CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI TP.HCM - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

ĐỀ CƯƠNG

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ TẠI TP.HCM

GVHD: PGS.TS NGUYỄN MINH HÀ
NHÓM 5B: - ĐINH CÔNG THÀNH
- LƯƠNG THỊ NGỌC TUYỀN
- KHÚC TÂN BIÊN
- ĐỊNH THỊ THU THỦY
Lớp: 14SKT
TP.HCM, THÁNG 03, 2015
2
3.1.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 20
3.1.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng 20
3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 20
3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
PHỤ LỤC ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.
4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Chú giải
DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ
BCTC Báo cáo tài chính
DN Doanh nghiệp
Tp.HCM Thành Phố Hồ Chí Minh

5
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hệ thống thuế ở việt nam 16
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 19
6
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Qui định về Doanh nghiệp vừa và nhỏ ………………………………… 12

ngân hàng.
Một báo cáo tài chính có chất lượng sẽ là một công cụ hữu ích cho việc đánh
giá so sánh giữa các doanh nghiệp, đánh giá giá trị hiện trạng của các doanh nghiệp, là
cơ sở cung cấp thông tin đáng tin cậy cho nhà đầu tư hiểu được các con số và các chỉ
số tài chính để hỗ trợ cho việc ra quyết định tốt hơn khi thực hiện đánh giá phân tích.
8
Nghiên cứu này nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng một báo cáo
tài chính, từ đó làm cơ sở cho phòng kế toán ở các doanh nghiệp lập được một báo cáo
tài chính có chất lượng, thông tin đáng tin cậy, giúp cho các DNVVN tiếp cận nguồn
vốn vay từ các tổ chức tín dụng được thuận lợi hơn. Ngoài ra, các nhà quản trị có thể
sử dụng kết quả nghiên cứu các yếu tố quyết định chất lượng của các báo cáo tài chính
để tăng hiểu biết của họ về các các thông tin trên báo cáo tìa chính trước khi ra quyết
định can thiệp kinh tế.
1.2 Lý do nghiên cứu
Tài chính được xem như là một yếu tố quan trọng cho việc mở rộng hoặc đa
dạng hóa của các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Sự tăng trưởng của các doanh
nghiệp này không thể xảy ra mà không có sự tham gia rộng rãi của vốn chủ sở hữu và
nợ vay. Mặc dù có sự phát triển nhanh chóng của các nguồn vốn liên doanh, doanh
nghiệp nhỏ tiếp tục phải đối mặt với việc thiếu hụt nguồn tài chính. (Le Thi Bich
Ngoc, 2013). Các DNVVN còn nhiều hạn chế trong việc tiếp cận vốn vay ngân hàng,
điều đó được xem như một bất lợi cho các DNVVN. Tuy nhiên, trong việc cho vay các
DNNVV, các ngân hàng thường phải đối mặt với một mức độ rủi ro cao do thông tin
không đối xứng, dẫn đến chi phí giao dịch cao trong việc thu thập thông tin để đưa ra
quyết định cho vay và giám sát hành vi khách hàng (Howorth, Carole, & Moro., 2006).
Vì vậy, câu hỏi "Làm thế nào để cải thiện tình hình tiếp cận các nguồn tài chính ngân
hàng của DNNVV?" Đã thu hút được sự quan tâm rất lớn từ các nhà nghiên cứu trên
toàn thế giới (Blackwell & Winter 2000; Deakins & Hussain, 1994).

