ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------
PHAN VĂN HUY
Tên chuyên đề:
THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN
CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI THANH XUÂN THUỘC
CÔNG TY CỔ PHẦN SX & DV THƢƠNG MẠI NGỌC LINH VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Thú y
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2013 - 2017
Thái Nguyên – năm 2017
2013 - 2017
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Lê Minh Châu
Thái Nguyên – năm 2017
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm
ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những
năm học vừa qua.
Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới TS.Lê Minh Châu đã tận tình
giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty cổ phần SX & DV
thương mại Ngọc Linh Việt Nam cùng toàn thể anh em kỹ thuật, công nhân
trong trang trạilợn Thanh Xuân đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt
quá trình thực tập.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp đỡ
và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập
tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày
tháng năm 2017
Sinh viên
: Khoa học kĩ thuật
Nxb
: Nhà xuất bản
TT
: Thể trọng
SX & DV
: Sản xuất và dịch vụ
STT : Số thứ tự
iv
MụC LụC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii
MụC LụC.......................................................................................................... iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề ....................................................... 2
1.2.1. Mục đích ........................................................................................... 2
1.2.2. Yêu cầu ............................................................................................. 2
Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 3
4.5. Đánh giá tình hình nhiễm bệnh phân trắng lợn con và hiệu quả của
phác đồ điều trị bệnh.................................................................................... 36
4.5.1. Tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng ở các tháng theo dõi ....... 36
4.5.2. Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi . 37
4.5.3. Kết quả điều trị bệnh phân trắng lợn con ở lợn giai đoạn sơ sinh
đến 21 ngày tuổi ....................................................................................... 39
4.5.4. Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát tiêu chảy ở lợn con theo mẹ........... 42
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 43
5.1. Kết luận ................................................................................................. 43
5.2. Đề nghị.................................................................................................. 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1.Đặt vấn đề
Hiện nay ngành chăn nuôi của nước ta đang ngày càng phát triển, cung
cấp một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mang lại thu nhập
cho người chăn nuôi, góp phần vào ổn định đời sống của người dân. Trong đó
chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp nói chung
và trong ngành chăn nuôi nói riêng, chăn nuôi lợn đảm bảo đời sống cho
người dân. Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của nhà nước cùng
với xu hướng phát triển của xã hội thì chăn nuôi lợn cũng chuyển từ loại hình
chăn nuôi nông hộ dần sang tập trung trang trại. Giúp cho ngành chăn nuôi
lợn đạt được bước phát triển không ngừng cả về chất lượng và số lượng. Mặt
khác, nước ta cũng có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, đặc
biệt là chăn nuôi lợn như: nguồn nguyên liệu dồi dào cho chế biến thức ăn, sự
đầu tư của nhà nước…
3
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập.
- Trang trại đã hoạt động được 10 năm,sản xuất theo hướng thịt,diện
tích trang trại gồm 4 ha.
- Phía Đông giáp cánh đồng thôn Đại Tài -Xã Nghĩa Trụ -Văn GiangHưng Yên.
- Phía Tây giáp cánh đông thôn Tăng Bảo – Tân Quang-Văn LâmHưng Yên.
- Phía Namgiáp cánh đông thôn Tăng Bảo – Tân Quang-Văn LâmHưng Yên.
- Phía Bắc giáp với sông Bắc Hưng Hải.
- Trang trại quy mô 1200 nái,gồm 2 chuồng bầu mỗi chuồng 400 ô kích
thước 2,4m × 0,65m/ô, 5 chuồng đẻ mỗi chuồng có 66 ô kích thước 2,4m ×
1,6m/ô,1 chuồng hậu bị gồm 10 ô kích thước 6m× 5m,1 chuồng đực gồm 20
ô kích thước 3m× 3m,5 chuồng lợn thịt mỗi chuồng gồm 10 ô kích thước
10m ×8m và một chuồng cai sữa 3000 con. Cùng với một số công trình phục
vụ cho chăn nuôi như:nhà kho, nhà bếp,phong sát trùng...
- Hệ thống nước vệ sinh, tắm,xịt gầm là nước giếng khoan,đặc biệt nước
uống của các chuồng đều qua xử lý qua hệ thông lọc nước và đưa tới các chuồng.
- Hệ thống xử lý chất thải đều qua hệ thống bioga nước thải qua các bể
lắng và sục khí tiếp theo đó qua ao bèo mới được đưa ra ngoài môitrường.
