu
trên BCTC cập nhật đến năm 2014), vì vậy, kết quả phân tích thực trạng chất lượng BCTC
của các công ty niêm yết trên TTCK trong luận án này phản ánh đúng thực tế theo số liệu
các công ty công bố trên BCTC chứ không phải dựa trên quan điểm đánh giá của các đối
tượng về chất lượng BCTC như các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam.
+ Với mô hình đề xuất có khá nhiều các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC của
các Công ty niêm yết được đưa vào để kiểm định và kết quả của luận án cho thấy có đến
17 trong tổng số 23 nhân tố được kiểm định có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các
công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.
+ Dựa trên kết quả về đánh giá thực trạng chất lượng BCTC trong giai đoạn 20122014, chi tiết theo từng năm và thậm chí chi tiết theo từng ngành, kết quả về các nhân tố
ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các Công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, những
5
kết quả này là cơ sở khoa học khá hữu ích cho các đối tượng quan tâm như các nhà quản
trị công ty, KTV, các nhà đầu tư, cơ quan ban hành chính sách, ủy ban chứng khoán Nhà
nước, các sở giao dịch chứng khoán... tham khảo để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng thông tin trên BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam cũng như tham
khảo trong việc sử dụng thông tin trên BCTC nhằm đưa ra các quyết định có liên quan một
cách hiệu quả.
6. Kết cấu của luận án
Chương 1: Tổng quan về các nghiên cứu trước có liên quan về đo lường chất lượng
đánh giá các khía cạnh và kích thước của thông tài chính và thông tin phi tài của BCTC
nhằm xác định tính hữu ích của thông tin tài chính đó. Phương pháp đo lường chất lượng
BCTC theo đặc điểm chất lượng đó là chất lượng BCTC được đánh giá dựa trên các thang
đo được xây dựng dựa trên các đặc điểm chất lượng của FASB đó là 2 đặc điểm cơ bản:
Thích hợp và đáng tin cậy và 2 đặc điểm thứ yếu: Nhất quán và có thể so sánh, các đặc
điểm chất lượng của IASB đó là có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và có thể so
sánh được và các đặc điểm theo quan điểm của dự án hội tụ của FASB và IASB đó là 2 đặc
điểm nền tảng: Thích hợp và trình bày trung thực và 4 đặc điểm bổ sung bao gồm có thể so
sánh, có thể kiểm chứng, tính kịp thời và có thể hiểu được.
7
Trước đây, có nhiều nghiên cứu về đặc điểm chất lượng BCTC. Các nghiên cứu
xoay quanh những vấn đề như đánh giá các đặc điểm chất lượng, các nhân tố ảnh hưởng
đến đặc điểm chất lượng hay các đặc điểm chất lượng trên khía cạnh quan điểm của người
sử dụng nói chung hay KTV, nhà đầu tư nói riêng…như nghiên cứu của Jonas and Blanchet
(2000), Beest và các cộng sự (2009), Beest và Braam (2011), Jara và các cộng sự (2011),
Bauwhede (2001), Saheli & Nassirzadeh (2012), Terzungwe (2013), Tasios (2012),
Obaidat (2007).
Không nhằm vào các mục đích đo lường chất lượng lợi nhuận, đánh giá các yếu tố
chi tiết của BCTC, mục đích hướng đến của phương pháp trên là đánh giá mức độ hữu ích
của thông tin thông qua các đặc điểm chất lượng. Lợi ích có được từ phương pháp là sự tập
trung nghiên cứu vào các đặc điểm chất lượng, trong khi các mô hình khác tập trung vào
các khía cạnh của việc quản trị lợi nhuận hay giá cả của cổ phiếu. Tuy nhiên, hạn chế của
phương pháp này là khó xác định thang đo cho các đặc điểm chất lượng, đồng thời, chính
vì đánh giá này dựa trên cơ sở thang đo nên nó còn có hạn chế là kết quả thu thập được
không có độ tin cậy cao vì nó phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người đánh giá và mang
tính cảm tính cao như người đánh giá này cho điểm chỉ tiêu này đối với BCTC cao nhưng
có thể theo quan điểm của người khác là chưa cao.