các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tp.HCM
Phạm vi nghiên cứu : 150 doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tp.HCM.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này áp dụng cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và
nghiên cứu định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài
chính tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Tp HCM. Cụ thể như sau:
Phương pháp nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính thực hiện bằng thảo luận nhóm nhằm khẳng định mô hình
nghiên cứu đã đi đúng hướng và phù hợp với thực tế tại Tp.HCM.
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được tiến hành thông qua hai bước. Cụ thể như sau:
Bước thứ nhất: Khảo sát sơ bộ 100 kế toán trưởng/ kế toán tổng hợp đến từ các
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tp HCM, những kế toán trưởng/ kế toán tổng hợp được
lấy mẫu theo phương pháp thuận tiện.
Bước thứ hai: Khảo sát chính thức các kế toán trưởng/ kế toán tổng hợp hiện
đang công tác tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tp.HCM, bằng việc trả lời bảng câu
10
hỏi đã được thiết kế và hiệu chỉnh trước đó. Nghiên cứu áp dụng thang đo Likert với
05 mức độ đánh giá khác nhau.
Kết quả nghiên cứu định lượng
Sau khi thu hồi phiếu khảo sát, số liệu được nhập liệu và mã hoá bằng phần
mềm SPSS 20. Tiến hành thực hiện phân tích nhân tố bằng phần mềm SPSS.Từ đó
đưa ra cơ sở kết luận giả thuyết nghiên cứu cho đề tài. Ngoài ra, các dữ liệu được lưu
lại trong Microsoft Excel để phục vụ cho nhu cầu tính toán và thống kê mô tả cho
những mục đích cụ thể được trình bày ở chương 4.
1.7 Kết cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm 05 chương được hệ thống như sau:

cứu ở chương 1 và kết quả nghiên cứu cũng chính là mục tiêu mà nghiên cứu hướng
đến. Ở chương này, nghiên cứu sử dụng số liệu được khảo sát từ các kế toán trưởng/
kế toán tổng hợp, bằng các lập luận phân tích và đưa ra kết quả nghiên cứu với các số
liệu thực tế từ phần mềm SPSS 20
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Chương 5. Nghiên cứu nhằm đúc kết lại kết quả nghiên cứu từ đó đưa ra các
gợi ý giải pháp nhằm năng cao chất lượng báo cáo tài chính tại các doanh nghiệp vừa
và nhỏ.
12
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ đã định
nghĩa Doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy
định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn
vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí
ưu tiên), cụ thể:
Bảng 2.1 Qui định về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy mô Khu vực
Doanh nghiệp

10-200
người
20-100 tỷ
đồng
200-300
người
Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
10-50
người
10-50 tỷ
đồng
50-100
người
2.2 Chất lượng báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là các bản ghi chính thức về tình hình các hoạt động kinh
doanh của một doanh nghiệp (TaiChinhViet, 2011). Theo đó, Báo cáo tài chính cung
cấp một cái nhìn tổng thể về điều kiện tài chính của doanh nghiệp trong cả ngắn hạn và
dài hạn. Có 4 loại báo cáo tài chính cơ bản:
Bảng cân đối kế toán: Báo cáo về tài sản và nợ của công ty trong một thời điểm
xác định.
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: còn gọi là Báo cáo lợi nhuận và lỗ, phản
ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì.
13
hàng năm nên công bố thông tin đầy đủ, tính minh bạch cao hơn.
Chất lượng của các báo cáo tài chính là vấn đề lợi ích giữa các cơ quan quản lý,
các cổ đông, các nhà nghiên cứu và các nghiệp vụ kế toán riêng của mình. Điều này là
14
do thực tế rằng báo cáo tài chính đã là một phương tiện chính của giao tiếp thông tin
tài chính đến bên ngoài (Johnson et al., 2002).
Nhóm tác giả Van Beest, Braam, and Boelens (2009) cho rằng mục tiêu chính
của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin liên quan có chất lượng cao đến các tổ chức
kinh tế, tài chính, hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế. Ngoài ra cung cấp các thông
tin báo cáo tài chính chất lượng cao là rất quan trọng vì nó sẽ ảnh hưởng tích cực đến
việc cung cấp vốn với các bên liên quan trong việc đầu tư, tín dụng, các quyết định
phân bổ nguồn lực nhằm nâng cao hiệu quả kinh kế. Một báo cáo tài chính có chất
lượng cao sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư (Healy & Palepu, 2001)
2.3 Chuẩn mực kế toán
Luật Kế toán của Việt Nam lần đầu tiên ban hành vào năm 2003. Đến năm 2005,
bộ chuẩn mực kế toán (VAS) đầu tiên của Việt Nam đã hình thành. Hệ thống chuẩn
mực kế toán đó đã được cụ thể qua nhiều thông tư hướng dẫn trong suốt quá trình
hình thành mà đỉnh điểm là việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp theo
QĐ15/2006/QĐ-BTC và Thông tư số 200/2014/TT-BTC thay thế toàn bộ Quyết định
15.
Chế độ kế toán cho DNVVN dựa trên nền tảng của hệ thống chuẩn mực kế
toán và chế độ kế toán cho doanh nghiệp lớn.
Chế độ kế toán này được xây dựng trên cơ sở áp dụng đầy đủ 7 chuẩn mực kế
toán thông dụng, không áp dụng đầy đủ 12 chuẩn mực kế toán, và không áp dụng
hoàn toàn 7 chuẩn mực kế toán.
Các nội dung được loại trừ thường ít hay không liên quan đến các DNVVN
như các hoạt động ở nước ngoài, các khoản đầu tư tài chính, hợp nhất kinh doanh.

