Quản trị công ty, đòn bẩy tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng chứng thực nghiệm tại việt nam - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----***-----

TRẦN MẠNH DŨNG

QUẢN TRỊ CÔNG TY, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH
VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-----***-----

TRẦN MẠNH DŨNG

QUẢN TRỊ CÔNG TY, ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH
VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số:

8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ................................................................ 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 2
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .............................. 3
2.1. Cơ sở lý thuyết ............................................................................................... 3
2.1.1. Định nghĩa Quản trị công ty........................................................................... 3
2.1.2. Cơ cấu quản trị của công ty cổ phần niêm yết ............................................... 4
2.1.3. Mối quan hệ giữa Quản trị công ty, Đòn bẩy tài chính và Hiệu quả hoạt
động kinh doanh....................................................................................................... 6
2.2. Mô hình nghiên cứu ....................................................................................... 7
PHẦN 3: CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG ............. 9
3.1. Dữ liệu ............................................................................................................ 9
3.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................ 9
3.3. Các giả thuyết nghiên cứu ............................................................................ 10
3.3.1.

Tác động của Quản trị công ty lên Đòn bẩy tài chính .......................... 10

3.3.2.

Tác động của Quản trị công ty lên Hiệu quả hoạt động kinh doanh .... 16

3.3.3.

Tác động của Đòn bẩy tài chính lên Hiệu quả hoạt động kinh doanh .. 22


3.3.4.

Tác động trung gian của Đòn bẩy tài chính trong mối quan hệ giữa


Bảng 4.6: Hồi quy theo Hiệu quả hoạt động công ty nhỏ và công ty lớn ................. 46
Bảng 4.7: Hồi quy theo Hiệu quả hoạt động của công ty ......................................... 48
Bảng 4.8: Hồi quy theo Hiệu quả hoạt động của công ty lớn và công ty nhỏ .......... 49


DANH MỤC HÌNH MINH HỌA
Hình 2.1: Hệ thống Quản trị công ty ...........................................................................3
Hình 2.2: Cơ cấu quản trị công ty cổ phần niêm yết...................................................5
Hình 2.3: Mô hình nghiên cứu đề xuất .......................................................................8


1
PHẦN 1:MỞ ĐẦU
1.1.

Đặt vấn đề

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng với nền kinh tế toàn
cầu, áp lực cạnh canh đối với các doanh nghiệp trong nước ngày càng khốc
liệt. Điều đó đòi hỏi các công ty Việt Nam phải hoàn thiện, nâng cao năng lực
quản trị từ đó tăng cường năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển
trong điều kiện môi trường kinh doanh ngày càng phát triển năng động. Hiện
nay, thiếu hụt nguồn vốn, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn từ bên
ngoài là một trong những rào cản trọng yếu trong quá trình phát triển của các
doanh nghiệp nội địa. Quản trị công ty hiệu quả giúp nâng cao uy tín của công
ty trên thị trường từ đó có thể tiếp cận được nhiều hơn với các nguồn vốn bên
ngoài giúp doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội đầu tư hiệu quả, mở rộng
quy mô sản xuất kinh doanh, nâng cao Hiệu quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp cũng như năng lực cạnh tranh. Nhận thức được tầm quan trọng
của Quản trị công ty đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, bài


1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Mẫu dữ liệu của bài nghiên cứu bao gồm dữ liệu của 232 doanh nghiệp niêm
yết trên 2 sàn chứng khoán HOSE và HNX hoạt động trong lĩnh vực phi tài
chính. Các công ty này nằm trong bảng xếp hạng VNR500 – top 500 doanh
nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2016. Nguồn dữ liệu bao gồm: báo cáo tài
chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị, và các báo cáo liên quan khác
được các doanh nghiệp công bố trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016.
1.4.

