Các nhân tố ảnh hướng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán bằng chứng thực nghiệm tại việt nam - Pdf 35

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Vấn đề nghiên cứu
Thông tin tài chính của các công ty niêm yết được rất nhiều đối tượng quan tâm, sử
dụng, vì vậy nâng cao chất lượng thông tin tài chính sẽ giúp người sử dụng ra quyết định
thích hợp.
Có thể nói rằng chất lượng thông tin tài chính của các công ty niêm yết không chỉ bị
ảnh hưởng bởi các đối tượng tác động đến quá trình thu thập, xử lý, thiết lập, kiểm soát
thông tin tài chính do các nhân tố bên trong công ty như người quản lý, hội đồng quản trị,
ban kiểm soát, ban điều hành và kiểm toán nội bộ mà còn chịu ảnh hưởng bởi sự kiểm soát
từ các yếu tố bên ngoài công ty như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Hội Nghề nghiệp, Bộ
Tài chính, cơ quan thuế, kiểm toán độc lập và kiểm toán Nhà nước.
Chính vì vậy, trong thời gian vừa qua Việt Nam đã ban hành và chỉnh sửa bổ sung
nhiều quy định nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng thông tin tài chính của các công ty
như Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 thay thế Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC
ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng BTC về việc ban hành Quy chế quản trị công ty áp dụng
cho các công ty đại chúng và thay thế Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/03/2007
của Bộ trưởng BTC về việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên
Sở giao dịch chứng khoán/Trung tâm giao dịch chứng khoán, Luật kiểm toán độc lập số
67/2011/QH12 ngày 29/03/2011 Quốc hội với những quy định chặt chẽ hơn đối với nghề
kiểm toán tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg
ngày 01/03/2012 về việc phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
giai đoạn 2011-2020 và Bộ Tài chính vừa mới ban hành Thông tư số 155/2015/TT-BTC
ngày 06/10/2015 thay thế Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 hướng dẫn về
việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán và ngoài ra, vào ngày 25/06/2012 Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước đã ban hành Quyết định số 515/QĐ-UBCK về việc ban hành
quy trình thực hiện công bố thông tin trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban chứng khoán
Nhà nước và báo cáo Ủy ban chứng khoán Nhà nước cho các đối tượng tham gia thị
trường chứng khoán và Bộ tài chính cũng đã ban hành quy định về kiểm soát chất lượng
dịch vụ kiểm toán theo Thông tư số 157/2014/TT-BTC ngày 23/10/2014.

2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
a. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng báo cáo tài chính đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết
trên TTCK tại Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị đối với các đối tượng liên
quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty


3

niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay.
b. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của luận án đặt ra ở trên, nội dung chính của luận án cần phải
trả lời được các câu hỏi sau:
1. Thực trạng thực chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của
các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay là gì?.
2. Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng BCTC đo lường thông qua chất lượng
lợi nhuận của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay?.
3. Cần đề xuất một số kiến nghị nào đối với các đối tượng liên quan đến việc trình
bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK
Việt Nam hiện nay?.
5. Đóng góp mới của nghiên cứu
Trước thực trạng đáng lo ngại về chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên
TTCK Việt Nam, luận án này có tính cấp thiết cao. Kết quả của luận án này có một số
đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:
- Về mặt lý luận:
Dựa vào kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu, trong đó các nhân tố ảnh hưởng
được tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước và 4 nhân tố mới được tác giả đưa thêm vào,
luận án hoàn thành sẽ bổ sung thêm lý thuyết mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng báo cáo tài chính được đo lường thông qua chất lượng lợi nhuận của các công ty

trị công ty, KTV, các nhà đầu tư, cơ quan ban hành chính sách, ủy ban chứng khoán Nhà
nước, các sở giao dịch chứng khoán... tham khảo để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng thông tin trên BCTC các công ty niêm yết tại Việt Nam cũng như tham
khảo trong việc sử dụng thông tin trên BCTC nhằm đưa ra các quyết định có liên quan một
cách hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam, cụ thể là báo
cáo tài chính đã được kiểm toán và công bố, báo cáo thường niên của các công ty niêm yết
tại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2014.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC
các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK tại Việt Nam niêm yết trên cả 2 sàn giao dịch