Trên góc độ người nộp thuế: “ Thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức,
cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu
chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng , nhiệm vụ của nhà nước.”
Tại Việt Nam, hệ thống thuế là tổng hợp các hình thức thuế khác nhau mà giữa
chúng có mỗi quan hệ mật thiết với nhau để thực hiện các nhiệm vụ nhất định của nhà
nước trong từng thời kỳ.
16

Hình 2.1 Hệ thống Thuế ở Việt Nam Nguồn: (Sử Đình Thành, 2006)
Nhóm tác giả Hanlon, Hoopes, and Shroff (2014) cho rằng việc giám sát cao của
cơ quan thuế có mối liên hệ tích cực với chất lượng báo cáo tài chính.
Chính phủ (thông qua các cơ quan thuế) có lợi ích trong việc xác định lợi nhuận
thực thu được của công ty và nhận một phần đóng góp từ lợi nhuận đó. Chính phủ với
cơ chế giám sát của mình có thể theo dõi quản lý và ngăn ngừa các công ty chuyển
hướng các nguồn lực để tư lợi (Desai, Dyck, & Zingales, 2007). Theo đó, nhóm tác

p

Thuế
giá
trị
gia
tăng
Thuế
tiêu
thụ
đặc
biệt
Thuế
xuất
khẩu,
thuế
nhập
khẩu
Thuế
nhà
đất
Thuế
tài
nguyên,
thuế
môi
trường
Thuế
môn
bài

một DN được kiểm toán bởi một trong các hãng kiểm toán lớn thì thông thường, DN đó
quan tâm nhiều hơn đến việc vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế. Báo cáo tài
chính của một DN được kiểm toán thì mức độ tuân thủ và vận dụng các chuẩn mực kế
toán sẽ cao hơn những DN không yêu cầu bắt buộc kiểm toán. Tuy nhiên, ở Việt Nam
qui định về kiểm toán chỉ áp dụng bắt buộc cho các công ty yết giá hoặc các tổng công
ty nhà nước. Điều này đặt ra nghi vấn là áp lực cho việc tuân thủ chế độ kế toán cho
18
DNVVN ở Việt Nam còn rất thấp trong bối cảnh công tác kiểm tra số liêu tài chính của
các DN đã có sự thay đổi lớn từ khi Luật quản lý thuế có hiệu lực từ năm 2007.
Giả thuyết H3: Tổ chức kiểm toán có tác động cùng chiều đến việc vận
dụng chuẩn mực kế toán
2.7 Quyết định của nhà quản trị
Chất lượng của báo cáo tài chính của công ty bị thay đổi và giảm chất lượng do
ảnh hưởng của các biện pháp và quyết định của cấp quản lý để các bên liên quan thấy
tình hình tài chính của công ty tốt hơn (Healy & Palepu, 2001).
Kế toán được xem là một công cụ của người quản lý để kiểm tra, giám sát
mọi hoạt động và vận hành doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên, trong
nhiều trường hợp, kế toán được vận dụng như là một phương tiện để kê khai thuế
theo quản lý của nhà nước, nhiều chủ doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đến vai
trò quản lý của kế toán.
Giả thuyết H4: Quyết định của nhà quản trị có tác động cùng chiều đến
việc vận dụng chuẩn mực kế toán
2.8 Quy mô doanh nghiệp
Qui mô doanh nghiệp được xem là nhân tố ảnh hưởng đáng kể đến việc vận
dụng chuẩn mực kế toán (Meek, Roberts, & Gray, 1995). Các DN có qui mô lớn
thường hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, mức độ phức tạp của các nghiệp
vụ kinh tế rất cao và do vậy việc vận dụng các chuẩn mực kế toán sẽ đầy đủ hơn. Ở