1.1.2.2. Một số mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên giá trị thích hợp của
thông tin kế toán
Trong số các mô hình dựa trên giá trị thích hợp của thông tin kế toán sử dụng để đo
lường chất lượng lợi nhuận, tác giả đã lựa chọn mô hình EBO điều chỉnh là 1 trong 2 mô
hình đo lường chất lượng BCTC trong luận án này. Các nghiên cứu của Abubakar (2011),
Hassan (2012) và Ahmed (2012) cũng đã sử dụng mô hình này để đo lường biến phụ thuộc,
chất lượng BCTC trong nghiên cứu của họ.
Có rất nhiều nghiên cứu trước đây đo lường chất lượng BCTC bằng chất lượng lợi
nhuận, cả những nghiên cứu sử dụng chất lượng BCTC là biến độc lập cũng như với vai
trò là biến độc lập như các nghiên cứu: Choi và Pae (2011), Gajevszky (2015), Darabi và
các cộng sự (2012), Hashim (2012) và Alzoubi (2012)
Ngoài ra, còn khá nhiều các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng
BCTC đã sử dụng chất lượng lợi nhuận để đo lường biến phụ thuộc này được tác giả trình
bày trong luận án.
1.2. Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC thông
qua đo lường chất lượng lợi nhuận
1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
9
Có khá nhiều các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
BCTC, đặc biệt là chất lượng lợi nhuận trong BCTC, các nhân tố này bao gồm cả các nhân
tố bên trong và bên ngoài công ty, các nghiên cứu đó là Dechow và các cộng sự (2010),
Qinghua và các cộng sự (2007), Radzi và các cộng sự (2011), Alves (2014), Hassan
(2013), Healy (1985), Gaver và các cộng sự (1995), Holthausen và các cộng sự (1995),
Abed và các cộng sự (2012), Waweru và Riro (2013), Ahmed (2013), Aygun và các cộng
sự (2014), Hassan (2012), Habib & Azim (2008), Jamaluddin và các cộng sự (2009), Klai
(2011), Chalaki và các cộng sự (2012)
Ngoài ra, còn khá nhiều nghiên cứu liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến BCTC nhưng chỉ ở mức độ công bố thông tin,
chất lượng BCTC đo lường theo đặc điểm chất lượng và các nhân tố được phân tích, kiểm
định chưa được quan tâm nhiều hoặc có nghiên cứu cũng đã phân tích nhân tố ảnh hưởng
nhưng tập trung vào tính minh bạch của BCTC.
1.3. Khe hổng nghiên cứu
Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới có liên
quan đến luận án, có thể nói rằng, chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng là một
trong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt
quan tâm. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Mặt khác, cùng trong
một quốc gia cũng đã có nhiều nghiên cứu cùng về chất lượng BCTC nhưng họ đã tiếp cận
nhiều cách khác nhau để đo lường nó. Hầu như các công trình nghiên cứu này cũng sử
dụng phương pháp nghiên cứu định lượng tiếp cận theo quy trình từ các nghiên cứu trước,
lý thuyết nền tảng và đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi quốc gia để xây dựng mô hình và
kiểm định mô hình. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường mang tính chất riêng lẻ và chủ yếu
tập trung nhiều nhất vào các nhân tố thuộc quản trị công ty, mỗi nghiên cứu chỉ tập trung
vào một nhóm nhân tố nào đó như quản trị công ty, đặc điểm công ty và có những công
trình chỉ nghiên cứu khá ít nhân tố là 1, 2 nhân tố.
Đối với thực trạng Việt Nam trong việc thực hiện các công trình nghiên cứu liên
quan đến chủ đề các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, như tác giả đã tổng quan
các công trình nghiên cứu đã thực hiện ở Việt Nam ở phần trên, tác giả có một số nhận xét
như sau:
- Tại các quốc gia trên thế giới việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến BCTC
được thực hiện sớm hơn so với Việt Nam, tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các nhà
nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã quan tâm nhiều hơn và đã có những công trình nghiên
cứu liên quan đến chủ đề này.
11
- Các nhà nghiên cứu cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc nghiên cứu
12
lý DN, KTV, ngân hàng, các nhà đầu tư và các đối tượng khác có liên quan trong bối cảnh
thực trạng chất lượng BCTC của các DN Việt Nam đáng lo ngại như hiện nay.
