Đề án môn học
Lêi më ®Çu
Trong nền kinh tế hiện đại, hội nhập, phát triển là một tất yếu khách
quan và là một xu thế chung của tất cả các quốc gia trên thế giới. Có “hội
nhập” thì mới “phát triển” được. Song song với tiền trình hội nhập diễn ra
hết sức mạnh mẽ trên thế giới, quá trình tự do hóa tài chính diễn ra liên tục,
các luồng tài chính dòng vốn được giao lưu tự do va xuyên suốt từ quốc gia
này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh như vậy, nền kinh tế mỗi quốc gia sẽ
càng gắn bó chặt chẽ hơn nữa vào tình hình biến động kinh tế chính trị xã hội
diễn ra trên thế giới. Do đó, bên cạnh những cơ hội to lớn khi tham gia vào
quá trình hội nhập để phát triển, các quốc gia cũng phải đối mặt với rất nhiều
những thách thức khó khăn. Một nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tự
chủ tài chính sẽ giúp nền kinh tế quốc gia đó có sức đề kháng trước những cú
sốc kinh tế bên ngoài, nhất là các cuộc khủng hoảng kinh tế. Vì vậy điều kiện
tiên quyết để đứng vững trên con đường hội nhập đó là mỗi quốc gia phải
“chuẩn đoán” ra các căn bệnh của nền kinh tế của nước mình và từ đó tìm
các cách “chữa trị’ nó một cách hữu hiệu nhất. Một trong những căn bệnh
điển hình mà mỗi quốc gia khi tham gia vào quá trình hội nhập thế giới, đặc
biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển phải đối mặt, đó chính là
tình hình đôla hóa nền kinh tế.
Chính vì vây, trong phạm vi nội dung đề tài này, tôi xin phép được
trình bày những vấn đề chung nhất về “đôla hóa” nền kinh tế, giúp cho mỗi
người có thể hiểu và nắm bắt rõ hơn về căn bệnh điển hình này của nền kinh
tế, đặ biệt là các nước đang phát triển và kém phát triển, có cái nhìn toàn diện
và chính xác hơn về đôla hóa, từ đó có thể đưa ra những biện pháp hữu hiệu
nhằm giảm tác hại và đẩy lùi đôla hóa ra khỏi nền kinh tế của quốc gia.
SV: Trần Hoàng Vũ Lớp: TCF - K47
Đề án môn học
Phần I: Tổng quan về đô la hóa
I.1. Khái niệm đô la hóa:
Đôla hoá có thể hiểu một cách thông thường là trong một nền kinh tế
Đề án môn học
trong điều kiện lạm phát cao, khi đó chi phí trong việc sử dụng nội tệ trong
giao dịch cao đã thúc đẩy công chúng tìm kiếm một sự thay thế.
I.2. Phân loại đôla hóa:
I.2.1. Căn cứ vào phạm vi:
Dựa vào vị trí, vai trò, cơ sở pháp lý của ngoại tệ và mức độ sử dụng
ngoại tệ trong nền kinh tế, thái độ của quốc gia đó đối với việc thừa nhận hay
không thừa nhận đồng đôla mà Đôla hóa được chia làm ba loại: đôla hóa
chính thức, đôla hóa bán chính thức, đôla hóa không chính thức.
I.2.1.1. Đô la hóa chính thức:
Là hiện tượng xảy ra khi một quốc gia thống nhất sử dụng ngoại tệ là
tiền tệ chính thức, hoàn toàn thay thế nội tệ. Nghĩa là đồng nội tệ không tồn
tại hoặc nếu tồn tại thì nó chỉ có vai trò thứ cấp, tồn tại dưới dạng tiền xu với
mệnh giá nhỏ và không có nhiều ý nghĩa trong việc thực hiện chức năng tiền
tệ. Trong khi đó ngoại tệ được lựa chọn là tiền tệ chính thức được sử dụng
với ba chức năng : phương tiện thanh toán, đơn vị đo lường và cất trữ giá trị.
Đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa
các bên tư nhân mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính Phủ.
Ngân hàng trung ương (NHTW)của các quốc gia này chỉ tồn tại trên danh
nghĩa và không có vai trò gì trong việc điều hành chính sách tiền tệ, chính
sách tiền tệ hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của ngân hàng trung
ương Mỹ ( Cục dự trữ liên bang Mỹ-FED). Nền kinh tế đôla hóa chính thức
bị điều chỉnh bằng những cú sốc ngoại lai nhiều hơn bằng cách điều chỉnh tỷ
giá hối đoái.. Đôla hóa chính thức không có nghĩa là chỉ một hoặc hai đồng
ngoại tệ được lưu hành hợp pháp. Tuy nhiên hầu hết các quốc gia có nền
kinh tế đôla hóa chính thức chỉ chọn một ngoại tệ là tiền tệ chính thức.
Những quốc gia này thông thường là những nước nhỏ với quy mô dân số vài
triệu dân. Sáu trong số những nền kinh tế đôla hóa chính thức là thành viên
của IMF: Kiribati, Marshall Islands, Micronesia, Paula, Panama, San Marino.
Trong đó Panama là một quốc gia được biết đến nhiều nhất với nền kinh tế
Đề án môn học
Là hiện tượng xảy ra khi cư dân một quốc gia nắm giữ một số lượng
lớn tài sản bằng ngoại tệ, tuy nhiên nội tệ vẫn là đồng tiền chính thức, hợp
pháp của quốc gia đó. Đôla hóa không chính thức có thể bao gồm các loại cụ
thể sau:
• Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài.
• Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài.
• Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước.
• Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi.
Các nhà kinh tế nhìn chung đồng nhất Đôla hóa không chính thức với
sự thay thế tài sản. Có nghĩa là ngoại tệ được nắm giữ chủ yếu với chức năng
cất trữ giá trị nhằm giảm tác động của sự giảm giá nội tệ trong điều kiện lạm
phát. Tuy nhiên tùy thuộc vào mức độ đôla hóa nền kinh tế và tùy thuộc vào
các quy định hạn chế trong hệ thống pháp luật của từng quốc gia về vấn đề
sử dụng ngoại tệ mà có những quốc gia, ngoại tệ còn được sử dụng trong cả
thanh toán và niêm yết, thông báo giá hàng hóa dịch vụ. Thông thường trong
các quốc gia này, các khoản mục như: lương, thuế và những chi phí hàng
ngày như hóa đơn tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ vẫn được thanh toán bằng nội
tệ còn những hàng hóa dịch vụ xa xỉ hay trong hoạt động kinh doanh bất
động sản được niêm yết và thanh toán bằng ngoại tệ. Việt Nam là một trong
những nước ở Châu Á có nền kinh tế bị đôla hóa không chính thức. Ở Việt
Nam, nhìn chung công chúng nắm giữ ngoại tệ dưới dạng ngoại tệ tiền mặt
hoặc tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại với chức
năng cất trữ giá trị còn đối với chức năng phương tiện thanh toán và đơn vị
đo lường, mặc dù pháp luật Việt Nam cũng có đưa ra một số những quy định
hạn chế nhưng do khâu thực thi pháp luật yếu kém nên giao dịch ngoại tệ và
việc niêm yết, thông báo giá hàng hóa bằng ngoại tệ vẫn diễn ra phổ biến.