5

HOSE và HNX (Không nghiên cứu về các công ty tài chính như Ngân hàng, công ty
chứng khoán...).
+ Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 3 năm 2012 - 2014.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, trong đó phương pháp
chính là phương pháp nghiên cứu định lượng, cụ thể là nghiên cứu này được thực hiện dựa
vào các lý thuyết nền tảng phổ biến trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán như lý thuyết ủy
nhiệm, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết hợp đồng… và các nghiên cứu trên thế giới và Việt
Nam liên quan đến chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC,
đồng thời sử dụng phương pháp định tính thảo luận với các chuyên gia làm cơ sở đưa thêm
nhân tố mới vào mô hình nghiên cứu và kiểm định mô hình nghiên cứu này tại Việt Nam.
6. Kết cấu của luận án
Phần mở đầu:
Phần này bao gồm vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi

VỀ ĐO LƯỜNG CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC
NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Nội dung chính của chương này, tác giả tổng quan các công trình nghiên cứu trên
thế giới và Việt Nam về cách tiếp cận các phương pháp đo lường chất lượng BCTC và các
nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết trên TTCK, để trên cơ
sở đó tác giả tìm ra khe hổng nghiên cứu đề xuất hướng nghiên cứu của luận án, vì vậy, nội
dung của chương này bao gồm:
- Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên
cứu trước đây;
- Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC;
- Khe hổng nghiên cứu.
1.1. Các cách tiếp cận về phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo các nghiên
cứu trước đây
Trong bất kỳ một nghiên cứu nào có liên quan đến chất lượng BCTC, mặc dù chất
lượng BCTC đóng vai trò là nhân tố tác động hay nhân tố bị tác động thì việc đo lường
chất lượng BCTC là rất quan trọng, vì nó quyết định đến hiệu quả một cuộc nghiên cứu.
Tuy nhiên, chất lượng BCTC là khó có thể quan sát trực tiếp được, xuất phát từ đặc điểm
này, trong các nghiên cứu trước đây cũng đã sử dụng nhiều phương pháp đo lường khác
nhau và có thể chia làm 2 nhóm phương pháp chính: Đo lường theo đặc điểm chất lượng
BCTC và đo lường theo chất lượng lợi nhuận.
1.1.1. Đo lường chất lượng BCTC theo đặc điểm chất lượng
Phương pháp đo lường chất lượng BCTC thông qua đặc điểm chất lượng nhằm
đánh giá các khía cạnh và kích thước của thông tài chính và thông tin phi tài của BCTC
nhằm xác định tính hữu ích của thông tin tài chính đó. Phương pháp đo lường chất lượng


8

so với báo cáo của Mỹ. Tuy nhiên, các báo cáo của Mỹ có khả năng so sánh được cao hơn
các báo cáo của Anh.


9

Trong nghiên cứu Beest và các cộng sự (2009) và một số nghiên cứu khác của Jara
và các cộng sự (2011), Bauwhede (2001) cũng nghiêm cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến
các đặc điểm chất lượng. Đa số các nghiên cứu ứng dụng phương pháp nghiên cứu của
Jonas and Blanchet (2000). Một trong những mục đích của nghiên cứu Beest và các cộng
sự (2009) là xây dựng thang đo cho các đặc điểm chất lượng: tính thích hợp, trình bày
trung thực, có thể so sánh được, kịp thời, có thể hiểu được. Sau khi thu thập dữ liệu dựa
vào các BCTC, nghiên cứu này tiến hành xây dựng hàm hồi quy về những nhân tố ảnh
hưởng đến chất lượng BCTC. Các nhân tố ảnh hưởng đến đặc điểm chất lượng được đề
cập đến là CMKT, quốc gia, ngành nghề, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, năm… Mẫu
nghiên cứu của Beest các cộng sự (2009) là 120 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán
của Mỹ, Anh, Hà Lan trong năm 2005 và 111 công ty trong năm 2007 được lấy từ các
ngành kinh doanh khác nhau. Đồng thời, các công ty này áp dụng theo hai khung CMKT
là IFRS và US GAAP. Cũng trong khoảng thời gian từ năm 2005 đến 2007, có sự chênh
lệch về số lượng công ty niêm yết là do có 9 công ty rời sàn hoặc một trong các công ty
này chưa công bố BCTC trước ngay thời điểm thu thập số liệu của nghiên cứu. Do vậy, các
biến độc lập có liên quan là CMKT (IFRS và US GAAP), quốc gia (Mỹ, Anh, Hà Lan),
ngành nghề, năm. Sau đó, Beest và các cộng sự (2009) thực hiện các kiểm định cần thiết
trong phương pháp hồi quy OLS để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố cũng như
độ tin cậy của mô hình.
Tiếp cận theo một hướng khác, nghiên cứu của Saheli & Nassirzadeh (2012) chỉ ra
sự khác nhau giữa các quan điểm về đặc điểm chất lượng trên nhiều khía cạnh tiếp cận.
Nghiên cứu cung cấp những thống kê thực nghiệm từ việc khảo sát các nhà đầu tư ở Iran
về các đặc điểm chất lượng – những người có hiểu biết về kế toán và không có hiểu biết về
kế toán.