- Cơ cấu tổ chức của trại được tổ chức như sau:
Chủ trại: 01 người
Kỹ thuật trưởng trại: 01 người
4
2017
Lợn nái sinh sản
900
1000
1200
Lợn nái hậu bị
150
300
100
Lợn đực
18
20
24
Tổng số
1050
đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa.
Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc
23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã
làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con.
6
2.2.2.2. Quy trình chăm sóc
Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong kỹ thuật nuôi lợn con ở thời kỳ
bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại
cảnh. Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỉ lệ hao hụt lớn ở
lợn con.
+ Chuồng nuôi: Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ.
Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè,
đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có
đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con. Ngoài ra, chuồng nuôi phải có
máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng.
Nền cứng hoặc sàn thưa không có độn khu vực cho lợn con mới sinh cần
giữ ấm ở 32 - 35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc cai sữa
3 - 6 tuần tuổi. Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân
stress đối với gia súc.
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [4], nhiệt độ môi trường ảnh
hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn. Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy
vào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ
30 – 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC. Trong mùa đông ở
các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể xuống dưới 10oC ảnh
hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con.
Theo Hồ Văn Nam và cs. (1997) [7], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ
làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi
- Lợn 3 ngày tuổi uống Dizincoc-la phòng cầu trùng, tiêu chảy phân
trắng (bơm trực tiếp 2 ml/con).
- Lợn 7 ngày tuổi tiêm phòng bệnh suyễn lợn.
- Lợn con 12 ngày tiêm phòng hội chứng hô hấp và sinh sản.
- Lợn con 21 ngày tuổi tiêm phòng bệnh hội chứng còi cọc viêm da
chậm lớn.
- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vaccine dịch tả.
8
- Giai đoạn 60-70 ngày tuổi nên tiêm phòng vaccine tụ huyết trùng và
đóng dấu.
Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì
cần phải có kế hoạch quản lý tốt. Những con này sẽ được cân và đánh số ở
các giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi. Đây chính là cơ
sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này.
* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi
Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề
15 – 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn. Lợn con đẻ ra phải được
lau khô bằng vải xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - rốn - bốn
chân,buộc rốn,và nhúng côn sau đó cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trường
nhỏ hơn 35oC. Lợn nái đẻ xong con nào khô cho ra bú càng sớm càng tốt đòng
thời cố định đầu vú,mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều.
Nanh lợn mài càng sớm càng tốt tránh gây sây sát vú lợn giúp lợn con bú rễ dàng
hơn.
* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi
Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã
bước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất
quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn và
cai sữa lợn con:
+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 6,5 kg.
+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ
đông con.
+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể.
+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được.
+Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau
cai sữa.
10
+ Cứ 5 - 10 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2
vòi nước uống.
+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy.
2.2.2. Những hiểu biết về đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
2.2.2.1. Đặc điểm sinh trưởng của lợn con
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [5], lợn con trong giai đoạn bú sữa có
khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh. Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa
trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần. So với các gia súc khác thì tốc độ
sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần.
Tốc độ sinh trưởng của lợn con là không đồng đều. Lợn sinh trưởng
nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó tốc độ sinh trưởng giảm dần. Sở dĩ như
vậy là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt
đầu giảm. Sản lượng sữa mẹ tăng dần từ khi mới đẻ ra cho tới khi lợn con 15
ngày tuổi, lúc này hàm lượng sữa mẹ đạt cao nhất và ổn định cho tới ngày thứ
20, sau đó thì giảm dần. Lợn con trong giai đoạn này sinh trưởng và phát dục
nhanh nhất do đó nhu cầu dinh dưỡng yêu cầu ngày càng cao trong khi hàm
lượng sữa mẹ thì giảm dần dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng nếu không có
thức ăn bổ sung.
cai sữa 3 - 4 tần tuổi, cho lợn con tập ăn sớm ở 7 ngày tuổi, dùng loại máng
ăn nhỏ, nhẹ, dễ cọ rửa, cho lợn con ăn bằng cách rải một ít cám phía trước,
tạo cho chúng niềm vui thích và mong muốn được ăn, không để máng ăn trực
tiếp dưới bóng đèn sưởi và gần vòi uống.
Cho lợn tập ăn 3 - 4 lần/ ngày, dần tăng lượng cám lên, cung cấp nước
uống thường xuyên cho lợn con.