Một cách để đo lường quy mô của đôla hóa không chính thức là đo
lường quy mô trái phiếu quốc tế, tài khỏan tiền gửi ngân hàng và quy mộ
ngoại tệ tiền mặt. Tuy nhiên để đo lường chính xác quy mô của các khoản
trạng trên. Còn việc hình thành đồng tiền chung khu vực là xuất phát từ các
nước trong cùng khu vực địa lý đã liên kết, hợp tác với nhau thiết lập một
đồng tiền chung để làm đối trọng với các đồng tiền mạnh khác ngoài khu vực
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại giữa các nước trong khu
vực đó, hạn chế được các rủi ro trong thương mại như rủi ro tỷ giá. Đồng
EUR là một ví dụ cụ thể, Ngày 1/1/1999 tỷ lệ hối đoái giữa EUR và các đơn
vị tiền tệ quốc gia được quy định không thể thay đổi và EUR trở thành tiền tệ
chính thức. Đến ngày 1/1/2002, EUR bắt đầu được phát hành tới người tiêu
dùng. Từ khi EUR ra đời và chính thức được đưa vào sử dụng là tiền tệ hợp
SV: Trần Hoàng Vũ Lớp: TCF - K47
Đề án môn học
pháp của các quốc gia thì thương mại và cộng tác kinh tế giữa các nước trong
khu vực EUR trở nên vững mạnh hơn. Hơn thế nữa EUR nhanh chóng trở
thành một đồng tiền mạnh, ở thế đối trọng với USD và là tiền tệ lựa chọn của
một số quốc gia trên thế giới. Bên cạnh EUR, trong thời gian sắp tới đơn vị
tiền tệ chung các nước Châu Á (ACU) sẽ ra đời với 13 thành viên: Trung
Quốc, Hàn quốc, Nhật và các nước ASEAN, trong tương lai không xa sẽ
hình thành đồng tiền chung Châu Á. Có thể nói việc hình thành liên minh
tiền tệ và sự ra đời của các đồng tiền chung khu vực là xu thế phát triển của
thời đại hội nhập trên lĩnh vực tiền tệ quốc tế, không thể coi sự hình thành
những đồng tiền chung này là đôla hóa.
I.2.1.3. Đôla hóa bán chính thức:
Là đôla hóa của các quốc gia mà ở đó có hệ thống lưu hành chính
thức hai đồng tiền.
Ở những quốc gia này, ngoại tệ là đồng tiền lưu hành hợp pháp và
chiếm tỉ trọng lớn trong tổng số tiền gửi ngân hàng nhưng việc trả lương,
thuế và các chi tiêu hàng ngày vẫn được thực hiện bằng nội tệ. Các quốc gia
này vẫn duy trì NHTW để thực hiện chính sách tiền tệ của họ. Một số quốc
gia có nền kinh tế đôla hóa bán chính thức điển hình: Cuba, Bahamas,
Cambodia, haiti, Laos, Liberia ( U.S dollar); Bhutan (India rupee), Bosnia
phải tìm công cụ dự trữ khác, trong đó có các đồng ngoại tệ có uy tín.
Tình trạng đôla hóa bao gồm cả ba chức năng thuộc tính của tiền tệ
bao gồm:
• Chức năng làm phương tiện thước đo giá trị
• Chức năng làm phương tiện cất trữ
• Chức năng làm phương tiện thanh toán.
Đối với các quốc gia này đôla hóa chính thức nền kinh tế còn có thể
xuất phát từ ý chí chủ quan của các nhà lãnh đạo. Theo họ, việc chấp nhận
một ngoại tệ mạnh là tiền tệ chính thức góp phần làm cho nền kinh tế ổn định
hơn, lạm phát thấp hơn, tăng trưởng ở mức cao và họ chấp nhận đánh đổi chủ
quyền về tiền tệ để đạt được sự ổn định này, vì suy cho cùng mục tiêu của
chính sách tiền tệ cũng là tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và ổn
định giá trị đồng tiền.
Một cách lí giải nữa của việc chấp nhận đôla hóa chính thức nền kinh
tế của các quốc gia là do sự yếu kém trong việc họach định, thực thi chính
sách tiền tệ của NHTW và sự hoạt động kém hiệu quả của hệ thống ngân
hàng thương mại trong nước. NHTW không đủ năng lực để điều hành chính
sách tiền tệ do đó chấp nhận trao quyền điều hành cho NHTW nước ngoài để
ổn định và phát triển kinh tế quốc gia mình.
II.2. Nguyên nhân khách quan:
SV: Trần Hoàng Vũ Lớp: TCF - K47