Phương pháp đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận có ưu điểm
chính là đáng tin cậy, bởi khác với phương pháp đo lường theo đặc điểm chất lượng mà
các nghiên cứu khác đã áp dụng, đó là theo quan điểm của người đánh giá dựa trên dữ liệu
thứ cấp (số liệu trên BCTC và BCTN) hoặc theo quan điểm của người được khảo sát (đối
với nghiên cứu sử dụng khảo sát quan điểm và dữ liệu thu thập được là dữ liệu sơ cấp) và
điều này có thể dẫn đến việc đánh giá chất lượng BCTC sẽ phụ thuộc vào quan điểm chủ
quan của họ và như vậy có thể kết quả nghiên cứu sẽ không phản ánh đúng thực trạng chất
lượng của BCTC mà các công ty đã công bố, còn theo phương pháp đánh dựa trên chất
lượng lợi nhuận, các dữ liệu phục vụ cho việc phân tích này dựa trên thông tin sẵn có trong
báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty (dữ liệu thứ cấp) và việc đánh
giá chất lượng BCTC được thực hiện trực tiếp trên các dữ liệu sẵn có này. Ngoài ra, đo


11

lường chất lượng BCTC thông qua chất lượng lợi nhuận cũng rất hữu ích dựa trên quan
điểm người sử dụng BCTC, các nhà đầu tư, chủ nợ và các nhà soạn thảo chuẩn mực kế
toán.
Để lượng hóa chất lượng BCTC từ việc đo lường chất lượng BCTC thông qua chất
lượng lợi nhuận, các tác giả trước đây thường sử dụng 2 nhóm mô hình đó là mô hình biến
kế toán dồn tích và mô hình giá trị thích hợp của TTKT. Nội dung tiếp theo, tác giả trình
bày cụ thể về các mô hình đo lường thường sử dụng trong các nghiên cứu trước đây liên
quan đến chất lượng lợi nhuận, cụ thể như sau:
1.1.2.1. Một số mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích
bất thường.
Có khá nhiều mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích
bất thường và các mô hình này được nhà nghiên cứu sau phát triển dựa trên các mô hình
trước, cụ thể như sau:
Mô hình của Healy (1985)
Mô hình của Healy (1985) sử dụng giá trị trung bình của tổng dồn tích (TA) được

Mô hình của DeAngelo để ước tính NDA sẽ thật sự đúng nếu NDA không thay đổi
theo thời gian và trung bình DA bằng 0 ở kỳ mà mình ước tính. Nhưng NDA lại thường
phụ thuộc vào mức độ hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Và nếu doanh
nghiệp đang ở thời kì tăng trưởng thì NDA sẽ có sự biến động từ năm này sang năm khác.
Nhược điểm này được khắc phục thông qua cải tiến mô hình nhằm kiểm soát phần NDA
thay đổi do thay đổi mức độ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cách thực hiện là
đem NDA tính được theo mô hình của DeAngelo chia cho cho doanh thu. Mô hình tính
DA lúc này trở thành:
DAt = (TAt / Doanh thu t-1) – (TAt-1 / Doanh thu t-2)
Mô hình của Jones (1991)
Jones (1991) được xây dựng trên dựa trên kế thừa mô hình của Healy (1985) và mô
hình của DeAngelo (1986). Tuy nhiên, Jones đề xuất một mô hình để kiểm soát các tác
động của những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế của một công ty lên các biến kế toán dồn
tích không thể điều chỉnh. Mô hình của Jones là:
TAit = α1+ α2 ∆REVit + α3PPEit+ εi

(3)

