BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC
THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
TRẦN THỊ MINH PHƢƠNG
HÀ NỘI – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC
THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM
TRẦN THỊ MINH PHƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. BÙI ĐỨC HIỂN
HÀ NỘI – 2017
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................... 5
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 5
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................... 6
4. Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................... 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................................... 7
5.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 7
5.2. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 7
6. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 7
7. Nội dung của Luận văn ..................................................................................... 8
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG VÀ PHÁP LUẬT
BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH PHÁT
TRIỂN KINH TẾ ...................................................................................................... 9
1.1. Những vấn đề lý luận về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích
phát triển kinh tế .................................................................................................... 9
1.1.1. Thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế ................................................ 9
1.1.2. Bồi thường .............................................................................................. 18
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì
mục đích phát triển kinh tế .................................................................................. 26
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích
phát triển kinh tế ............................................................................................... 26
1.2.2. Vai trò của pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì mục
đích phát triển kinh tế ....................................................................................... 28
1.2.3. Nội dung điều chỉnh pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì
mục đích phát triển kinh tế ............................................................................... 28
1.2.4. Yêu cầu điều chỉnh pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì
mục đích phát triển kinh tế ............................................................................... 30
1.3. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển các quy định về bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế.......................................... 31
2.2.2. Một số bất cập, hạn chế và nguyên nhân ............................................... 75
2.2.3. Một số vụ việc liên quan đến việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
tại một số dự án lớn trên địa bàn tỉnh Hà Nam ............................................... 78
2.3. Đánh giá chung ............................................................................................ 80
Tiểu kết Chương 2 ............................................................................................... 86
Chƣơng 3. ĐỊNH HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI
THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT VÌ MỤC ĐÍCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ NAM ...................................................... 88
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
vì mục đích phát triển kinh tế .............................................................................. 88
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi
đất vì mục đích phát triển kinh tế ........................................................................ 89
3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế ................................................ 89
3.2.2. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức, thực hiện pháp luật về bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế ......................................... 92
3.2.3. Giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp
luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế trên
địa bàn tỉnh Hà Nam ........................................................................................ 93
Tiểu kết Chương 3 ............................................................................................... 95
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 97
DANH MỤC VIẾT TẮT
BLDS : Bộ Luật dân sự
BT : Bồi thường
GPMB : Giải phóng mặt bằng
HT : Hỗ trợ
đủ nhu cầu. Bởi vậy, quỹ đất phục vụ cho công cuộc phát triển nói trên cần phải lấy
từ nhiều nguồn, trong đó có phần từ THĐ của tổ chức, cá nhân và hộ gia đình để lấy
mặt bằng thực hiện dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Đất đai là tài sản quốc gia có giá trị lớn, có vị trí đặc biệt quan trọng đối với
đời sống của từng hộ gia đình, cá nhân, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nơi an cư, lạc
nghiệp của người dân. THĐ không chỉ là việc làm chấm dứt quyền SDĐ của tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân đối với một diện tích đất nhất định; để lại những hậu quả
về kinh tế - xã hội cần kịp thời giải quyết nhằm duy trì sự ổn định chính trị, xã hội.
Thực tế cho thấy đây là công việc khó khăn, phức tạp và thường phát sinh tranh
chấp, khiếu kiện về đất đai gay gắt, nóng bỏng. Bởi lẽ, nó “đụng chạm” trực tiếp
đến những lợi ích thiết thực không chỉ của người SDĐ mà còn của nhà nước, của xã
hội và lợi ích của các doanh nghiệp, chủ đầu tư. Chỉ khi nào nhà nước giải quyết hài
1
hòa lợi ích của các chủ thể này thì việc THĐ mới không tiềm ẩn nguy cơ khiếu
kiện, tranh chấp kéo dài gây mất ổn định chính trị - xã hội. Dẫu vậy, không phải
trong bất kỳ trường hợp THĐ nào, nhà nước, người SDĐ và các nhà đầu tư cũng
tìm được “tiếng nói” đồng thuận; bởi lẽ, người bị THĐ chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất từ việc THĐ.