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Nội dung chính của chương này là tác giả phân tích các lý thuyết nền tảng có liên
quan để tác giả có cơ sở kết hợp với nội dung trong chương 1 xây dựng mô hình nghiên
cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu, giúp thực hiện mục tiêu chính của luận án,
ngoài ra, để giúp người đọc có thể tiếp cận dễ dàng nội của luận án, trong chương này, tác
giả cũng đã giới thiệu một số khái niệm và thuật ngữ quan trọng.
2.2. Lý thuyết nền tảng có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC.
Như nội dung tác giả đã trình bày ở phần trên, có khá nhiều công trình trên thế giới
nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC và kết quả của các nghiên cứu
này cho tìm thấy có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Tuy nhiên, kết quả
của các nghiên cứu không giống nhau, có nhân tố trong nghiên cứu này không có tác động
nhưng trong nghiên cứu khác lại có tác động, thêm vào đó cũng có trường hợp nhân tố tác
động thuận chiều đến chất lượng BCTC ở nghiên cứu này nhưng lại có kết quả ngược
chiều ở nghiên cứu khác. Vì vậy, để có cơ sở cho việc tác giả phát triển giả thuyết nghiên
cứu từ mô hình nghiên cứu trong luận án, tác giả thực hiện việc phân tích các lý thuyết nền
tảng có liên quan, các lý thuyết đó là lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực,
lý thuyết chi phí chính trị, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết chi phí độc quyền và lý thuyết hợp
đồng.
2.3. Mô hình nghiên cứu
2.3.1. Mô hình nghiên cứu của luận án.
Dựa vào các nghiên cứu trước đây có liên quan và kết quả của nghiên cứu định tính,
tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC bao
gồm biến phụ thuộc chất lượng BCTC và 23 biến độc lập (nhân tố) và chia làm 5 nhóm
trước có liên quan về các phương pháp đo lường chất lượng BCTC, các nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng BCTC, để trên cơ sở đó xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Tuy nhiên, ngoài
những nhân tố được đưa vào mô hình dựa từ những nghiên cứu trước, dựa vào quan điểm
của tác giả về đặc điểm của Việt Nam, tác giả đã dự kiến đưa thêm 4 nhân tố vào mô hình
mà chưa được nghiên cứu từ các nghiên cứu trước, để có cơ sở giúp tác giả quyết định có
đưa các nhân tố này thêm vào mô hình hay không tác giả đã sử dụng phương pháp định
14
tính bằng kỹ thuật thu thập dữ liệu là thảo luận xin ý kiến của các chuyên gia (5 chuyên gia)
về việc có nên đưa 4 nhân tố mà tác giả đã gợi ý vào thêm trong mô hình hay không, đồng
thời, tác giả thiết kế thêm câu hỏi mở để xin thêm ý kiến của các chuyên gia với nội dung
là “Ngoài 4 nhân tố trên, còn có nhân tố nào có thể ảnh hưởng đến chất lượng BCTC hay
không? Vì sao?” Sau khi có kết quả thảo luận với các chuyên gia, tác giả đưa ra mô hình
nghiên cứu chính thức và phát triển các giả thuyết nghiên cứu. Kế tiếp tác giả sử dụng
phương pháp định lượng xây dựng thang đo cho các biến, thu thập dữ liệu và kiểm định
các giả thuyết đặt ra. Khác với các nghiên cứu trước đây có liên quan đều sử dụng phương
pháp định lượng, trong khi nghiên cứu này lại sử dụng phương pháp hỗn hợp nghĩa là cũng
sử dụng phương pháp chính là phương pháp định lượng nhưng có thêm phương pháp định
tính vì nghiên cứu này có đưa thêm một số nhân tố mới, vì vậy, theo tác giả sử dụng
phương pháp hỗn hợp này là phù hợp.
3.1.2. Quy trình nghiên cứu
Như đã trình bày ở phần trên, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, vì
vậy quy trình nghiên cứu của luận án được xác định là quy trình hỗn hợp, kết hợp nghiên
cứu định tính và nghiên cứu định lượng, theo 4 bước cụ thể:
Bước 1: Tổng hợp và đúc kết các nghiên cứu trước đây liên quan đến việc đo lường chất
lượng BCTC, liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin trên BCTC. Hệ
thống hóa một cách đầy đủ về các lý thuyết nền tảng liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng
Đo lường theo mô hình EBO điều chỉnh.