Phương pháp nghiên cứu

Bên cạnh phương pháp nghiên cứu lý thuyết để có cơ sở lý luận cho thực
nghiệm, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng để đo lường mối
quan hệ giữa các biến nghiên cứu, cụ thể là ước lượng hồi quy tuyến tính theo
phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS – Ordinary Least Squares). Tuy
nhiên, để xác minh hướng quan hệ nhân quả và giải quyết vấn đề nội sinh, bài
nghiên cứu sử dụng độ trễ 1 năm cho tất cả các biến độc lập và biến kiểm soát.
Đồng thời, bài nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy đa biến bằng phương
pháp sử dụng mô hình Tác động cố định (Fixed Effects Model) để có được kết
quả vững nhất.
Các nội dung của bài nghiên cứu được sắp xếp theo trình tự: Phần 2 trình bày
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu để đưa ra cơ sở lý luận cho nghiên cứu
thực nghiệm, Phần 3 trình bày nội dung nghiên cứu thực nghiệm, bao gồm: dữ
liệu, phương pháp nghiên cứu và mô hình ước lượng. Kết quả thực nghiệm
được đưa ra trong Phần 4 và đi đến Kết luận ở Phần 5.


hệ trung tâm là giữa các cổ đông và Ban giám đốc. Các cổ đông góp vốn đầu
tư vào công ty dưới hình thức cổ phần với mục đích thu lợi nhuận, trong khi
đó, Ban giám đốc tiếp nhận nguồn vốn, vận hành doanh nghiệp vì lợi ích của
cổ đông và có trách nhiệm báo cáo cho các cổ đông về tình hình tài chính,
kinh doanh của công ty một cách minh bạch theo các cơ chế báo cáo nhất
định. Ban giám đốc hoạt động dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, một thể
chế do các cổ đông bầu ra để đại diện cho quyền lợi của cổ đông. Bên cạnh đó,
Quản trị công ty còn điều chỉnh các mối quan hệ giữa công ty và các bên có
quyền lợi liên quan như: nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, chủ nợ, các cơ
quan nhà nước. Các bên liên quan của hệ thống các mối quan hệ này có lợi ích
khác nhau, do đó, tồn tại các xung đột lợi ích như giữa giữa cổ đông và Ban
giám đốc, giữa cổ đông đa số và cổ đông thiểu số, cổ đông kiểm soát và cổ
đông không kiểm soát. Quản trị công ty phân chia trách nhiệm, quyền lợi của
các bên liên quan một cách phù hợp để giải quyết vấn đề xung đột lợi ích
trong quá trình thiết lập, hoàn thành các mục tiêu đề ra và giám sát việc thực
hiên các mục tiêu đó, qua đó gia tăng giá trị của công ty cũng như lợi ích của
các cổ đông.
2.1.2. Cơ cấu quản trị của công ty cổ phần niêm yết
Cơ cấu Quản trị tiêu biểu của công ty cổ phần niêm yết được khái quát trong
hình 2.2 dưới đây:


5

Hình 2.2: Cơ cấu quản trị công ty cổ phần niêm yết
(Nguồn: Tổ chức Tài chính quốc tế IFC)
Các chủ thể quản trị mang tính bắt buộc bao gồm:
i) Đại hội đồng cổ đông là chủ thể quản trị có quyền quyết định cao nhất
trong cơ cấu quản trị, thường quyết định các vấn đề trọng yếu như: bầu
cử, bãi nhiệm nhân sự trong Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, phê

hoạt động kinh doanh
Theo các nghiên cứu trước đây, có nhiều kết luận liên quan giữa Quản trị công
ty và hiệu quả hoạt động của công ty, ví dụ như Claessens (200) kết luận Quản
trị công ty hiệu quả sẽ giúp công ty dễ dàng thu hút được nguồn vốn từ bên
ngoài, từ đó giảm chi phí vốn, gia tăng hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu của
Agrawal và Knoeber (1996) và Bhagat và Bolton (2008) lại chỉ ra mối quan hệ
tương quan âm giữa yếu tố giám đốc là thành viên hội đồng quản trị và hiệu
quả hoạt động của công ty, nghiên cứu cho rằng các doanh nghiệp yếu kém
thường có xu hướng bổ nhiệm giám đốc là thành viên hội đồng quản trị nhưng
không cải thiện hiệu suất hoạt động. Nghiên cứu của Yermack (1996) cho rằng
số lượng thành viên HĐQT càng ít thì hiệu quả hoạt động của công ty càng
tốt. Như vậy, có thể thấy Quản trị công ty có mối tương quan với hiệu quả
hoạt động của công ty.