Việc BT khi NN THĐ trong thời gian qua tại tỉnh Hà Nam đã có những
chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tiễn việc BT khi nhà nước THĐ, đặc biệt là
THĐ vì mục đích phát triển kinh tế vẫn còn nhiều bất cập, chưa được triệt để, việc
người dân chưa được BT thỏa đáng gây căng thẳng, bức xúc, dẫn đến khiếu kiện
kéo dài, gây mất ổn định chính trị, xã hội tại các khu vực giải tỏa có xu hướng tăng
theo... Sở dĩ có vấn đề này là do nhiều nguyên nhân, trong đó, phần lớn là do các
quy định và thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều hạn chế,
thiếu sót cần được nghiên cứu hoàn thiện. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa
chọn đề tài: “Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát
triển kinh tế từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ.
nguyên tắc của việc THĐ và BT trong THĐ, Website của Viện Khoa học thanh tra,
Hà Nội…
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về
pháp luật BT nói riêng cũng như pháp luật liên quan đến việc nhà nước THĐ nói
chung như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của BT khi NN THĐ, cơ sở của việc BT
khi NN THĐ, khái niệm, vai trò của pháp luật về BT khi NN THĐ…Tuy nhiên, các
công trình này chưa nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề lý luận liên quan đến
công tác BT khi nhà nước THĐ vì mục đích phát triển kinh tế. Kế thừa nội dung các
công trình trên đã nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu sâu các vấn đề lý luận
liên quan đến công tác BT khi nhà nước THĐ vì mục đích phát triển kinh tế.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật về BT khi nhà nước
THĐ vì mục đích phát triển kinh tế: Dưới giác độ này, qua khảo cứu, tác giả thấy có
một số công trình, bài viết nghiên cứu về vấn đề này, như: Ðinh Thị Huê (2011),
Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở
tỉnh Hà Nam hiện nay, luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội; Nguyễn Thị Thảo My
3
(2014), Thực trạng áp dụng pháp luật về BT khi nhà nước THĐ trên địa bàn huyện
Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang, luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội; Nguyễn Phúc Thiện
(2014), Thực hiện pháp luật về THĐ đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở
Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sỹ luật học, Hà Nội; Trần Thị Thập (2015), Thực
hiện chính sách BT, GPMB trên địa bàn tỉnh Hà Nam, luận văn thạc sỹ quản lý kinh
tế, Hà Nội; Lôi Đại Phong (2016), Pháp luật về BT khi nhà nước THĐ và thực tiễn
thi hành tại huyện Bình Thạnh - thành phố Hồ Chí Minh, luận văn thạc sỹ luật học,
Hà Nội.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu có nhiều bài viết chuyên đề liên quan
đến việc BT khi nhà nước THĐ được đăng trên các trang tạp chí pháp luật uy tín
như: TS. Nguyễn Thị Nga (2011), Những tồn tại, vướng mắc phát sinh trong quá
trình áp dụng các phương thức BT khi nhà nước THĐ, Tạp chí luật học, số 5/2011,
sửa đổi, bổ sung một số quy định chưa phù hợp với thực tiễn (quy định về giá BT,
hỗ trợ, TĐC, khiếu nại QĐ THĐ, BT đất); một số giải pháp trong vấn đề quy hoạch
SDĐ, tổ chức thực hiện BT (Tăng cường và kiểm tra, giám sát việc tuyên truyền,
phổ biến và giáo dục pháp LĐĐ nói chung và pháp luật về BT khi nhà nước THĐ
nói riêng cho cán bộ và nhân dân; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác THĐ).
Kế thừa các giải pháp trên, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về BT khi NN THĐ cho phù hợp
với đòi hỏi của thực tiễn hiện nay, trong tương lai và phù hợp với tình hình kinh tế,
xã hội của tỉnh.
Tiếp tục kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình, bài viết trên
đây, luận văn đi sâu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện về BT khi nhà nước
THĐ vì mục đích phát triển kinh tế từ thực tiễn tỉnh Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật BT khi nhà
nước THĐ vì mục đích phát triển kinh tế. Đồng thời, thông qua thực tiễn, đánh giá
thực trạng pháp luật để đưa ra giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BT
5
khi nhà nước THĐ vì mục đích phát triển kinh tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nghiên cứu trên, Luận văn tập trung thực
hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về pháp luật BT khi nhà nước
THĐ vì mục đích phát triển kinh tế;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về BT khi nhà nước THĐ vì mục
đích phát triển kinh tế qua thực tiễn tỉnh Hà Nam, chỉ ra những ưu điểm và những
bất cập, hạn chế của những quy định đó;
- Từ đó đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định của
hướng dẫn thi hành (có liên hệ với các quy định về vấn đề này của LĐĐ năm 2003)
và các chính sách, quy định của UBND tỉnh Hà Nam sau ngày 01/7/2014. Phạm vi
nghiên cứu thực tiễn được giới hạn trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên, để có cơ
sở cho việc đánh giá thực trạng, tác giả cũng nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý
luận liên quan.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả
đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá
trình nghiên cứu của luận văn, để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm
bảo tính khách quan, chân thực. Từ phương pháp chung đó, luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu cụ thể trong quá trình nghiên cứu các nội dung chi tiết của
luận văn. Tùy thuộc vào nội dung đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục
trong luận văn mà tác giả vận dụng các phương pháp khác nhau cho phù hợp.
