Nghiên cứu về sai sót trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam (tt) - Pdf 44

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VÕ TỊNH QUYÊN

ẢNH HƢỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ THUỘC “TAM
GIÁC GIAN LẬN” ĐẾN SAI PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng - 2017


Công trình được hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Ngƣời hƣớng dẫn KH: TS. Phạm Hoài Hƣơng

Phản biện 1: TS. Đoàn Thị Ngọc Trai
Phản biện 2: PGS. TS. Trần Thị Cẩm Thanh

Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng vào ngày 26 tháng 8 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng

Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và chỉ xem xét những công ty
có chênh lệch lợi nhuận trước và sau kiểm toán không phân biệt là


2
chênh lệch tăng hay giảm.
Từ đó, đề tài “Ảnh hưởng của các nhân tố thuộc tam giác gian
lận đến các san phạm trọng yếu trên Báo cáo tài chính của các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” được lựa chọn để
nghiên cứu nhằm lấp đầy các khoảng trống của các nghiên cứu trước
đây.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định và phân tích các nhân tố thuộc tam giác gian lận
ảnh hưởng đến sai phạm trọng yếu trên BCTC của các công ty niêm
yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp cho việc nhận diện sai phạm trọng yếu dựa
trên kết quả nghiên cứu..
3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu trên, luận văn cần trả lời câu hỏi
nghiên cứu:
- Các nhân tố nào thuộc tam giác gian lận ảnh hưởng đến sai
phạm trọng yếu trên BCTC?
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các các nhân tố thuộc tam giác gian lận bao
gồm động cơ/ áp lực, cơ hội và thái độ dẫn đến sai phạm trọng yếu
trên BCTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn từ các công ty phi tài chính niêm

(Fraud Triangle) đã kết luận rằng, có nhiều nguyên nhân để một
người thực hiện hành vi gian lận, tuy nhiên, tất cả các nguyên nhân
đó được tổng hợp thành 3 nhóm nhân tố chính là: Áp lực, Cơ hội,


4
Thái độ [15]. Tiếp đến, Person (1995) đã phát hiện ra ảnh hưởng của
các nhân tố đòn bẩy nợ, vòng quay vốn, tỷ lệ hàng tồn kho trên tổng
tài sản, những nhân tố này gây ra áp lực cho việc thực hiện hành vi
gian lận BCTC [23]. Skousen và cộng sự (2008) đã nghiên cứu ảnh
hưởng của các nhân tố áp lực, cơ hội và thái độ đến sai phạm trọng
yếu trên BCTC. Kết quả cho thấy 5 nhân tố áp lực và hai nhân tố cơ
hội ảnh hưởng đáng kể đến sai phạm trọng yếu trên BCTC. Nghiên
cứu của Lou & Wang (2009) cho thấy hành vi gian lận có mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê với các biến (các nhân tố thuộc tam giác gian
lận) như đòn bẩy tài chính, tỷ lệ doanh thu, số lần điều chỉnh BCTC,
số lần thay đổi kiểm toán viên, tỷ lệ cổ phiếu của Ban Giám đốc và
Hội đồng quản trị bị cầm cố, sai sót trong dự báo của các chuyên gia
phân tích tài chính [22]. Amara và cộng sự (2013) cho rằng chỉ có
nhân tố ROA có tác động đến khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu
trên BCTC [12]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân
(2014) phân loại các nhân tố theo 3 nhóm Áp lực, Cơ hội, và Thái
độ/ sự biện hộ với kết quả nhân tố áp lực là tỷ lệ doanh thu trên nợ
phải thu, tỷ trọng hàng tồn kho trên tổng tài sản, đòn cân nợ; và nhân
tố Cơ hội quy mô công ty kiểm toán và 2 nhân tố Thái độ là ý kiến
của kiểm toán viên và tiền sử gian lận BCTC có tác động đến hành vi
gây ra sai phạm trọng yếu trên BCTC [6].


