Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán bằng chứng thực nghiệm tại việt nam - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------------

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------------

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. MAI THỊ HOÀNG MINH
TS. HUỲNH LỢI

1.2.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam ....................................................................28
1.3. Khe hổng nghiên cứu ...........................................................................................39
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ............................43
2.1. Giải thích một số thuật ngữ và các khái niệm ...................................................43
2.1.1. Chất lượng thông tin (Information quality) ...........................................43
2.1.2. Biến kế toán dồn tích (Accrual) ...............................................................43
2.1.3. Quản trị lợi nhuận (Earning Management)............................................44
2.1.4. Giá trị thích hợp của thông tin kế toán (Value relevance of accounting
information) .........................................................................................................46
2.1.5. Chất lượng lợi nhuận (Earning quality) .................................................47
2.1.6. Chất lượng BCTC (Financial reporting quality) ...................................49
2.2. Lý thuyết nền tảng có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng chất lượng
BCTC. ..........................................................................................................................53
2.2.1. Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) .......................................................53
2.2.2. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependency theory) ...........56
2.2.3. Lý thuyết chi phí chính trị (Political cost theory) ..................................56
2.2.4. Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) .....................................................57
2.2.5. Lý thuyết Chi phí độc quyền (Exclusive cost theory) ............................58
2.2.6. Lý thuyết hợp đồng (Contractual theory) ...............................................59
2.3. Mô hình nghiên cứu .............................................................................................59
2.3.1. Mô hình nghiên cứu của luận án..............................................................59
2.3.2. Phát triển giả thuyết nghiên cứu ..............................................................63


ii

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................................................68
3.1. Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu ..........................................68
3.1.1. Phương pháp nghiên cứu ..........................................................................68
3.1.2. Quy trình nghiên cứu ................................................................................69

5.2.3. Đối với các công ty niêm yết .................................................................. 148
5.2.4. Đối với các đối tượng khác sử dụng thông tin trên BCTC ................. 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ .................................................... 154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 155


iii

LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả. Các số liệu
trong luận án là trung thực. Những kết quả của luận án chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả
Nguyền Thị Phương Hồng


iv

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS Mai
Thị Hoàng Minh và TS. Huỳnh Lợi, người hướng dẫn khoa học của tác giả, cô và thầy đã
tận tình dìu dắt và hướng dẫn trong suốt thời gian tác giả thực hiện luận án này. Những
nhận xét, đánh giá và chỉ bảo của cô và thầy thực sự là vô cùng quý giá đối với tác giả
trong quá trình thực hiện luận án, đặc biệt, những lời động viên và khuyến khích của cô và
thầy là sự khích lệ kịp thời và hữu ích giúp tác giả vượt qua những khó khăn trong quá
trình thực hiện luận án này.
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô thuộc Đại Học Kinh Tế TP. Hồ
Chí Minh, đặc biệt là các Thầy Cô Khoa Kế toán- Kiểm toán, đã tận tình giảng dạy hướng
dẫn tác giả hoàn thành các học phần trong chương trình đào tạo tiến sĩ của nhà trường. Qua


Bộ Tài chính

BKS

Ban Kiểm soát

CBTT

Công bố thông tin

CEO

Giám đốc điều hành

CF

Khuôn mẫu lý thuyết chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

DA

Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh

DN

Doanh nghiệp

FASB

Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ


Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế

IFRS

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

KTV

Kiểm toán viên

NDA

Nondiscretionary accruals

NSD

Người sử dụng


vi

OLS

Ước lượng bình phương bé nhất

QSH

Quyền sở hữu


Ủy ban kiểm toán

US GAAP

Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung của Mỹ

VACPA

Hội KTV hành nghề Việt Nam

VAS

Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam

2SLS

Ước lượng bình phương bé nhất 2 giai đoạn


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC (Đo lường theo chất
lượng lợi nhuận) từ các nghiên cứu trước ............................................................................34
Bảng 2.1. Các giả thuyết nghiên cứu và mối quan hệ với các lý thuyết nền tảng có liên
quan ......................................................................................................................................63
Bảng 3.1. Danh sách biến độc lập và phương pháp đo lường..............................................76
Bảng 3.2. Mô tả mẫu các công ty sử dụng phân tích đo lường chất lượng BCTC ..............81
Bảng 3.3. Mô tả mẫu các công ty sử dụng phân tích các nhân tố ảnh hưởng chất lượng
BCTC ...................................................................................................................................81