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được thu thập
7
chủ yếu là các quy định của cơ quan nhà nước ở Trung ương, của UBND tỉnh Hà
Nam và các cơ quan, đơn vị liên quan đến công tác BT khi NN THĐ. Nguồn thông
tin này được thu thập chủ yếu qua Công báo, các trang web của các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Đồng thời, tác giả cũng thông qua các quyết định, báo cáo, ý
kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Hà Nam, các cơ quan, đơn vị và thông qua các công
trình, bài viết, tạp chí, internet…để lấy thông tin, số liệu liên quan đến pháp luật và
thực trạng áp dụng pháp luật về BT khi NN THĐ tại địa bàn tỉnh Hà Nam từ khi
LĐĐ năm 2013 có hiệu lực đến nay;
- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp phân tích, bình luận, đánh giá;
phương pháp tổng hợp, diễn giải, quy nạp. Phương pháp này được sử dụng để tổng
hợp và phân tích các quy định của pháp luật về BT khi NN THĐ, cũng như các
đó mà hình thức pháp lý là một QĐ THĐ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thu
hồi đất cũng là nội dung quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai. Vì vậy, để
thực thi nội dung này, quyền lực nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích của
nhà nước, của xã hội đồng thời lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước về
đất đai. Nếu giao đất, cho thuê đất làm phát sinh quan hệ pháp LĐĐ thì THĐ để lại
hậu quả là làm chấm dứt quan hệ pháp LĐĐ.
Vậy thu hồi đất là gì? theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa thu hồi là việc “thu
về lại, lấy lại cái trước đó đã đưa ra, đã cấp phát hoặc bị mất vào tay kẻ khác” [29].
Từ đó ta có thể hiểu THĐ là việc nhà nước lấy lại đất đã giao, đã cho thuê vì một lý
do nào đó. Giáo trình LĐĐ của trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa THĐ như
sau: "Là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt
một quan hệ pháp LĐĐ để phục vụ lợi ích của nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành
chính hành vi vi phạm pháp LĐĐ của người SDĐ" [30, tr.141].
9
Mặt khác, theo quy định tại khoản 5 Điều 4 LĐĐ năm 2003: "Thu hồi đất là
việc nhà nước ra QĐ hành chính để thu lại quyền SDĐ hoặc thu lại đất đã giao cho
tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý"; Theo quy định tại khoản 11 Điều 3
LĐĐ năm 2013: "nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước QĐ thu lại quyền SDĐ của
người được nhà nước trao quyền SDĐ hoặc thu lại đất của người SDĐ vi phạm
pháp luật về đất đai ".
Tóm lại thu hồi đất phải hiểu dưới các khía cạnh sau đây: Thứ nhất: Thu hồi
đất là một QĐ hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ SDĐ
của người sử dụng; Thứ hai: QĐ hành chính thể hiện quyền lực nhà nước nhằm
thực thi một trong những nội dung của quản lý nhà nước về đất đai; Thứ ba: Việc
thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài
được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp LĐĐ của người sử dụng.
Từ đó tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng, THĐ: "Là văn bản hành chính
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp LĐĐ của
tế nói chung của đất nước.
b. Các trường hợp thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế
* Nhà nước thực hiện thu hồi đất để phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia,
công cộng
Căn cứ quy định của Điều 62 LĐĐ năm 2013 thì nhà nước thu hồi đất để
phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội QĐ chủ trương đầu
tư mà phải THĐ;
- Thực hiê ̣n các dự án do Th ủ tướng Chính phủ chấp thuận, QĐ đầu tư mà
phải thu hồi đất, như: Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát
triển chính thức;
- Thực hiê ̣n các dự án do H ội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu
12
hồi đất như:
+ Dự án xây d ựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; cụm công
nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung;
+ Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ
trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn,
khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu
khoáng sản.