Trong đó:
TAit : Tổng biến kế toán dồn tích của công ty i trong năm t;
Tổng dồn tích TAit
Việc sử dụng tất cả các mô hình trên để tính toán biến kế toán dồn tích không thể


13

điều chỉnh, từ đó xác định biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh đều liên quan đến việc
tính toán tổng dồn tích (TA). Theo tiến trình nghiên cứu trước đó của các nhà nghiên cứu
như Healy (1985) hay Jones (1991) thì cách tiếp cận bảng cân đối kế toán để tính tổng dồn
tích được sử dụng, cụ thể như sau:

Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh (Dechow và các cộng sự, 1995)
Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh được thực hiện để loại bỏ xu hướng phỏng
đoán của mô hình Jones (1991) trong việc đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh
xảy ra lỗi khi sự điều chỉnh được thực hiện trên việc ghi nhận doanh thu (Dechow và các
cộng sự, 1995). Trong mô hình đã điều chỉnh, các khoản biến kế toán dồn tích không thể
điều chỉnh được ước tính trong năm sự kiện (năm mà quản trị lợi nhuận được đưa ra giả
thuyết):
TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit)+ α3PPEit + εi (4)
Trong đó:
∆RECit: Các khoản phải thu thuần của công ty i trong năm t trừ các khoản phải thu
thuần trong năm t-1.
Sự tham gia của ∆RECit được Dechow và các cộng sự (1995) đã giải thích rằng:
Mô hình gốc của Jones ngầm giả định rằng sự điều chỉnh không được thực hiện trên doanh
thu trong cả hai giai đoạn ước tính hoặc giai đoạn sự kiện phát sinh. Mô hình của Jones đã
qua điều chỉnh lại ngầm giả định rằng tất cả các thay đổi về doanh thu bán chịu trong giai
đoạn sự kiện phát sinh là kết quả của QTLN. Điều này được dựa trên những lý luận rằng
QTLN dễ dàng hơn để bằng cách thực hiện theo sự điều chỉnh trên việc ghi nhận doanh
thu về bán hàng chịu hơn là so với việc QTLN bằng cách thực hiện điều chỉnh trên ghi
nhận doanh thu về bán hàng bằng tiền mặt. Tóm lại, Dechow và các cộng sự (1995) cho
rằng doanh số bán hàng không được quản lý trong giai đoạn ước tính, nhưng mà toàn bộ
sự thay đổi trong các khoản phải thu trong năm sự kiện đại diện cho QTLN. Nhưng có một
điều quan trọng để lưu ý trong việc sử dụng mô hình này là sự ước lượng α1, α2, α3 sẽ vẫn
thu được từ mô hình gốc của Jones chứ không phải từ mô hình đã điều chỉnh. Sự điều
chỉnh duy nhất trong mô hình ban đầu của Jones là sự thay đổi trong doanh thu được điều
chỉnh với sự thay đổi trong các khoản phải thu trong năm sự kiện.


15

Mô hình theo dữ liệu chéo (DeFond & Jiambalvo ,1994)


16

TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit) + α3PPEit + α4BMit + α5CFOit + εi (5)
Trong đó:
BMit: Tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường của vốn chủ sở hữu của công ty i trong
năm t.
CFOit: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i trong năm t.
Mô hình Jones điều chỉnh với ROA
Beneish (1997) không ủng hộ mô hình Jones (1991) và của Jones đã qua điều chỉnh
(1995) bởi vì chúng không bao gồm các chỉ số hoạt động. Chính vì vậy, Barth và các cộng
sự (2001) đề nghị mô hình để ước tính dồn tích có thể điều chỉnh mà sẽ xem xét hiệu quả
kinh tế hiện tại và quá khứ của công ty. Tiếp đó, Kothari và các cộng sự (2005) phát triển
một mô hình xác định dồn tích có thể điều chỉnh phản ánh hạn chế này. Họ đề xuất một mô
hình mà biến kế toán dồn tích có liên quan tới hoạt động quá khứ và hiện tại của công ty
được đo lường thông qua lợi nhuận trên tài sản (ROA).Và ở đây hiệu quả hoạt động của
công ty được xem như một biến độc lập trong việc ước tính biến kế toán dồn tích có thể
điều chỉnh.
Mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) như sau:
TAt= α1+ α2(∆REVit - ∆RECit) + α3PPEit + α4ROAit-1 + εit (6)
Trong đó:
ROAit – 1: Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản của công ty i trong năm t-1.
Mô hình của Raman & Shahrur (2008)
McNichols (2000) không đồng ý với tất cả các mô hình nêu trên, vì theo ông, chúng
bỏ qua các cơ hội phát triển của công ty. Ngoài lợi nhuận trên tài sản theo mô hình của
Kothari và các cộng sự (2005), Raman & Shahrur (2008) đề xuất một mô hình xác định
các biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh mà sẽ xem xét các cơ hội phát triển của công ty.
Raman & Shahrur (2008) đề xuất sử dụng các tỷ lệ giá trị sổ sách trên thị trường như một
cách đo lường của các cơ hội phát triển. Mô hình này được ước lượng như sau:
TAit = α1 + α2(∆REVit - ∆RECit )+ α3PPEit + α4ROAit – 1 + α5BMKit +εit (7)

