1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Các em học sinh chính là những chủ nhân tương lai, là những người sẽ
quyết định sự phát triển của quê hương đất nước trong những năm tới như chu
chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “ Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được
hay không. Dân tộc Việt Nam có sánh vai cùng các cường quốc năm châu được
hay không. Chính là nhờ công học tập của các cháu”. Tuy nhiên, nếu không có
kĩ năng sống, các em sẽ không thể thực hiện tốt trách nhiệm đối với bản thân gia
đình cộng đồng và đất nước
Lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu
ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc
về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động… Đặc biệt là
trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường
xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được
đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó
khăn, thách thức, những áp lực tiêu cực. Nêu không được giáo dục kĩ năng sống,
nếu thiếu kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, vào lối
sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách.
Đối với học sinh trường THPT Thọ Xuân IV, vấn đề giáo dục kĩ năng
sống lồng ghép vào môn học lại càng cần thiết hơn.Vì đa số học sinh của trường
có điều kiện kinh tế khó khăn, bố mẹ đi làm xa, ở với ông bà chú bác, thiếu sự
quán xuyến của bố mẹ nên các em cón thiếu rất nhiều kĩ năng sống và khả năng
tiếp thu kiến thức môn học còn nhiều hạn chế. Một trong các nguyên nhân dẫn
đến các hiện tượng tiêu cực của 1 bộ phận học sinh của trường trong thời gian
vừa qua như mắc tệ nạn xã hội, bạo lực học đường, yêu đương không lành
mạnh, sống thử, sống không mục tiêu hoài bão…chính là do các em thiếu những
kĩ năng sống cần thiết như kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng từ chối, kĩ năng kiên
định, kĩ năng giải quyết mâu thuẫn, kĩ năng thương lượng, kĩ năng giao tiếp.
Vì vậy việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là rất cần thiết, giúp các em
rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng động và tổ
quốc, giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước tình huống của cuộc
+ Phương pháp quan sát: tiếp cận, xem xét, thu thập dữ liệu từ thực tiễn
giáo dục kĩ năng sống trong giảng dạy địa lí trường THPT Thọ Xuân IV và một
số trường THPT trên địa bàn huyện Thọ Xuân.
+ Phương pháp điều tra xã hội học
+ Phương pháp phỏng vấn
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: xây dựng các phiếu điều tra bằng
hệ thống câu hỏi để khảo sát các đối tượng liên quan đến nội dung nghiên cứu.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thuật ngữ kĩ năng sống bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông
Việt Nam từ những năm 1995 – 1996, thông qua Dự án “giáo dục kĩ năng sống
để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và
ngoài trường” do UNICEF phối hợp với Bộ giáo dục và dào tạo tổ chức thực
hiện. Từ đó cho đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước đã tiến
hành giáo dục kĩ năng sống gắn với giáo dục các vấn đề xã hội như phòng chống
ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng
chống tai nạn thương tích, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai…,
Giáo dục nước ta những năm qua đã đổi mới cả về mục tiêu, nội dung và
phương pháp dạy học gắn với 4 tru cột giáo dục của thế kỉ XXI: Học để biết,
Học để làm, Học để tự khẳng định , Học để cùng chung sống – mà thực chất là
cách tiếp cận kĩ năng sống. Đặc biệt rèn kĩ năng sống cho học sinh đã được Bộ
giáo dục và đào tạo xác định là 1 trong năm nội dung của phong trào thi đua “
Xây dựng trường học thân thiện - Học sinh tích cực”.
Thực tế cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống:
- Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích
ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu cầu và thách
tượng học sinh trường THPT Thọ Xuân IV nói chung và học lớp 12 nói riêng.
Vì:
- Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân và xã hội
- Giáo dục kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ
- Giáo dục kĩ năng sống góp phần giảm tình trạng bạo lực học đường
- Giáo dục kĩ năng sống giúp các em thích nghi với cuộc sống hiện đại ngày nay
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh cũng là một cách bồi dưỡng cho học sinh
kĩ năng làm việc mà các em rất cần trong tương lai.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Đối với giáo viên
Trong những năm qua vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đã được
ngành giáo dục việt nam triển khai sâu rộng với mục tiêu chuyển từ cung cấp
kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết ở
người học để đáp ứng sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên ở trường THPT Thọ
Xuân IV thì vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh còn nhiều hạn chế.
Đối với giáo viên chủ nhiệm còn có nhiều giáo viên chưa thực sự quan
tâm hoặc chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống; thậm chí còn có
một số ít giáo viên thiếu kĩ năng sống dẫn đến học sinh lớp chủ nhiệm chất
lượng học tập và nền nếp không tốt.