So với các quy định của LĐĐ năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành
thì phạm vi nhà nước THĐ vì mục đích phát triển kinh tế theo quy định của LĐĐ
năm 2013 hẹp hơn, cụ thể LĐĐ năm 2013 đã loại hai nhóm dự án ra khỏi danh
sách được áp dụng cơ chế nhà nước THĐ gồm các dự án có vốn được đầu tư lớn
thuộc nhóm A và các dự án có 100% vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI). Hơn
nữa, LĐĐ 2013 đưa ra nguyên tắc thực hiện THĐ theo quy hoạch là chủ yếu, để từ
đó có đất sạch thực hiện đấu giá đất, hạn chế việc áp dụng cơ chế THĐ theo dự án
đến quyền tư hữu ruộng đất chẳng khác gì nói đến quyền sở hữu cá nhân đối với
người đồng loại của mình. Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì chế độ tư hữu
ruộng đất là vô lý nhất” và C.Mác cho rằng: "toàn thể một xã hội, một nước và thậm
chí tất thảy các xã hội cùng sống trong mọi thời đại hợp lại, cũng đều không phải là
kẻ sở hữu đất đai. Họ chỉ là những người có đất đai ấy, họ chỉ được phép SDĐ đai
ấy và phải truyền lại cho các thế hệ tương lai sau khi đã làm cho đất ấy tốt hơn lên
như những người cha hiền vậy" [1, tr.244-245]. Kế thừa luận điểm khoa học của
C.Mác và Ph. Ănghen về quốc hữu hoá đất đai, Lênin đã phát triển học thuyết này
trong điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Người
cho rằng một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chính quyền công nông là phải
sáng lập chế độ SHTD về đất đai trong phạm vi toàn quốc nhằm đem lại ruộng đất
cho người nông dân “ruộng đất phải là sở hữu của toàn dân và một chính quyền có
tính chất toàn quốc quy định điều đó” [40, t.32, tr.200].
Trong tất cả các cuộc cách mạng thì vấn đề chính quyền và vấn đề sở hữu
luôn luôn chiếm vị trí trung tâm, "từ trước tới nay, tất cả mọi cuộc cách mạng đều là
14
những cuộc cách mạng nhằm bảo hộ một loại sở hữu" [2, tr.179]. Ở nước ta ngay từ
khi mới ra đời Đảng cộng sản Việt Nam đã luôn quan tâm đến vấn đề ruộng đất, coi
việc giải quyết vấn đề ruộng đất là một nội dung quan trọng của cách mạng dân tộc,
dân chủ. Trong luận cương chính trị năm 1930, Đảng ta đã xác định rõ chính sách
với ruộng đất: "Quyền sở hữu ruộng đất thuộc về chính phủ công nông" [4, t.2,
tr.95]. Cách mạng tháng 8 thành công đã mở ra trang sử mới cho dân tộc ta, chính
quyền cách mạng đã đánh đổ đế quốc, dành ruộng đất cho dân cày, xác lập quyền sở
hữu đất đai cho người nông dân " thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của
công chia cho dân cày nghèo" [5, tr.3]. Sau đó Đảng đã phát động phong trào “hợp
tác hoá”, ruộng đất được chuyển từ hình thức sở hữu tư nhân của người nông dân
thành hình thức sở hữu tập thể của hợp tác xã.
Hiện nay, trên thế giới có hai hình thức sở hữu đất đai là đa hình thức sở hữu
thời có quyền định đoạt số phận pháp lý của đất đai. Thu hồi đất là một trong các
hành vi pháp lý thể hiện quyền định đoạt đó.
Tại khoản 1 Điều 5 LĐĐ năm 2003 quy định: “đất đai thuộc SHTD do nhà
nước đại diện chủ sở hữu” và Điều 4 LĐĐ năm 2013 quy định: " Đất đai thuộc
SHTD do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý". nhà nước trao
quyền SDĐ cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình theo quy định của pháp luật. Việc
nhà nước THĐ thực chất là thu hồi quyền SDĐ đã trao cho người SDĐ trước đó.
Chế độ sở hữu về đất đai là cơ sở cho việc quản lý, SDĐ, trong đó THĐ cũng là một
trong những nội dung về quản lý đất đai của nhà nước. Vấn đề THĐ chỉ đặt ra khi
có quyền sở hữu hợp pháp về đất đai, và quyền này thuộc về nhà nước.
Tóm lại: Chế độ SHTD về đất đai là cơ sở pháp lý quan trọng để nhà nước
tiến hành biện pháp thu hồi đất
* Xuất phát từ chức năng quản lý của nhà nước về đất đai
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Vì vậy,
"đất đai ở Việt Nam thuộc công thổ quốc gia" [11]. nhà nước cộng hòa xã hội chủ
16
nghĩa Việt Nam vừa là người đại diện cho chủ sở hữu thực hiện quyền sở hữu đất
đai vừa thực hiện việc quản lý đất đai trên cơ sở các quy định của pháp luật với tư
cách là chủ thể quản lý xã hội.
Với tư cách là người đại diện cho chủ sở hữu để thực hiện quyền sở hữu về
đất đai, nhà nước sẽ thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai. Vậy,
nhà nước thực hiện quyền sở hữu như thế nào và khi nào nhà nước chịu trách nhiệm
trước nhân dân.
Nội dung quản lý về đất đai được quy định rất cụ thể tại Điều 6 LĐĐ năm
2003 và Điều 22 LĐĐ năm 2013 trong đó bao gồm quản lý việc giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, chuyển mục đích SDĐ…