∆Cash: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm;


18

∆STDEBT: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn trong năm;
CFO: Dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh.
∆REV: Thay đổi khoản doanh thu
PPE: Nguyên giá bất động sản, nhà máy và các trang thiết bị tại thời điểm cuối năm.
Mô hình đo lường QTLN thực
QTNL thực là doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua việc dàn xếp một
số giao dịch thực tế xảy ra trong năm hiện hành và có thể sự giàn xếp này là không có lợi
đối với DN trong dài hạn.
Theo các nghiên cứu như Roychowdhury (2006) và Gunny (2010) về QTLN thực,
QTLN thực được chia thành 3 phần doanh thu, sản phẩm và chi phí, chi tiết theo 3 mô
hình sau:
CFOit /TAit-1 = α0 (1 /TAit-1) + α1 (Sit /TAit-1) + α2 (∆Sit /TAit-1) + ε it (1)
PCit/TAit-1=α0(1/TAit-1) +α1(Sit/TAit-1) + α2(∆Sit/TAit-1) + α2(∆Sit-1/TAit-1)+δit (2)
DEit/TAit-1=α0(1/TAit-1)+α1(Sit-1/TAit-1) + λit (3)
Trong đó:
CFO it: Dòng tiền từ hoạt động của công ty i trong năm t.
PCit: Giá vốn của hàng bán + Thay đổi của hàng tồn kho của công ty i trong năm t.
DEit: Chi phí quảng cáo, bán hàng, chi phí chung và quản lý.
Sit: Doanh thu công ty i trong năm t.
TAit: Tổng tài sản công ty i vào cuối năm t.
ACFO = Giá trị tuyệt đối của phần dư từ phương trình (1).
APC = Giá trị tuyệt đối của phần dư từ phương trình (2).
ADE = Giá trị tuyệt đối của phần dư từ phương trình (3).
Mức QTLN thực (REM) = ACFO + APC + ADE
Như vậy, một số nghiên cứu cho rằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh là mô

sự (2001) và Lang & Peter (1994). Mô hình như sau:
Rit = β0 + β1EPSit + β2EPS1it + εit
Rit = Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu
β0= Hệ số chặn;


20

β1, β2, và β3: Các hệ số;
BVit: Giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu của công ty i trong năm t;
EPSit: Lợi nhuận/Cổ phiếu của công ty i trong năm t;
EPS1it: Thay đổi lợi nhuận/Cổ phiếu;
εit : Phần dư
Mô hình giá - Mô hình EBO (Edward Bell Ohlson model) hay còn gọi là Mô hình
Ohlson:
Mô hình Edward Bell Ohlson (EBO) là mô hình được sử dụng khá phổ biến trong
các nghiên cứu trước đây dùng để đo lường giá trị thích hợp của TTKT. Các nghiên cứu đã
sử dụng mô hình này để kiểm định về giá trị thích hợp của TTKT trên các thị trường khác
nhau như nghiên cứu của Collins và các cộng sự (1997) tại Mỹ và nghiên cứu của King và
Langli (1998) tại một số quốc gia khác như Anh, Na uy và Đức, nghiên cứu của Dumontier
và Labelle (1998) tại Pháp, nghiên cứu của Graham and King (2000) tại Đông Nam Á và
nghiên cứu của Chen và các cộng sự (2001) tại Trung Quốc
Mô hình này chỉ ra rằng giá trị của cổ phiếu là chức năng của 2 biến trên BCTC là
giá trị sổ sách của cổ phiếu và lợi nhuận trên cổ phiếu và các thông tin thích hợp khác
không hoặc chưa đạt được do hệ thống chế độ, chuẩn mực và các quy định của kế toán.
Mô hình EBO gốc là:
Pit = β0 + β1BVit + β2EPSit + εit
Trong đó:
P = Giá thị trường cổ phiếu
β0= Hệ số chặn;