Công ty Cargill tại Việt Nam (2003) [2], đưa ra lý do mà các nhà chăn
nuôi cần phải cho lợn tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày là:
12
+ Sau 21 ngày tiết sữa, lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần. Nên chỉ đáp
ứng được 95% nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con.
+ Cho lợn tập ăn sớm, thức ăn tập ăn sớm sẽ kích thích hệ tiêu hóa lợn
con sớm phát triển. Điều đó giúp lợn con khi cai sữa sẽ ăn, tiêu hóa và hấp thu
tốt thức ăn và làm giảm được sự hao hụt lợn mẹ.
+ Tránh được nguy cơ lợn mẹ bị yếu chân, bại liệt và giảm số con đẻ ở
những lứa đẻ tiếp theo.
+ Rút ngắn được thời gian chờ phối của lợn nái, làm giảm chi phí thức
ăn cho lợn nái trong thời gian này.
+ Tăng nhanh lứa đẻ, số lợn con thu được của một nái trên năm.
Công ty liên doanh Việt Pháp Guyomarc‟h (2003)[15], đã đưa ra những
lời khuyến cáo: Sự tiết sữa của lợn nái chỉ tăng lên đến ngày thứ 21 kể từ khi
sinh, sau đó giảm dần. Ngược lại, khối lượng lợn con tăng dần theo thời gian.
Vì vậy, trong thời gian lợn con theo mẹ cần phải tập ăn sớm cho chúng trước
khi lượng sữa của lợn mẹ cung cấp thiếu bằng cách cho lợn tập ăn sớm từ 7
ngày tuổi.
2.2.2.2. Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
* Đặc điểm về cơ quan tiêu hóa
ta cần chú ý: Lợn con sơ sinh giai đoạn 7 - 10 ngày tuổi là giai đoạn khủng
hoảng lần thứ nhất, cần cho lợn con bú sữa đầu vì sữa đầu có nhiều kháng thể,
lượng dinh dưỡng cao hơn hẳn so với sữa thường. Từ 21 ngày tuổi trở đi là
giai đoạn khủng hoảng lần thứ 2, là thời kỳ sản lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, để
khắc phục tình trạng này cần cho lợn con tập ăn sớm, kích thích tăng lượng
enzyme, HCl, tạo động lực cho sự phát triển của dạ dày, ruột…
* Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con
Trong dạ dày, ruột của lợn con mới sinh chưa có vi khuẩn, sau một vài
giờ mới thấy vài loài và từ đó bắt đầu sinh sản, phát triển. Theo con đường
tiêu hóa, hàng ngày vẫn có một lượng vi khuẩn vào và sinh sản tại đó.
14
Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con được chia thành 2 loại: “Vi
khuẩn tùy tiện” thay đổi tùy theo loại thức ăn và “vi khuẩn bắt buộc” loại này
thích nghi với vi khuẩn đường ruột và dạ dày, trở thành loài định cư vĩnh viễn.
Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm: Streptoccocus lactis, Lacto bacterium,
acidophilum, E. coli (trực khuẩn ruột già, trực khuẩn đường ruột).
Ở lợn con mới sinh hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đủ
vi khuẩn, chưa có khả năng chống lại các vi khuẩn gây bệnh khác, vì vậy rất
dễ mắc bệnh đường tiêu hóa. Do vậy, có thể phòng bệnh cho lợn con mới sinh
bằng cách bổ sung chế phẩm sinh học có lợi vào đường ruột sớm tạo sự cân
bằng sẽ giảm các bệnh đường tiêu hóa.
2.2.2.3. Đặc điểm về khả năng điều tiết thân nhiệt
*Đặc điểm về cơ quan điều tiết nhiệt
Cơ quan điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì trung khu điều
tiết nhiệt nằm ở lớp vỏ đại não, mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn
nhất ở cả 2 giai đoạn trong thai và ngoài thai. Do đó, việc điều tiết thân nhiệt
kém, năng lực phản ứng yếu dễ bị ảnh hưởng xấu bởi khí hậu nóng ẩm và
hấp thu nguyên vẹn phân tử - globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian. Phân
tử - globulin có khả năng thấm qua thành ruột lợn con tốt trong 24 giờ đầu
sau khi đẻ nhờ trong sữa đầu có kháng men antitripsin làm mất hoạt lực của
men tripsin tuyến tụy và nhờ khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con
khá rộng. Cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu, hàm lượng - globulin
trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100 mg máu. Do đó lợn con cần được bú
sữa đầu càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì 20 - 25
ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể. Do đó nếu lợn con không
được bú sữa đầu thì sức đề kháng kém dễ mắc bệnh, tỉ lệ chết cao.