Đối với giáo viên bộ môn, đặc biệt là những môn dễ lồng ghép giáo dục kĩ
năng sống cho học sinh như Văn, Sử , Địa , Sinh, Hóa, Giáo dục công dân. Vẫn
4
Còn nhiều GV chưa ý thức được tầm quan trọng của việc lồng ghép giáo dục kĩ
năng sống trong dạy học nói chung và giảng dạy môn Địa Lí nói riêng.
Họ nói rằng còn nặng về kiến thức ít quan tâm đến giáo dục kĩ năng sống ; hoặc
có quan tâm nhưng chưa thường xuyên, chưa có kế hoạch và nội dung bài bản,
nội dung lồng ghép thô cứng, áp đặt, và nặng về hình thức, còn lúng túng trong
- Kĩ năng đặt mục tiêu
- Kĩ năng giải tỏa cảm xúc tiêu cực
- Kĩ năng hợp tác
- Kỹ năng quản lí thời gain
- Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin
- Kĩ năng thể hiện sự tự tin
- Một số kĩ năng sống quan trọng khác
2.3.2. Phương pháp lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua bài 15
“ Bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai” chương trình Địa lí 12 THPT
2.3.2.1. Kĩ năng kiên định giải quyết các tình huống đặc biệt khó khăn trong
cuộc sống
- Kĩ năng kiên định giải quyết các tình huống khó khăn trong cuộc sống là kĩ
năng thực hiện bằng được những gì mình mong muốn và từ chối bằng được
những gì mình mong muốn và từ chối bằng được những gì mình không muốn,
mặc dù công việc đó có nhiều khó khăn thử thách.
- Khi có kĩ năng kiên định học sinh sẽ dung hòa được sự hiếu thắng, tính phục
tùng khi đó các em sẽ tự bảo vệ được chính kiến, quan điểm, thái độ và những
quyết định của bản thân, đứng vững được trước những áp lực khó khăn trong
cuộc sống cũng như từ bên ngoài.
Để giáo dục kĩ năng này, trong mục 1. Bảo vệ môi trường - tôi đã sử dụng
phương pháp sau:
Bước 1: Giáo viên sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi cho học sinh:
Câu 1: Vấn đề bảo vệ moi trường và phòng chống thiên tai hiện nay là vấn đề
mang tính:
A. cấp bách của huyện Thọ Xuân
B. cấp bách của tỉnh thanh hóa
C. cấp bách của việt nam
D. cấp bách của toàn thế giới
Những vấn đề trên mang tính cấp bách của toàn cầu. Đây là vấn đề khó
khăn nan giải của toàn xã hội đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn, bền bỏ khắc phục
dần, đồng bộ và lâu dài nhằm tìm ra biện pháp tối ưu nhất.
Qua những nội dung đó sẽ giúp các em học sinh có được kĩ năng sống
kiên định, không hoang mang lo sợ, nao núng tinh thần mà biết khắc phục khó
khăn trong cuộc sống.
2.3.2.2. Kĩ năng xác định mục tiêu
- Mục tiêu là cái đích mà học sinh muốn đạt tới, muốn thực hiện ở mỗi giai
đoạn, mỗi công việc
- Kỹ năng đặt mục tiêu là khả năng của học sinh trong việc đề ra những cái đích
có thể thực hiện được cho một vấn đề nào đó của cuộc sống. Việc đặt mục tiêu
7
trong cuộc sống là điều hết sức quan trọng và cần thiết. Nó giúp các em sống có
định hướng, có động lực phấn đấu, không có quá nhiều ảo tưởng và tham vọng.
- Người có kĩ năng đặt mục tiêu sẽ xác định được các mục tiêu một cách cụ thể
và thực tế, phù hợp với hoàn cảnh bản thân.
Để giáo dục kĩ năng này cho học sinh, tôi tiếp tục sử dụng kĩ thuật đặt câu
hỏi như sau:
Bước 1: Giáo viên dùng kĩ thuật đặt câu hỏi:
Câu 1: Tại sao chúng ta cần bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai?
Câu 2: Công việc bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai thuộc trách nhiệm
của ai?
Câu 3: Mục tiêu nhiệm vụ của chiến lược bảo vệ môi trường là gì?
Câu 4: Bản thân em đã đặt ra mục tiêu và hành động như thế nào để bảo vệ môi
trường và phòng chống thiên tai tại địa phương em?