5

6
những điều kiện thuận lợi cho người gian lận thực hiện hành vi gian
lận. Thái độ của một người thể hiện phẩm chất của người đó.
1.2.2. Lý thuyết đại diện (The Agency Theory)
Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ những nghiên cứu trong
những năm 1970, bởi Alchian và Demsetz (1972) hay Jensen và
Meckling (1976), theo như Eisenhardt (1989), lý thuyết đại diện giải
thích 2 vấn đề liên quan đến sự tách biệt giữa sở hữu và quản lý, đó
là mâu thuẫn về lợi ích và thông tin bất đối xứng giữa người chủ sở
sữu và người đại diện.
1.3. TỔNG HỢP CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SAI
PHẠM TRỌNG YẾU TRÊN BCTC TỪ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ĐÂY
1.3.1. Nhóm yếu tố Áp lực
Các nhân tố kinh tế có thể được phân loại vào nhóm các yếu tố
áp lực kinh tế, cụ thể nhân tố “Đòn bẩy nợ” (Person, 1995; Spathis,
2002; Lou & Wang, 2009; Amara, 2013; Hawariah, 2014; Trần Thị
Giang Tân, 2014), Vòng quay vốn (Person, 1995; Hawariah, 2014),
Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) (Amara, 2013), Tỷ lệ tự tài trợ,
nhu cầu huy động vốn, tốc độ tăng trưởng tài sản (Skousen và cộng
sự, 2008) có thể dẫn đến áp lực gian lận BCTC.
1.3.2. Nhóm yếu tố Cơ hội
Theo các nghiên cứu trước, quy mô công ty kiểm toán
(Skousen, 2008; Amara, 2013; Trần Thị Giang Tân, 2014), Tỷ trọng
hàng tồn kho trong tài sản (Person, 1995; Spathis, 2012; Hawariah,
2014; Trần Thị Giang Tân, 2014), Tỷ lệ quyền sở hữu của nhà quản
lý (Skousen và cộng sự, 2008), Hội đồng quản trị độc lập với Ban
Giám đốc, Bất kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc
(Beasley, 1996; Skousen, 2009) là nhân tố “cơ hội” đối với sai phạm


Nam có tốc độ tăng trưởng tài sản bình quân qua 2 năm càng cao thì
khả năng BCTC có sai phạm trọng yếu theo hướng khai thiếu lợi
nhuận càng thấp.
Vòng quay vốn (SATA)
Vòng quay vốn đại diện cho sức mạnh tạo ra doanh số bán
hàng từ tài sản, đồng thời cũng là thước đo khả năng lãnh đạo của
ban giám đốc. Sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường gây ra một áp
lực lên không chỉ cá nhân nhà quản lý mà còn gây ra áp lực đến toàn
công ty, dẫn đến việc điều chỉnh lợi nhuận trên BCTC.
H2a: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có vòng quay
vốn càng chậm thì khả năng BCTC có sai phạm trọng yếu theo
hướng khai khống lợi nhuận càng cao.
H2b: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có vòng quay
vốn càng chậm thì khả năng BCTC có sai phạm trọng yếu theo


9
hướng khai thiếu lợi nhuận càng thấp.
Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)
Lý thuyết đại diện có thể giải thích cho mối quan hệ giữa tỷ
suất sinh lời trên tài sản (ROA) và sai phạm trọng yếu trên BCTC.
Thông thường, ROA được xem như là một chỉ tiêu đánh giá năng lực
của ban quản lý. Điều này gây ra áp lực lên nhà quản lý phải làm sao
để tăng ROA đúng như mong đợi.
H3a: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có tỷ lệ sinh
lời trên tổng tài sản (ROA) càng thấp thì khả năng BCTC có sai
phạm trọng yếu theo hướng khai khống lợi nhuận càng cao.
H3b: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có tỷ lệ sinh
lời trên tổng tài sản (ROA) càng thấp thì khả năng BCTC có sai
phạm trọng yếu theo hướng khai thiếu lợi nhuận càng thấp.