Bảng 4.25. Bảng kết quả ước tính FGLS của 2 mô hình .................................................. 124
Bảng 4.26. Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thiết....................................................... 125


ix

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các CT niêm yết trên
TTCK VN .............................................................................................................................62
Biểu đồ 4.1. Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo năm 2012 ...................................93
Biểu đồ 4.2. Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo năm 2013 ...................................94
Biểu đồ 4.3. Thực trạng chất lượng BCTC (QTLN) theo năm 2014 ...................................96
Biểu đồ 4.4. Biểu đồ phần dư có phân phối chuẩn mô hình 1 ........................................... 111
Biểu đồ 4.5. Biểu đồ phần dư có phân phối chuẩn mô hình 2 .......................................... 120


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Vấn đề nghiên cứu
Thông tin tài chính của các công ty niêm yết được rất nhiều đối tượng quan tâm, sử
dụng, vì vậy nâng cao chất lượng thông tin tài chính sẽ giúp người sử dụng ra quyết định
thích hợp.
Có thể nói rằng chất lượng thông tin tài chính của các công ty niêm yết không chỉ bị
ảnh hưởng bởi các đối tượng tác động đến quá trình thu thập, xử lý, thiết lập, kiểm soát
thông tin tài chính do các nhân tố bên trong công ty như người quản lý, hội đồng quản trị,
ban kiểm soát, ban điều hành và kiểm toán nội bộ mà còn chịu ảnh hưởng bởi sự kiểm soát
từ các yếu tố bên ngoài công ty như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hội Nghề nghiệp, Bộ
Tài chính, cơ quan thuế, kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nước.
Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua Việt Nam đã ban hành và chỉnh sửa bổ sung

chính nhưng không có báo cáo kiểm toán đính kèm theo, một số báo cáo tài chính đã được
kiểm toán thì báo cáo kiểm toán cũng chưa đảm bảo chất lượng điển hình như vụ kết quả
kiểm toán chưa chính xác của các công ty kiểm toán độc lập đối với công ty cổ phần Bông
Bạch Tuyết…
Nhìn chung, khá nhiều công ty niêm yết công khai báo cáo tài chính thiếu trung
thực, chưa đầy đủ và kịp thời theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, như một số nhà
nghiên cứu trên thế giới đã nhận định, BCTC chất lượng cao sẽ giảm sự bất cân xứng
thông tin và kết quả sẽ giảm chi phí sử dụng vốn (Glosten và Milgrom, 1985; Amihud và
Mendelson, 1986; Diamond và Verrecchia, 1991; Bhattacharya và các cộng sự, 2003 và
Barth và các cộng sự, 2013). Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng chất lượng BCTC và các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam
hiện nay là thật sự cần thiết.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài luận án “Các nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán – Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam”. Đây là vấn đề mang tính thời sự, nhằm
cải thiện chất lượng thông tin tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam, góp phần
lành mạnh hóa thị trường và thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
a. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng báo cáo tài chính đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết
trên TTCK tại Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên
quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty


3

niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay.
b. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của luận án đặt ra ở trên, nội dung chính của luận án cần phải