Bước 2: Học sinh thảo luận trả lời, giáo viên kết luận:
Mỗi người chúng ta ai cũng biết hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động
tập cũng như cuộc sống, nó cho phép các em có được sự tự tin khi đối diện với
mọi người. Khả năng giao tiếp của các em được hình thành trong 1 quá trình rèn
luyện lâu dài, qua kinh nghiệm thực tế của bản thân các em, qua việc học hỏi
người khác đặc biệt được rèn luyện qua các tình huống cụ thể của cuộc sống.
Để giáo dục kĩ năng này, trong mục 2 – Một số thiên tai và biện pháp
phòng chống – tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp 1: Trò chơi địa lí “ Hiểu nhau qua Địa lí”
Cách tiến hành:
+ Bước 1: giáo viên chọn một số đối tượng và hiện tượng địa lí phù hợp
+ Bước 2: chọn mỗi lượt chơi 2 học sinh A và B, học sinh A quay mặt lên bảng
nhìn các đối tượng, học sinh B quay mặt xuống lớp nghe giải thích và trả lời
đúng đối tượng đề cho trên bảng. Trong khoảng thời gian nhất định.
Ví dụ:
1. Bão
2. CO2
3. quét
4. Hạn hán
5. Công nghiệp
6. Rừng
7. Băng tan
8. WSC
9. IUCN
9
Người hỏi (giải thích) câu hỏi như sau: Nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính
là do trong bầu khí quyển có nhiều khí gì? Hoặc Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế
giới được viết tắt là? v.v
- Phương pháp 2: phương pháp đóng vai:
Câu 2: Tại sao chúng ta phải bảo vệ môi trường?
Câu 3: Địa phương huyện Thọ Xuân chịu ảnh hưởng của những thiên tai nào?
Hậu quả ra sao? Nêu biện pháp phòng chống?
Phương pháp 2: giáo viên thông qua các tiết dạy ngoại khóa đi thực tế tìm hiểu
về thực trạng sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, hậu
quả của thiên tai ở địa phương huyện Thọ Xuân, sau đó yêu cầu học sinh viết
báo cáo về các chủ đề đã tìm hiểu.
10
Qua các phương pháp trên sec giúp học sinh nhận thức đúng đắn được
vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường, phòng chống thiên tai là rất quan trọng,
cần thiết và cấp bách. Qua đó sẽ giáo dục được chọn các em kĩ năng tự nhận
thức, tự hành động trong cuộc sống.
Trường THPT Thọ Xuân IV đóng trên vùng bán sơn địa, hằng năm chịu
ảnh hưởng nhiều của thiên tai, đặc biệt là bão và lũ lụt. Việc GV tổ chức cho HS
tham gia quét dọn vệ sinh giúp đỡ dân cư sau lụt, sau bão…chứng kiến tận mắt
sự mất mát của nhân dân, có thể nói đây là một việc làm có ý nghĩa thiết thực và
hiệu quả nhất. Không những giúp HS khắc sâu hơn kiến thức địa lí, hậu quả của
thiên tai mà còn giáo dục lòng yêu nước yêu đồng bào, tương thân tương ái, ý
thức giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhân dân.
2.3.2.5. Kĩ năng đương đầu, hóa giải stress và cảm xúc tiêu cực .
Đối với học sinh nói chung thường chịu nhiều áp lực, nhất là học sinh
lớp 12, về những vấn đề như: học nhiều môn kiến thức nhiều, học nhiều thời
gian, áp lực về điểm số, áp lực về gia đình, …Bên cạnh đó học sinh trường
THPT thọ Xuân IV nhiều học sinh ở xa trường, kinh tế khó khăn, nên ngoài áp
lực học tập còn có áp lực về kinh tế, điều kiện sống, sinh hoạt…Những điều đó
đã tác động xấu đến sức khỏe, thể chất, tâm lý tình cảm và cả tư duy – hành vi –
hành động của các em.
truyền bảo vệ môi trường.
- Để có được kĩ năng sống về bảo vệ môi trường các em học sinh cần phải biết
được vai trò của môi trường, hiểu kiến thức về môi trường, kiến thức bảo vệ môi
trường, hiện trạng môi trường nơi các em đang sống.