Pit = β0 + β1BVit + β2EPSit + β3EPS1it + εit (8)
3.2.2.2. Đo lường biến độc lập
Mô hình hồi quy của luận án bao gồm 23 biến độc lập. Tên biến, ký hiệu biến và
phương pháp đo lường các biến độc lập này được chi tiết trong luận án.
3.3. Thiết kế nghiên cứu
3.3.1. Mẫu nghiên cứu
Vào thời điểm 31/12/2014, tổng số công ty niêm yết trên cả 2 sàn của Việt Nam là
662 công ty, trong đó TTCK thành phố Hồ Chí Minh là 303 công ty, TTCK Hà Nội là 359
công ty. Trong luận án này, tác giả thực hiện thu thập trên 2 nhóm mẫu, nhóm mẫu thứ
nhất sử dụng để thu thập số liệu nhằm đo lường biến phụ thuộc chất lượng BCTC, nhóm
16
mẫu này tác giả áp dụng chọn mẫu theo phương pháp phi ngẫu nhiên (phương pháp chọn
mẫu thuận tiện) đó là các công ty có BCTN (trong đó có bao gồm BCTC) của công ty
niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch có đầy đủ thông tin các chỉ tiêu cần thu thập, ngoài ra, tác
giả trừ ra tất cả các công ty thuộc ngành Tài chính, Ngân hàng và Bảo hiểm, bởi vì các
công ty thuộc các ngành này, các quy định hiện hành về lập và trình bày báo cáo tài chính
không hoàn toàn đồng nhất với các công ty thuộc các ngành còn lại trong toàn bộ mẫu này.
Kết quả có 394 công ty trong mỗi năm 2012, 2013 và 2014 và tổng số công ty mẫu trong 3
năm là 1,182 công ty mẫu được sử dụng. Dựa trên 394 công ty mẫu này, đầu tiên, tác giả
cũng áp dụng chọn mẫu theo phương pháp phi ngẫu nhiên (phương pháp chọn mẫu thuận
tiện) và tác giả lựa chọn được 123 công ty cho mỗi năm 2012, 2013 và 2014 với tổng số
quan sát trong 3 năm 369, tuy nhiên trong số này có 86 quan sát không có đầy đủ thông tin
liên quan đến 23 biến độc lập (do một số thông tin mang tính chất tự nguyện cần thu thập),
vì vậy mẫu cuối cùng bao gồm 283 quan sát để làm mẫu nghiên cứu chính thức cho luận
án.
3.3.2. Thu thập dữ liệu
hưởng của các nhân tố đến chất lượng BCTC:
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC được các nhà nghiên
cứu trên nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm bởi thông tin trên BCTC được rất
nhiều đối tượng dựa vào đó để đưa ra các quyết định kinh tế. Tuy nhiên, tại Việt Nam còn
khá ít các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này. Trong chương này này sẽ phân tích thực
trạng chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, đồng thời cũng
phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết này.
4.1. Phân tích thực trạng chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt
Nam hiện nay.
4.1.1. Phân tích thực trạng chất lượng BCTC đo lường theo QTLN
Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng BCTC được đo lường bằng QTLN của các
công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam so với một số quốc gia khác trên thế giới qua các
nghiên ở mức trung bình, trị trung bình QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt
Nam thấp hơn Ai cập, Iran và Malaysia với mức QTLN trung bình tương ứng 0.9875,
0.7410 và 1.7699. Tuy nhiên, mức QTLN trung bình của các công ty niêm yết tại Việt
18
Nam còn cao hơn nhiều với một số quốc gia khác như Thổ Nhĩ kỳ, Jordan,và Úc với mức
QTLN trung bình tương ứng 0.0077, 0.1330 và 0.0624 và xấp xỉ với các nước thuộc Châu
Mỹ La tinh với mức QTLN trung bình là 0.2370.
Mức QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2012-2014
với mức trị trung bình 0.2032428. Trong giai đoạn này, chất lượng BCTC năm 2013 thấp
nhất với mức trị trung bình của QTLN cao nhất 0.2887321, năm 2012 mức trị trung bình
của QTLN thấp hơn 2013 với mức 0.1829587. Như vậy, mức QTLN tăng từ 2012 đến
2013 nghĩa là chất lượng BCTC giảm xuống từ năm 2012 đến năm 2013. Tuy nhiên, đến
năm 2014, chất lượng BCTC tăng lên đáng kể so với cả 2 năm 2012 và 2013, thể hiện qua
(1) Các biến độc lập không có tương quan với nhau (không có hiện tượng đa cộng tuyến).