7
Đòn bẩy tài chính có mối tương quan đến hiệu quả hoạt động của công ty, các
nghiên cứu trước đây chỉ ra đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng đến kết quả hoạt
động, các nhà quản trị công ty có thể tối đa hóa hiệu quả hoạt động công ty và
giảm thiểu chi phí tài chính bằng cách sử dụng đòn bẩy tài chính. Theo nghiên
cứu của Antoniou và cộng sự (2008) kết luận rằng có mối tương quan âm giữa
Đòn bẩy tài chính và Hiệu quả hoạt động của công ty. Nghiên cứu của Zhang
(2014) chỉ ra rằng sự thay đổi trong Đòn bẩy tài chính của công ty sẽ có mối
tương quan âm đến giá cổ phiếu. Nghiên cứu của Vithessonthi và Tongurai
(2015) nhận thấy rằng Đòn bẩy tài chính có mối tương quan âm với kết quả
hoạt động của các công ty ở Thái Lan. Các nghiên cứu này phù hợp với quan
điểm cho rằng chi phí tài chính lớn hơn lợi ích đạt được của việc tài trợ.
Ngược lại, nghiên cứu của Margaritis và Psillaki (2010) nhận thấy rằng Đòn
bẩy tài chính có mối tương quan dương đến Hiệu quả hoạt động công ty.
Nghiên cứu của Berger và Bonaccorsi di Patti (2006) chỉ ra rằng Đòn bẩy tài

Dữ liệu

Mẫu dữ liệu của bài nghiên cứu bao gồm dữ liệu của 232 doanh nghiệp niêm
yết trên 2 sàn chứng khoán HOSE và HNX hoạt động trong lĩnh vực phi tài
chính. Các công ty này nằm trong bảng xếp hạng VNR500 – top 500 doanh
nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2016. Nguồn dữ liệu bao gồm: báo cáo tài
chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị, và các báo cáo liên quan khác
được các doanh nghiệp công bố trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2016.
3.2.

Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu có một số phương pháp chính phân tích dữ liệu được áp dụng
để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu chính của bài nghiên
cứu là liệu Đòn bẩy tài chính có phải là trung gian của việc Quản trị công ty
tác động đến kết quả hoạt động của công ty hay không. Bài nghiên cứu kiểm
tra các giả thuyết trong phần 2 và câu hỏi nghiên cứu rằng Đòn bẩy tài chính
có phải là một biến trung gian giữa hoạt động Quản trị công ty và Hiệu quả
hoạt động của công ty hay không thông qua ước lượng hồi quy tuyến tính theo
phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS – Ordinary Least Squares). Để giải
quyết vấn đề nội sinh, bài nghiên cứu sử dụng độ trễ 1 năm cho tất cả các biến
độc lập và biến kiểm soát.
Để đánh giá tác động của Quản trị công ty đối với Đòn bẩy tài chính, bài
nghiên cứu ước lượng hồi quy phương trình với các biến Đòn bẩy tài chính,
các biến Quản trị công ty và các biến kiểm soát. Bài nghiên cứu sử dụng ước
lượng theo mô hình Tác động cố định (Fixed Effects Model) để kiểm soát các
đặc tính của công ty là không đổi và để kiểm soát các ảnh hưởng của việc thời
gian thay đổi sẽ không ảnh hưởng toàn bộ mẫu dữ liệu nghiên cứu của các
công ty. Bài nghiên cứu khắc phục vấn đề nội sinh bằng cách lấy độ trễ tất cả
các biến số độc lập và biến kiểm soát ở phương trình hồi quy, đồng thời giải