(BODT) không điều hành và không phải là người có liên quan với
Ban Giám đốc với những quyết định khách quan nhất nên số lượng
này giảm đi sẽ ảnh hướng đến sai phạm trọng yếu.
H7: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có mức độ độc
lập của Hội đồng quản trị càng thấp thì khả năng BCTC có sai phạm
trọng yếu càng cao.
Loại công ty kiểm toán (AUDSIZE)
Doanh nghiệp được quyền lựa chọn công ty kiểm toán cho
mình vì vậy, chất lượng các báo cáo kiểm toán còn phụ thuộc vào
chất lượng của các công ty kiểm toán được lựa chọn.
H8: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam được kiểm toán
bởi Big4 thì khả năng BCTC có sai phạm trọng yếu thấp hơn.
2.1.3. Thái độ và sự biện hộ
Thay đổi công ty kiểm toán (AUDCHANGE)
Những nghiên cứu trước đây cho thấy rằng, khả năng sai phạm
xảy ra tăng lên ngay sau khi một đơn vị thay đổi kiểm toán viên.


11
H9: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có thay đổi
công ty kiểm toán trong năm hiện tại thì khả năng BCTC có sai phạm
trọng yếu cao hơn.
Tiền sử BCTC có sai phạm trọng yếu (RST)
Khi hành vi gian lận đã được thực hiện một lần, người gian lận
có thể tự biện hộ cho hành vi này và nguy cơ cao lặp lại hành vi gian
lận là khá cao.
H10: Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam có sai phạm
trọng yếu trên BCTC năm trước thì khả năng BCTC năm hiện tại
cũng có sai phạm trọng yếu là cao.
2.1.4. Yếu tố khác



sau kiểm toán

Lợi nhuận thuần sau kiểm toán

Về khía cạnh định lượng, theo “Rules of thumb”, nếu % chênh
lệch lợi nhuận trên 10% thì sai phạm được xem là chắc chắc trọng
yếu; nếu % chênh lệch dưới 5% thì sai phạm được xem là chắc chắn
không trọng yếu; nếu % chênh lệch dao động từ 5% đến 10% thì sai
phạm có thể được xem là trọng yếu hay không tùy theo xét đoán của
kiểm toán viên (Gramling, 2012). Trong luận văn này, tác giả sử
dụng mốc 5% để phân biệt sai phạm trọng yếu và không trọng yếu
trên phương diện định lượng.
Trong luận văn này, sai phạm trọng yếu trên BCTC của các
công ty được mã hóa với tên biến là FRAUD với „0‟ nếu BCTC
không có sai phạm trọng yếu, „1‟ nếu có sai phạm trọng yếu theo
hướng khai khống lợi nhuận, „2‟ nếu có sai phạm trọng yếu theo
hướng khai thiếu lợi nhuận.
2.2.2. Đo lƣờng các nhân tố ảnh hƣởng đến sai phạm trọng
yếu trên BCTC
Bảng 2.1. Đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến sai phạm trọng
yếu trên BCTC
TT Mã biến

Tên biến

Phƣơng pháp đo lƣờng

Nhóm yếu tố Áp lực

Tên biến
Vòng quay
vốn

Phƣơng pháp đo lƣờng
Doanh thu thuần năm t/ Tổng
tài sản thuần năm t

Tỷ lệ sinh lời Lợi nhuận sau thuế cuối năm
trên tài sản
Đòn cân nợ

t/Tổng tài sản cuối năm t
Nợ vay cuối năm t/ Tổng tài
sản cuối năm t
1 = Đơn vị bị lỗ trong năm

5

LOSS

Tình trạng

trước liền kề.

lợi nhuận

0 = Đơn vị không bị lỗ trong
năm trước liền kề.


nhóm Big4
0 = Công ty kiểm toán không
thuộc nhóm Big4

Nhóm yếu tố Thái độ và sự biện hộ

Thay đổi
9

AUDCHA

công ty kiểm
toán

1 = Đơn vị thay đổi công ty
kiểm toán
0 = Đơn vị không thay đổi
công ty kiểm toán