trong các nghiên cứu thị trường vốn trong năm thập niên 90 và nó cung cấp một nền tảng
cho việc xác định lại mục tiêu thích hợp của các nghiên cứu giá trị. Theo Beisland (2009)
cho rằng “… mô hình giá trị thích hợp của TTKT được sử dụng bởi các nhà đầu tư để ước
tính giá trị công ty. Một mục tiêu của BCTC là giúp các nhà đầu tư trong việc định giá vốn
chủ sở hữu. Thông tin tài chính thích hợp khi những con số kế toán phải có mối liên hệ với
giá trị công ty hiện hành. Nếu không có mối quan hệ giữa những con số kế toán và giá trị
công ty, TTKT không thể cho là thích hợp và như vậy BCTC không thể thực hiện một
trong những mục tiêu chính của BCTC…”1.
1

Beisland (2009), Areview of the value relevance literature. The Open Business Journal, 2, trang 8 & 9.


22

Vì vậy, dựa trên những phân tích ở trên, trong số các mô hình sử dụng để đo lường
chất lượng lợi nhuận, tác giả đã lựa chọn mô hình EBO điều chỉnh là 1 trong 2 mô hình đo
lường chất lượng BCTC trong luận án này. Các nghiên cứu của Abubakar (2011), Hassan
(2012) và Ahmed (2012) cũng đã sử dụng mô hình này để đo lường biến phụ thuộc, chất
lượng BCTC trong nghiên cứu của họ.
Có rất nhiều nghiên cứu trước đây đo lường chất lượng BCTC bằng chất lượng lợi
nhuận, cả những nghiên cứu sử dụng chất lượng BCTC là biến phụ thuộc cũng như với vai
trò là biến độc lập.
Theo Choi và Pae (2011) trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa đạo đức kinh
doanh và chất lượng BCTC tại Hàn Quốc đã đo lường chất lượng BCTC theo 3 cách đó là
quản trị lợi nhuận (sử dụng biến kế toán dồn tích), thận trọng kế toán và tính chính xác của
dồn tích tiên đoán dòng tiền hoạt động trong tương lai.
Theo Gajevszky (2015) trong nghiên cứu về đánh giá chất lượng BCTC tại
Romania đã đo lường chất lượng BCTC thông qua chất lượng lợi nhuận bằng mô hình biến
kế toán dồn tích của Dechow và các cộng sự (1995) và mô hình của Kothari và các cộng

tiễn BCTC khác, (3) quản trị công ty và kiểm soát nội bộ bao gồm hội đồng quản trị, tỷ lệ
sở hữu vốn, chế độ đãi ngộ, cơ chế kiểm soát nội bộ..., (4) Kiểm toán bao gồm rủi ro kinh
doanh, loại công ty kiểm toán, tính độc lập của kiểm toán..., (5) động lực của thị trường
vốn bao gồm động lực khi công ty tăng vốn, mục tiêu lợi nhuận đạt được, và (6) các nhân
tố bên ngoài khác như yêu cầu của thị trường vốn, quá trình chính trị, các quy định liên
quan đến thuế.... và mỗi nghiên cứu thường tập trung vào một trong các nhóm nhân tố trên.
Một nghiên cứu của Qinghua và các cộng sự (2007) về mối quan hệ giữa ủy ban
kiểm toán, đặc điểm của HĐQT với chất lượng BCTC, nghiên cứu thực nghiệm tại thị
trường chứng khoán Trung Quốc, các tác giả này đã đo lường chất lượng BCTC của các
công ty niêm yết thông qua mức quan trị lợi nhuận bằng mô hình Jones đã điều chỉnh và
theo dữ liệu chéo với mẫu được chọn là 1192 công ty trong năm 2002, họ đã sử dụng
phương pháp phân tích thống kê mô tả và hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích kết quả
của mình. Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng BCTC được Qinghua và các cộng sự (2007)
chia thành 3 nhóm: Thứ nhất, đặc điểm thành phần HĐQT bao gồm (1) tỷ lệ % giám đốc
độc lập trong HĐQT, (2) kiêm nhiệm TGĐ và chủ tịch HĐQT, (3) tỷ lệ % giám đốc độc
lập trong HĐQT bằng và cao hơn 1/3 và (4) tỷ lệ % giám đốc độc lập trong HĐQT cao
hơn 1/3. Thứ hai, đặc điểm chuyên gia của HĐQT bao gồm (1) thành viên HĐQT có