Để giáo dục kĩ năng này giáo viên sử dụng phương pháp sau:
- Giáo viên cho các em đọc các câu khẩu về ý nghĩa, vai trò của việc bảo vệ môi
trường
+ Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân
+ Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội
+ Bảo vệ môi trường là nghĩa vụ của mỗi công dân
+ Bảo vệ rừng llà bảo vệ lá phổi của chính mình
+ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải đi đôi với bảo vệ môi trường
+ Mỗi người đều có thể làm cho thế giới sạch hơn
+ Vì môi trường trong lành, hãy chung tay xây dựng môi trường Xanh –
Sạch – Đẹp
+ Đa dạng sinh học là sự sống, đa dạng sinh học là cuộc sống của chúng ta
+ Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu cuộc sống
+ Trồng thêm một cây xanh thêm 1 hành động vì môi trường
+ Xanh biển, xanh rừng, xanh đất nước; Sạch làng, scahj bản, sạch đường
phố
+ Môi trường hôm nay - cuộc sống ngày mai
12
+ Môii trường la cuộc sống – cuộc sống là môi trường
+ Sống tốt cho môi trường là sống tốt cho mình
2.3.2.7. Kĩ năng sống về phòng chống thiên tai
Là khả năng cảu các em học sinh biết cách phòng chống các thiên tai một
cách có hiệu quả. Trong cuộc sống hiện nay có nhiều hiện tượng thiên nhiên xảy
Nương nhờ vào mẹ kẻo em bảo về
Cỏ gà loang lổ, tức đổ mưa to”
“ Qụa tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa’
“ Gió heo may chuồn chuồn bay thì bão
Cóc nghiền răng trời đang nắng thì mưa
Ếch kêu om om, ao chuôm đầy nước”
“ chuồn chuồn bay thâp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì dâm
Cua bò lên cao, thế nào cũng lũ
Cò bay ngược , nước vô nhà
Cò bay xuôi nước lui ra biển »
« Én bay thấp mưa ngập bờ ao
Én bay cao mưa rào lại tạnh
Kiến đen vỡ tổ bay ra
Bão táp mưa sa tới gần
« Ráng mỡ gà, ai có nhà thì giữ »
« Đông rắc tia tía màu hồng
Gọi con thủ thỉ bảo chồng nhỏ to
Nhà em tìm kiếm cây to
Chống nhà tránh bão đõ lo sau này”
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1. Về phía học sinh
Thông qua việc áp dụng và lấy ý kiến thăm dò đối với 1 số lớp học
sinh thuộc khối 12 cho thấy kết quả như sau: ý thức học tập và rèn luyện của
học sinh các lớp được trực tiếp dạy và áp dụng phương pháp cao hơn các lớp
chưa áp dụng. Tôi nhận thấy HS của mình có những chuyển biến đáng kể đặc
biệt là trong hành động và thái độ ứng xử với cuộc sống. Các em tỏ ra hứng thú,
c. Không biết
Kết quả trắc nghiệm: Sau khi thống kê tôi thấy, trong 240 phiếu trả lời trắc
nghiệm có đến 175 HS lựa chọn phương án a (chiếm 72,9%), 43 HS lựa chọn
phương án b (chiếm 17,9%), 22 HS lựa chọn phương án c (chiếm 9,2%). Điều
đó cho thấy các em đã hình thành được những kĩ năng sống cơ bản, ý thức được
hậu quả của thiên tai, biết được các hành động dù nhỏ nhưng cũng góp phần
15
giảm nhẹ hậu quả do thiên tai gây ra, và có thói quen phòng chống và ứng phó
với thiên tai, cảm thông chia sẻ với những người không may gặp thiên tai.
2.4.2. Về phía giáo viên
Qua thực tiễn giảng dạy đã giúp tôi và các đồng nghiệp hiểu rõ hơn, sâu sắc
hơn tầm quan trọng của việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống nói chung và qua
bộ môn Địa Lí nói riêng. Từ đó không ngừng tìm tòi, ứng dụng những ph ương
pháp tốt nhất để việc lồng ghép giáo dục kĩ năng sống có hiệu quả h ơn nữa. Góp
phần đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, hài hòa về thể chất, trí
tuệ, tinh thần và đạo đức.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Như vậy, qua SKKN tôi đã thể hiện những gì mình đã học tập và ứng
dụng vào thực tiễn giảng dạy. Sau một năm học tích cực lồng ghép, vừa bằng
những kiến thức khoa học vừa bằng những hành động cụ thể hàng ngày, tôi
không những giúp HS mà cả bản thân mình cũng được bổ sung những kĩ năng
sống cần thiết.
Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ và những kết quả nghiên cứu khi thực hiện
đề tài giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường THP T THọ xuân IV qua môn
Địa lí , thu được kết qua sau:
- Góp phần làm phong phú thêm cơ sở lí luận và thực tiễn của tài liệu giáo dục
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thọ xuân, ngày 25 tháng 5 năm 2018
Tôi cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Đinh Thị Ngọc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17