Theo tìm hiểu của tác giả, luận án này là một trong số những nghiên cứu đầu tiên tại Việt
Nam đánh giá thực trạng chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK thông qua
phương pháp tiếp cận đo lường BCTC bằng chất lượng lợi nhuận, đặc biệt đo lường chất
lượng lợi nhuận dựa trên cả 2 cơ sở là cơ sở kế toán và cơ sở thị trường cùng với việc sử
dụng dữ liệu thứ cấp (số liệu được trình bày trên BCTC) được cập nhật mới nhất giai đoạn
2012 - 2014 (số liệu trên BCTC cập nhật đến năm 2014), vì vậy, kết quả phân tích thực
trạng chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK trong luận án này phản ánh
đúng thực tế theo số liệu các công ty công bố trên BCTC chứ không dựa trên quan điểm
đánh giá của các đối tượng về chất lượng BCTC như các nghiên cứu trước đây tại Việt
Nam.
+ Với mô hình đề xuất có khá nhiều các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC của
các công ty niêm yết được đưa vào để kiểm định và kết quả của luận án cho thấy có đến 17
trong tổng số 23 nhân tố được kiểm định có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công
ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.
+ Dựa trên kết quả về đánh giá thực trạng chất lượng BCTC trong giai đoạn 20122014, chi tiết theo từng năm và thậm chí chi tiết theo từng ngành, kết quả về các nhân tố
ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các Công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, những
kết quả này là cơ sở khoa học khá hữu ích cho các đối tượng quan tâm như các nhà quản
trị công ty, KTV, các nhà đầu tư, cơ quan ban hành chính sách, ủy ban chứng khoán Nhà
nước, các sở giao dịch chứng khoán... tham khảo để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng thông tin trên BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam cũng như tham
khảo trong việc sử dụng thông tin trên BCTC nhằm đưa ra các quyết định có liên quan một
cách hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, cụ thể là báo
cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố, báo cáo thường niên của các công ty niêm yết
tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2014.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC
các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK tại Việt Nam niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch


Chương này trình bày các nội dung về quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên


6

cứu, kỹ thuật phân tích dữ liệu và thiết kế nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương này tập trung vào việc phân tích và bàn luận về kết quả của nghiên cứu.
Chương 5. Nhận xét và đề xuất kiến nghị.
Chương này đưa ra nhận xét chung và trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối
với các đối tượng liên quan đến việc sử dụng, tạo lập và quản lý chất lượng BCTC của các
công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay.


7

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN
VỀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Nội dung chính của chương này, tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu trên
thế giới và Việt Nam về cách tiếp cận các phương pháp đo lường chất lượng BCTC và các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK, để trên cơ
sở đó tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu đề xuất hướng nghiên cứu của luận án, vì vậy, nội
dung của chương này bao gồm:
- Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên
cứu trước đây;
- Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC;

Nghiên cứu đầu tiên mà tác giả muốn đề cập đến là nghiên cứu của Beest và các
cộng sự (2009). Nghiên cứu này đánh giá định lượng các đặc điểm chất lượng của BCTC
dựa trên các đặc điểm cơ bản và các đặc điểm bổ sung theo CF. Nghiên cứu tiến hành thu
thập dữ liệu từ 231 BCTC của các công ty niêm yết ở các sàn chứng khoán ở Mỹ, Anh và
Hà Lan năm 2005-2007, sử dụng BCTC để đánh giá 21 chỉ tiêu chất lượng chi tiết. Các
đặc điểm chất lượng được ước lượng mức độ thông qua các chỉ tiêu cấu thành dựa trên
thang đo năm mức độ Likert. Hơn nữa, nghiên cứu của Beest và các cộng sự còn tiến hành
xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Nghiên cứu sử dụng phương pháp
hồi quy nhằm kiểm định các hệ số hồi quy, phương trình hồi quy, hiện tượng đa cộng tuyến
giữa các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC. Nghiên cứu này cũng góp phần cải
thiện việc đánh giá các đặc điểm chất lượng của thông tin và đưa ra các giải pháp cần thiết.
Beest và Braam (2011) tiếp tục có một nghiên cứu về đặc điểm chất lượng, nhưng
lần này nghiên cứu tập trung vào sự khác biệt của các đặc điểm giữa hai hệ thống chuẩn
mực IFRS và US GAAP hay cũng là sự khác biệt giữa BCTC của Anh và Mỹ. Nghiên cứu
được xây dựng trên 31 nhân tố dựa trên các đặc điểm chất lượng và tiến hành lấy mẫu
khảo sát từ 71 BCTC của các DN ở Anh và 71 báo cáo khác ở Mỹ trong năm 2009. Kết
quả cho thấy: nhìn chung, báo cáo của Anh thích hợp, trình bày trung thực và dễ hiểu hơn
so với báo cáo của Mỹ. Tuy nhiên, các báo cáo của Mỹ có khả năng so sánh được cao hơn
các báo cáo của Anh.