14
TT Mã biến

Tên biến

Phƣơng pháp đo lƣờng
1 = BCTC năm trước có sai

Tiền sử
10

khống lợi nhuận), 2 (có sai phạm trọng yếu theo hướng khai thiếu lợi
nhuận). Các biến độc lập là các yếu tố ảnh hưởng đến sai phạm trọng
yếu trên BCTC của công ty.
Mô hình nghiên cứu tổng quát
Log

= αij + βijACHANGE + βijSATA + βijROA + βijLEV

+ βijLOSS +βijSTOWN + βijBODT + βijAUDSIZE+
+ βijAUDCHANGE + βijRST + βijSIZE + εij
2.4. CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu gồm các công ty niêm yết trên cả hai sàn giao
dịch chứng khoán TP. HCM và Hà Nội năm 2015 (không bao gồm
các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, các ngân hàng và công ty
bảo hiểm). Mẫu gồm 100 công ty được chia đều cho 2 sàn giao dịch


15
(không kể sàn upcom). Cỡ mẫu đáp ứng yêu cầu lớn hơn 5 lần số
biến độc lập trong mô hình (11x5=55). Các công ty được chọn ngẫu
nhiên từ 2 sàn giao dịch chứng khoán. Tuy nhiên, nếu công ty có
BCTC với ý kiến kiểm toán không thuộc loại chấp nhận toàn phần sẽ
bị loại ra khỏi mẫu vì nếu BCTC không thuộc loại chấp nhận toàn
phần thì % chênh lệnh lợi nhuận trên BCTC trước và sau kiểm toán
không phản ánh đúng mức độ sai phạm.


16
CHƢƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

B

Wald df Sig. Exp(B)
Error

Upper
Lower Bound
Bound

Intercept

72.027 34.081 4.466 1 .035

ACHANGE

-.786 7.523 .011 1 .917

Ln_SATA

1

.456

1.801E-007 1153763.254

.251 1.139 .049 1 .826 1.285

.138

11.971


.950

1.125

BODT

-.277

.121 5.218 1 .022

.758

.598

.961

LogSize

-1.895 1.078 3.088 1 .079

.150

.018

1.244

[LOSS=.00]

-4.212 2.276 3.425 1 .064


.

.

4.305E-008

.062

.

.

[LOSS=1.00]

0

b

.

.

0

.

[AUDSIZE=.00] 7.768 3.068 6.412 1 .011 2363.634
[AUDSIZE=1.00]


005

[RST=1.00]

0b

.

.

0

.

.

95% Confidence Interval
FRAUDa

for Exp(B)

Std.
B

Wald df Sig. Exp(B)
Error

Upper
Lower Bound
Bound

Bound

Ln_SATA

-.791

.568 1.941 1 .164

.453

.149

1.380

ROA

-.139

.140 .989 1 .320

.870

.662

1.144

LEV

-.038


-2.124 .938 5.122 1 .024

.120

.019

.752

.298

26155.457

.

.

2.490

1982.167

.

.

.

.013

.000



.

0

.

.

[AUDSIZE=.00] 4.252 1.704 6.227 1 .013 70.260
[AUDSIZE=1.00]

0b

.

.

0

.

[AUDCHA=.00] -4.353 1.706 6.513 1 .011
[AUDCHA=1.00]
[RST=.00]
[RST=1.00]

0b

.


19
Đối với trường hợp sai phạm trọng yếu trên BCTC theo hướng
khai thiếu, các nhân tố có ý nghĩa đối với mô hình là AUDSIZE,
AUDCHA, RST và LogSIZE (sig < 0.05).