cho phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam.
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất Quy định về thuế (+)
Quy mô DN (+)
Quyết định của nhà
quản trị (+)
Tổ Chức Kiểm Toán
(+)
Người lập BCTC (+)
Vận
dụng
Chuẩn
Mực
Kế
Toán
Chất
lượng
BCTC
(+)
20
Sử dụng Thang đo Likert với 05 mức độ đánh giá được áp dụng cho các câu
hỏi.
21
Chuẩn bị khảo sát và thu hồi mẫu: Bảng câu hỏi khảo sát được in sẵn và được
gửi trực tiếp đến cho các kế toán trưởng/kế toán tổng hợp.
Trong khảo sát quy mô mẫu phụ thuộc vào phương pháp phân tích và gắn liền
với điều kiện nguồn lực. Ước lượng sẽ chính xác hơn khi có nhiều quan sát nhưng sẽ
tốn nhiều chi phí và thời gian thực hiện. Theo (Hair et al., 2006) cho rằng kích thước
mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ quan sát/biến đo lường là 5/1, nghĩa là
cứ mỗi biến đo lường thì cần có 5 quan sát. Chọn kích thước mẫu là 150
3.3 Phương pháp xử lý dữ liệu
Dữ liệu sau khi thu thập cần được xử lý sơ bộ trước khi đưa vào phân tích thông
qua các bước như sau:
Mã hóa dữ liệu: dữ liệu đã thu thập sẽ được chuyển đổi thành dạng mã số để
nhập vào máy tính. Việc mã hóa dữ liệu còn tùy thuộc vào câu hỏi nghiên cứu là câu
hỏi đóng hay câu hỏi mở.
Thiết lập ma trận dữ liệu: sau khi mã hóa, dữ liệu sẽ được nhập vào máy. Việc
nhập dữ liệu vào máy còn tùy thuộc vào chương trình sử dụng để xử lý dữ liệu (ở đây
là chương trình SPSS).
Làm sạch dữ liệu: trước khi thực hiện xử lý dữ liệu, cần thiết phải thực hiện làm
sạch dữ liệu nhằm phát hiện các sai sót (ô trống, các trả lời không hợp lệ).
Đánh giá độ tin cậy của thang do
Dùng hệ số Cronbach’s Alpha
Mục đích: loại bỏ bớt các biến không phù hợp và hạn chế các biến rải rác trong
quá trình nghiên cứu. Những biến có hệ số tương quan biến tổng < 0.3 nên bị loại. Thang
đo có hệ số Cronbach’s Alpha từ 0.7 trở lên.
Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

i

0
+ β
1
X
1i
+ β
2
X
2i
+ + β
P
X
Pi
+ e
i
Đánh giá sự phù hợp của mô hình:
Một công việc quan trọng của bất kỳ thủ tục thống kê xây dựng mô hình nào
cũng đều là chứng minh sự phù hợp của mô hình. Một thước đo cho sự phù hợp của
mô hình tuyến tính thường dùng là hệ số xác định mô hình R². R² càng gần 1 thì mô
hình ta xây dựng càng gần với tập dữ liệu.
Kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô hình (phân tích phương sai):
Đại lượng F được sử dụng cho kiểm định này. Nếu xác suất F nhỏ thì giả thuyết
R² =0 bị bác bỏ. Ta kết luận mô hình hối qui tuyến tính xây dựng được phù hợp với
tổng thể.
Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của hệ số hồi qui:
Trị thống kê dùng để kiểm định giả thuyết là: T= B1/B
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status