9

Trong nghiên cứu Beest và các cộng sự (2009) và một số nghiên cứu khác của Jara
và các cộng sự (2011), Bauwhede (2001) cũng nghiêm cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến
các đặc điểm chất lượng. Đa số các nghiên cứu ứng dụng phương pháp nghiên cứu của
Jonas and Blanchet (2000). Một trong những mục đích của nghiên cứu Beest và các cộng
sự (2009) là xây dựng thang đo cho các đặc điểm chất lượng: tính thích hợp, trình bày
trung thực, có thể so sánh được, kịp thời, có thể hiểu được. Sau khi thu thập dữ liệu dựa
vào các BCTC, nghiên cứu này tiến hành xây dựng hàm hồi quy về những nhân tố ảnh

quan trọng của các đặc điểm chất lượng đối với KTV ở Hy Lạp.
Một nghiên cứu nữa về quan điểm của KTV và nhà đầu tư đối với tầm quan trọng
của các đặc điểm chất lượng của thông tin là nghiên cứu của Obaidat (2007) đã xây dựng
bảng khảo sát để thu thập ý kiến từ 25 nhà đầu tư và 29 KTV. Kết quả cho thấy, tất cả các
đặc điểm chất lượng đều ảnh hưởng đến các quyết định và tồn tại sự khác nhau trong ý
kiến của KTV, nhà đầu tư về mức độ quan trọng của các nhân tố chất lượng.
Không nhằm vào các mục đích đo lường chất lượng lợi nhuận, đánh giá các yếu tố
chi tiết của BCTC, mục đích hướng đến của phương pháp trên là đánh giá mức độ hữu ích
của thông tin thông qua các đặc điểm chất lượng. Lợi ích có được từ phương pháp là sự tập
trung nghiên cứu vào các đặc điểm chất lượng, trong khi các mô hình khác tập trung vào
các khía cạnh của việc quản trị lợi nhuận hay giá cả của cổ phiếu. Tuy nhiên, hạn chế của
phương pháp này là khó xác định thang đo cho các đặc điểm chất lượng, đồng thời, chính
vì đánh giá này dựa trên cơ sở thang đo nên nó còn có hạn chế là kết quả thu thập được
không có độ tin cậy cao vì nó phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của người đánh giá và mang
tính cảm tính cao như người đánh giá này cho điểm chỉ tiêu này đối với BCTC cao nhưng
có thể theo quan điểm của người khác là chưa cao.
1.1.2. Đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận (Earning Quality)
Phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận có ưu điểm
chính là đáng tin cậy, bởi khác với phương pháp đo lường theo đặc điểm chất lượng mà
các nghiên cứu khác đã áp dụng, đó là theo quan điểm của người đánh giá dựa trên dữ liệu
thứ cấp (số liệu trên BCTC và BCTN) hoặc theo quan điểm của người được khảo sát (đối
với nghiên cứu sử dụng khảo sát quan điểm và dữ liệu thu thập được là dữ liệu sơ cấp) và
điều này có thể dẫn đến việc đánh giá chất lượng BCTC sẽ phụ thuộc vào quan điểm chủ
quan của họ và như vậy có thể kết quả nghiên cứu sẽ không phản ánh đúng thực trạng chất
lượng của BCTC mà các công ty đã công bố, còn theo phương pháp đánh dựa trên chất
lượng lợi nhuận, các dữ liệu phục vụ cho việc phân tích này dựa trên thông tin sẵn có trong
báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty (dữ liệu thứ cấp) và việc đánh
giá chất lượng BCTC được thực hiện trực tiếp trên các dữ liệu sẵn có này. Ngoài ra, đo



một năm).