20
CHƢƠNG 4
KẾT LUẬN VÀ HÀM CHÍNH SÁCH
4.1. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Với dữ liệu năm 2015 của trên 100 công ty niêm yết trên Thị
trường chứng khoán Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy các
nhân tố thuộc về tam giác gian lận ảnh hưởng đến sai phạm trọng
yếu trên BCTC theo hai hướng khai khống và khai thiếu có những
nét tương đồng và đồng thời cũng có những nét khác biệt nhau.
Đối với các nhân tố thuộc nhóm yếu tố áp lực, có thể kể đến
ảnh hưởng của tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và tình trạng lợi
nhuận ở năm trước (LOSS). Hai nhân tố này gây ra áp lực khai
khống đối với các doanh nghiệp có tình hình tài chính năm trước bị
thua lỗ, hay tỷ suất sinh lời trên tài sản càng thấp thì nguy cơ khai
khống lợi nhuận càng cao, trong khi đó, hai yếu tố này lại không có
ảnh hưởng đến động cơ khai thiếu lợi nhuận của doanh nghiệp.
Đối với các nhân tố thuộc nhóm yếu tố cơ hội, các nhân tố có
ảnh hưởng đến hành vi khai khống lợi nhuận là Mức độ độc lập của
Hội đồng quản trị và loại công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm
toán BCTC cho doanh nghiệp. Theo kết quả nghiên cứu, khi tỷ lệ số
thành viên mức độ độc lập của Hội đồng quản trị càng cao, thì tỷ lệ
khai khống lợi nhuận trên BCTC càng ít có khả năng xảy ra. Điều
này hoàn toàn phù hợp với giả thuyết đưa ra ở chương 2. Tuy nhiên,

quyền trong việc lãnh đạo công ty, từ đó, nếu sai phạm xảy ra thì lúc
này thật sự rất khó để phát hiện ra. Ngoài ra, loại công ty kiểm toán
độc lập đã từng kiểm toán cho doanh nghiệp cũng là một ảnh hưởng
không nhỏ đến việc sai phạm có bị phát hiện hay không.
- Để nhận diện nhân tố thái độ, kiểm toán viên cũng cần chú
trọng đến việc thay đổi công ty kiểm toán BCTC cho doanh nghiệp
hay không. Nếu có sự thay đổi, cần xem xét ý kiến kiểm toán của


22
công ty kiểm toán trước và những sự thay đổi trong các chỉ tiêu tài
chính năm nay. Ngoài ra, kiểm toán viên có thể dựa vào kinh nghiệm
kiểm toán của mình cũng như các báo cáo kiêm toán trước đây, nếu
thấy có dấu hiệu cho thấy trước đây đã từng phát sinh các bút toán
làm thay đổi lợi nhuận trước kiểm toán, hay đã từng nhận được ý
kiến kiểm toán không phải là chấp nhận toàn phần do vẫn còn có sai
phạm trọng yếu trên Báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần cân nhắc
đánh giá rủi ro kiểm toán có sai phạm trọng yếu do gian lận khai
khống hoặc khai thiếu lợi nhuận ở mức cao.
4.2.2. Đối với các đối tƣợng khác sử dụng thông tin trên
BCTC
Các đối tượng sử dụng thông tin từ BCTC cần thận trọng hơn
trong việc đưa ra các quyết định kinh tế của mình. Ngoài việc dựa
vào phân tích các thông tin trên BCTC các ngân hàng, chủ nợ, cần
chú trọng xem xét các yếu tố thuộc về áp lực, cơ hội và thái độ mà
doanh nghiệp có thể đối mặt.
4.2.3. Đối với các công ty niêm yết
Cần tăng cường vai trò quản lý và giám sát của hội đồng quản
trị và ban kiểm soát đối với ban giám đốc. Hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ của doanh nghiệp với đầy đủ năng lực, kỷ luật và tính

tiêu phi tài chính khác có liên quan đến tình hình lợi nhuận.
Ngoài ra, cần nâng cao công tác quản lý hoạt động kiểm toán
độc lập cần chặt chẽ hơn và có những quy định rõ ràng đối với việc
đưa ra ý kiến kiểm toán của kiểm toán viên, đồng thời rà soát hoạt
động kinh doanh của những công ty kiểm toán độc lập này, tránh
trường hợp đưa ra ý kiến kiểm toán vì mục đích cá nhân.
4.3. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƢỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP
THEO
Nghiên cứu này còn nhiều hạn chế về không gian và thời gian.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status