Kết quả cho thấy không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.
(2) Giả định phân phối chuẩn của phần dư.
Kết quả cho thấy phần dư trong mô hình nghiên cứu này có phân phối chuẩn.
(3) Giả định phương sai của sai số không đổi.
Kết quả cho thấy mô hình này có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi.
(4) Giả định về tự tương quan.
Kết quả cho thấy mô hình có xảy ra hiện tượng tự tương quan bậc 1.
Kết luận: Theo kiểm định về 4 giả định của mô hình, có 2 giả định không bị vi
phạm đó là hiện tượng đa cộng tuyến, phân phối chuẩn của phần dư. Tuy nhiên, 2 giả định
còn lại đã bị vi phạm đó là phương sai không đổi và tự tương quan.
Để khắc phục các vi phạm giả định này, tác giả phải thực hiện hồi quy mô hình 1
bằng ước lượng bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS), phương pháp áp dụng này
cũng giống phương pháp nghiên cứu của Rafiee và các cộng sự (2014) thực hiện.
4.3.2.3. Kết quả hệ số Beta và mức ý nghĩa thống kê theo mô hình 1.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 23 biến độc lập đưa vào mô hình, kết quả phân
tích hồi quy mô hình 1 cho thấy có 11 biến có tác động đến chất lượng BCTC. Trong số 11
biến có tác động đến biến phụ thuộc (chất lượng BCTC), có 5 biến có tác động thuận chiều
đến chất lượng BCTC đó là tính kiêm nhiệm giữa chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập
của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng và thời
gian niêm yết. Có 6 biến có tác động ngược chiều đến chất lượng BCTC đó là quyền sở
hữu bởi tổ chức, khả năng thanh toán hiện hành, quy mô công ty, loại ngành công nghiệp,
lợi nhuận (ROE) và chính sách chia cổ tức. Các biến còn lại bao gồm quyền sở hữu vốn
của nước ngoài, quyền sở hữu vốn Nhà nước, quyền sở hữu vốn nhà quản lý và sự tập
20
trung quyền sở hữu, quy mô HĐQT, mức độ thường xuyên của các cuộc họp của HĐQT,
đòn bẩy tài chính, tuổi của công ty, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm toán, tính trì
tích hồi quy mô hình 2 thì có 10 biến có tác động đến chất lượng BCTC. Trong số 10 biến
có tác động đến biến phụ thuộc (chất lượng BCTC), có 3 biến có tác động thuận chiều đến
chất lượng BCTC đó là đòn bẩy tài chính, loại công ty kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC.
Có 7 biến có tác động ngược chiều đến chất lượng BCTC là quyền sở hữu vốn của nước
ngoài, quy mô công ty, triển vọng phát triển, Loại hình công nghiệp, tính trạng niêm yết,
Lợi nhuận (ROE), Chính sách chia cổ tức. Ngoài ra, 13 biến còn lại bao gồm quyền sở hữu
vốn của Nhà nước, quyền sở hữu vốn của tổ chức, quyền sở hữu vốn của nhà quản lý và sự
tập trung quyền sở hữu, quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính
độc lập của HĐQT, mức độ thường xuyên của các cuộc họp của HĐQT, mức độ chuyên
môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng, khả năng thanh toán hiện hành, tuổi
của công ty, thời gian niêm yết không có tác động đến biến chất lượng BCTC xét về mặt ý
nghĩa thống kê.
4.4. Tổng hợp kết quả phân tích cả 2 mô hình và bàn luận kết quả
Tổng hợp kết quả của 2 mô hình cho thấy có tổng số 17 biến có tác đến biến phụ
thuộc chất lượng BCTC bao gồm: Quyền sở hữu vốn bởi nước ngoài, Quyền sở hữu vốn
bởi tổ chức, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập của HĐQT, mức độ
chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng, đòn bẩy tài chính, khả năng
thanh toán hiện hành, quy mô công ty, thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, loại công ty
kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC, loại hình công nghiệp, lợi nhuận (ROE), triển vọng
phát triển và chính sách chia cổ tức. Có 6 biến còn lại gồm quyền sở hữu vốn bởi Nhà
nước, quyền sở hữu vốn bởi nhà quản lý, sự tập trung quyền sở hữu, quy mô HĐQT, mức
độ thường xuyên của các cuộc họp của HĐQT và tuổi của công ty không có ảnh hưởng
đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam.