12

Mô hình của DeAngelo (1986)
DeAngelo (1986) cho rằng sự biến đổi về biến kế toán dồn tích giữa hai kỳ chính là
lợi nhuận được điều chỉnh (DA). Vậy thì phần DA là chênh lệch giữa TA giữa năm t và
năm t-1. Vì vậy, phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh là biến kế toán dồn tích
của năm trước (TAt-1), mô hình của NDAt là:
NDAt = TAt-1
Phần dồn tích có thể điều chỉnh (DAt) là chênh lệch giữa tổng dồn tích trong năm t
và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh năm t, mô hình của nó là:
DAt = TAt – NDAt = TAt – TAt-1

(2)

Mô hình của DeAngelo để ước tính NDA sẽ thật sự đúng nếu NDA không thay đổi
theo thời gian và trung bình DA bằng 0 ở kỳ mà mình ước tính. Nhưng NDA lại thường
phụ thuộc vào mức độ hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Và nếu doanh
nghiệp đang ở thời kì tăng trưởng thì NDA sẽ có sự biến động từ năm này sang năm khác.
Nhược điểm này được khắc phục thông qua cải tiến mô hình nhằm kiểm soát phần NDA
thay đổi do thay đổi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cách thực hiện là
đem NDA tính được theo mô hình của DeAngelo chia cho cho doanh thu. Mô hình tính
DA lúc này trở thành:
DAt = (TAt / Doanh thu t-1) – (TAt-1 / Doanh thu t-2)
Mô hình của Jones (1991)
Jones (1991) được xây dựng trên dựa trên kế thừa mô hình của Healy (1985) và mô
hình của DeAngelo (1986). Tuy nhiên, Jones đề xuất một mô hình để kiểm soát các tác
động của những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế của một công ty lên các biến kế toán dồn

Công thức tính TA theo cách tiếp cận này là:
TAIt = NIIt – CFOIt
NIIt: Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong năm t;
CFOIt: Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong năm t.
∆REVit: Doanh thu của công ty i trong năm t trừ doanh thu trong năm t-1;
PPEit: Nguyên giá bất động sản, nhà máy và các trang thiết bị của công ty i tại thời
điểm cuối năm t;
α1, α2, α3: Các thông số cụ thể của từng công ty.
Các thông số cụ thể công ty, α1, α2, và α3, thu được bằng cách sử dụng mô hình sau
đây trong thời gian tính toán:


14

Trong đó a1, a2 và a3 dùng để chỉ ước tính OLS cho α1, α2, và α3, và εi là phần
còn lại, đại diện các phần có thể điều chỉnh của từng doanh nghiệp cụ thể của tổng biến kế
toán dồn tích có thể điều chỉnh.
Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh (Dechow và các cộng sự, 1995)
Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh được thực hiện để loại bỏ xu hướng phỏng
đoán của mô hình Jones (1991) trong việc đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
xảy ra lỗi khi sự điều chỉnh được thực hiện trên việc ghi nhận doanh thu (Dechow và các
cộng sự, 1995). Trong mô hình đã điều chỉnh, các khoản biến kế toán dồn tích không thể
điều chỉnh được ước tính trong năm sự kiện (năm mà quản trị lợi nhuận được đưa ra giả
thuyết):
TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit)+ α3PPEit + εi (4)
Trong đó:
∆RECit: Các khoản phải thu thuần của công ty i trong năm t trừ các khoản phải thu
thuần trong năm t-1.
Sự tham gia của ∆RECit được Dechow và các cộng sự (1995) đã giải thích rằng:
Mô hình gốc của Jones ngầm giả định rằng sự điều chỉnh không được thực hiện trên doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status