24

chuyên môn tài chính và (2) có tồn tại UBKT. Thứ ba, đặc điểm hành vi của HĐQT bao
gồm (1) tính thường xuyên cuộc họp của HĐQT, (2) Tỷ lệ sở hữu của HĐQT, (3) Tỷ lệ %
giám đốc đồng thời giữ vị trí kiểm soát công ty của cổ đông. Ngoài ra, nghiên cứu còn
phân tích ảnh hưởng của các nhân tố khác (biến kiểm soát) đến chất lượng BCTC như quy
mô công ty, đòn bẩy tài chính, chủ sở hữu của nhà quản lý, lỗ trong năm trước, biến động
bất thường của hiệu quả công ty, động cơ cho quyền chào bán ngay, sự tập trung quyền sở
hữu.
Một nghiên cứu khác tại Malaysia của Radzi và các cộng sự (2011) thực hiện về
mối quan hệ giữa các nhân tố như quy mô công ty kiểm toán (loại công ty kiểm toán), sự

các cộng sự (1995), Holthausen và các cộng sự (1995), kết quả nghiên cứu của các nghiên
cứu cho thấy các nhà quản lý có nhiều khả năng sẽ thực hiện QTLN để tối đa hóa tiền
thưởng của họ.
Một nghiên cứu của Abed và các cộng sự (2012), nghiên cứu trên mẫu 329 công ty
quan sát trong 3 năm 2006-2009 niêm yết trên TTCK Amman tại quốc gia Ả Rập, kết quả
nghiên cứu tìm thấy được trong 7 nhân tố được xem xét chỉ có 2 nhân tố có ảnh hưởng đến
QTLN đó là quy mô của HĐQT có ảnh hưởng thuận chiều đến QTLN với mức ý nghĩa
thống kê 5% và loại ngành công nghiệp có cũng có ảnh hưởng thuận chiều đến QTLN
nhưng với mức ý nghĩa thống kê 10%, các nhân tố còn lại tính độc lập của HĐQT, sự kiêm
nhiệm giữa TGĐ và chủ tịch HĐQT, sự tập trung quyền sở hữu, đòn bẩy tài chính và quy
mô công ty không có ảnh hưởng đến QTLN trong nghiên cứu này.
Một số nghiên cứu khác về các nhân tố ảnh hưởng đến QTLN đo lường bằng mô
hình Jones đã điều chỉnh như nghiên cứu về quản trị công ty, đặc điểm công ty với QTLN
(được các tác giả coi là chất lượng BCTC) thực hiện bởi Waweru và Riro (2013), phân tích
dữ liệu bảng 148 quan sát của 37 công ty niêm yết trên TTCK Nairobi trong giai đoạn
2006-2010 thuộc nước Kenyan ở Châu Phi. QTLN được các tác giả sử dụng mô hình của
Korathi và các cộng sự (2005) để đo lường. Các nhân tố thuộc QTCT được các tác giả xem
xét bao gồm cấu trúc sở hữu (sự tập trung quyền sở hữu), tính độc lập của UBKT và thành
phần HĐQT (tính độc lập của HĐQT), các nhân tố thuộc đặc điểm công ty là quy mô công
ty, hiệu quả công ty và đòn bẩy tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 3 nhân tố cấu
trúc sở hữu, tính độc lập của HĐQT và đòn bẩy tài chính có tác động đến QTLN.
Ahmed (2013) nghiên cứu về ảnh hưởng của 4 nhân tố thuộc đặc điểm của HĐQT
gồm số cuộc họp của HĐQT, tính độc lập của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của
HĐQT và sự kiêm nhiệm chủ tịch HĐQT và TGĐ với QTLN cũng đo lường bằng mô hình
Jones đã điều chỉnh. Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 71 công ty niêm yết trên TTCK
Bursa Malaysia giai đoạn 2001-2005. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có nhân tố mức độ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status