Theo Phan Đình Thắm (1995) [13]: Nhất thiết phải cho lợn con bú sữa
đầu để có sức đề kháng chống lại bệnh. Trong sữa đầu có hàm lượng albumin
và - globulin cao hơn sữa bình thường, đây là chất chủ yếu cho lợn con có
16
sức đề kháng vì thế cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú trong 3 ngày đầu, đảm
bảo toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của mẹ.
2.2.3. Những hiểu biết về phòng trị bệnh cho vật nuôi
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli được phân lập vào năm 1885 do
Escherich thực hiện trên phân trẻ em. E. coli thường ở phần sau của ruột, ít
khi thấy ở dạ dày hay phần trước ruột của các loài động vật như ngựa, trâu,
bò, lợn, gia cầm, người... Những nghiên cứu về sau đã phân lập được E. coli
từ phân lợn tiêu chảy và nhiều công trình nghiên cứu cho thấy vai trò của E.
coli trong bệnh phân trắng lợn con. E. coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột, chỉ
gặp điều kiện thuận lợi nó mới trỗi dậy sinh sôi, tăng cường độc lực, sản sinh
độc tố gây loạn khuẩn, bội nhiễm ở đường tiêu hóa rồi gây ỉa chảy.
- Đặc điểm hình thái: E. coli là một trực khuẩn hình gậy ngắn, kích
thước 0,6 × 2 - 3 µ, hai đầu tròn. Khi ở trong cơ thể động vật E. coli có hình
cầu, trực khuẩn đứngriêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi ngắn, có lông bao
thấy ít nhất 170 kháng nguyên O, 70 kháng nguyên K, 65 kháng nguyên H và
một số lượng kháng nguyên F đang được phát hiện một cách nhanh chóng.
+ Kháng nguyên thân O: Đây là thành phần kháng nguyên nằm trên bề
mặt lớp ngoài cùng của tế bào vi khuẩn.Nó được đặc trưng bởi lớp
Lipopolysaccarid. Khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ xảy ra phản ứng
ngưng kết. Do vậy kháng nguyên O luôn được sử dụng để giám định nhận
diện vi khuẩn E. coli. Cấu tạo của lớp kháng nguyên gồm 2 lớp chính:
Lớp Lipopolysaccarid có nhóm Hidro nằm vòng ngoài mang tính đặc
trưng cho kháng nguyên cùng giống.
Lớp Lipopolysaccarid nằm phía trong không có nhóm Hidro không
mang tính đặc trưng mà chỉ tạo sự khác biệt về khuẩn lạc (từ dạng S sang
dạng R). Vì thế khi thay đổi thành phần, số lượng kháng nguyên O có thể làm
thay đổi độc lực của vi khuẩn.
18
Kháng nguyên O đề kháng với cồn và nhiệt độ 100 - 1200C, nhưng độ
ngưng kết sẽ yếu đi khi hấp ướt ở nhiệt độ 1200C.
+ Kháng nguyên lông H: Có bản chất là protein, là thành phần cấu trúc
của lông vi khuẩn. Kháng nguyên lông H giữ vai trò độc lực không có ý nghĩa
trong việc đáp ứng miễn dịch. Trong thực tế kháng nguyên lông H có vai trò
bảo vệ cho vi khuẩn vận động, tránh bị đại thực bào bắt nuốt. Kháng nguyên
lông H bị phá hủy ở nhiệt độ 600C trong 1 giờ, kém bền vững trong kiềm và
axit yếu.
+ Kháng nguyên vỏ K: Là kháng nguyên có mặt ở vỏ bọc của vi khuẩn
E. coli. Hiện nay người ta xác định được có 89 kháng nguyên K, phân làm 3
loại: L, B, A (trong đó: L có 31, B có 32, A có 26). Các kháng nguyên K có 2
nhiệm vụ chính là hỗ trợ phản ứng ngưng kết với kháng nguyên O và tạo ra
hàng rào bảo vệ giúp vi khuẩn chống lại các tác động bên ngoài và hiện tượng