CHƯƠNG 5. NHẬN XÉT VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
5.1. Nhận xét chung
Trong phần nhận xét chung này, tác giả không chỉ chú trọng vào những kết quả có
liên quan đến việc cần thiết đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng BCTC, mà
còn lưu ý đối với những đối tượng có liên quan khi sử dụng thông tin trên BCTC. Theo kết
quả phân tích ở chương V, thực trạng chất lượng BCTC thông qua cả 2 tiêu chí đo lường
- Các công ty kiểm toán không thuộc Big 4 cần tăng cường hơn nữa về chất lượng
kiểm toán khi thực hiện kiểm toán BCTC của các công ty khách hàng, đặc biệt là các công
ty niêm yết trên TTCK nhằm đảm bảo quyền lợi của người sở hữu DN, đồng thời, nâng
23
cao thương hiệu cho chính các công ty kiểm toán.
- Kiểm toán viên hoặc đại diện công ty kiểm toán cần yêu cầu các công ty cổ phần
niêm yết mà mình thực hiện kiểm toán BCTC phải yêu cầu họ mời mình tham dự họp Đại
hội đồng cổ đông thường niên để phát biểu ý kiến tại Đại hội đồng cổ đông về các vấn đề
liên quan đến Báo cáo tài chính năm trong trường hợp Báo cáo kiểm toán có các khoản
ngoại trừ trọng yếu.
- Các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam khi thực hiện kiểm toán BCTC cho
khác hàng đặc biệt là đối với các công ty niêm yết cần tăng cường hơn nữa tính độc lập
của KTV đối với khách hàng vì càng độc lập, càng thiên về lợi ích công chúng hơn lợi ích
của khách hàng.
- Các công ty kiểm toán không vì mọi cách để ký được hợp đồng với khách hàng
mà chấp nhập mức giá phí thấp không bù đắp được chi phí bỏ ra cho thực hiện hợp đồng
kiểm toán theo đúng quy định của chuẩn mực kiểm toán và phải đảm bảo một cuộc kiểm
toán có chất lượng.
- Cần tăng cường kiểm soát chất lượng kiểm toán độc lập từ bên trong.
5.2.3. Đối với các công ty niêm yết
- Tăng cường vai trò giám sát và thực hiện cải thiện báo cáo tình hình giám sát của
HĐQT và BKS đối với BGĐ.
- Cần phải mời công ty kiểm toán và KTV tham dự trong đại hội cổ đông nhằm tăng
cường vai trò của kiểm toán độc lập.
- Các công ty cổ phần niêm yết, đặc biệt là các cổ đông (những người sở hữu vốn)
nhằm tăng cường độ tin cậy của thông tin trên BCTC, bảo về quyền lợi của mình, cần phải
thận trọng hơn trong việc lựa chọn công ty kiểm toán độc lập để kiểm toán BCTC
nghiên cứu tại Việt Nam, số lượng nhân tố được đưa vào trong mô hình khá nhiều và bao
gồm 5 nhóm nhân tố như nhóm nhân tố liên quan đến cơ cấu sở hữu vốn, liên quan đến
QTCT, liên quan đến cơ cấu vốn, liên quan đến thị trường và liên quan đến hiệu quả công
ty, tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều các nhân tố khác có thể cũng sẽ ảnh hưởng đối với chất
lượng BCTC tại Việt Nam như các nhân tố liên quan đến thị trường vốn, chính sách của
Nhà nước, văn hóa, chính trị... trong đó có nhiều nhóm quan trọng. Bên cạnh đó, nghiên
cứu cũng đã đo lường chất lượng BCTC thông qua chất lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở kế
toán và dựa trên cơ sở thị trường, với mỗi cơ sở này, tác giả đã lựa chọn một mô hình đo
lường đại diện, tuy nhiên, với mỗi cơ sở đó còn có nhiều mô hình đo lường khác. Vì vậy,
các nghiên cứu trong tương lai nếu thực hiện được, có thể phân tích thêm các nhân tố
ngoài những nhân tố đã được kiểm định trong mô hình của nghiên cứu này và nghiên cứu