Không có chuẩn mực rõ ràng nào về quy mô Hội đồng quản trị là phù hợp.
Nghiên cứu của Uchida (2011) cho rằng số lượng người trong Hội đồng quản
trị tối ưu phụ thuộc vào đặc điểm của từng công ty, chi phí giám sát và đặc
điểm hoạt động của công ty. Thông thường các công ty cho rằng số lượng
người trong hội đồng quản trị là từ 5 đến 12 thành viên, tùy thuộc vào quy mô,
loại hình và đặc điểm hoạt động kinh doanh. Các nghiên cứu trước đây cung
cấp các kết quả về mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và Đòn bẩy tài
chính. Nghiên cứu của Jensen (1986) nhận thấy rằng các công ty có quy mô


11
càng lớn sử dụng Đòn bẩy tài chính càng cao, ngược lại, công ty có quy mô
càng nhỏ thì có Đòn bẩy tài chính càng thấp; bài nghiên cứu cũng cho thấy các
công ty có số lượng người trong Hội đồng quản trị lớn thường sử dụng các
khoản tài trợ từ nợ hơn là tài trợ từ vốn cổ phần. Mối tương quan dương giữa
quy mô Hội đồng quản trị và Đòn bẩy tài chính ủng hộ quan điểm: Số lượng
người trong Hội đồng quản trị lớn có mạng lưới mối quan hệ (networking) tốt
cho phép họ tiếp cận với nhiều nguồn tài chính bên ngoài hơn, đồng thời, một
Hội đồng quản trị có năng lực, kinh nghiệm đa dạng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau sẽ có khả năng nhận biết và đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả hơn do
đó tăng khả năng thuyết phục được chủ nợ và các cổ đông bên ngoài cung cấp
vốn. Như vậy, bài nghiên cứu đề xuất giả thuyết sau:
Giả thuyết 1.1: Quy mô của Hội đồng quản trị có mối tương quan dương đối
với Đòn bẩy tài chính.
3.3.1.2.

Số lượng thành viên độc lập của Hội đồng quản trị và Đòn bẩy tài
chính

Theo quy định Khoản 5, Điều 13, Nghị định 71/2017/NĐ-CP hướng dẫn về

Quy mô của ban kiểm soát và Đòn bẩy tài chính

Theo quy định tại Luật Doanh Nghiệp, Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội
đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành
công ty; chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện các
nhiệm vụ được giao. Ban kiểm soát là một chủ thể quản trị độc lập, đảm bảo
sự tin cậy, chính xác của báo cáo tài chính, đảm bảo hoạt động kinh doanh của
công ty có hiệu quả, tuân thủ các quy định của pháp luật cũng như các quy
trình, quy định nội bộ của công ty.
Nghiên cứu của Anderson và cộng sự (2004), Harris và Raviv (2008) cho rằng
ban kiểm soát có trách nhiệm tư vấn lựa chọn kiểm toán viên độc lập, tăng độ
tin cậy và chất lượng của các báo cáo tài chính, công bố thông tin minh bạch.
Bài nghiên cứu cho rằng Ban kiểm soát hoạt động hiệu quả sẽ cho phép các
doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn với nguồn tài chính bên ngoài. Theo đó, bài
nghiên cứu kì vọng có mối tương quan dương giữa Quy mô Ban kiểm soát và
Đòn bẩy tài chính do Ban kiểm soát đảm bảo các hoạt động quản lý, điều


13
hành, các hoạt động kinh tế, các giao dịch kinh tế tuân thủ đúng quy trình, quy
định nội bộ của công ty và quy định của pháp luật cũng như tính trung thực,
tin cậy của các thông tin tài chính cung cấp cho các chủ nợ và nhà đầu tư. Tuy
nhiên, đối với các công ty đã sử dụng Đòn bẩy tài chính cao, rủi ro tài chính
lớn có khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hình tài chính của doanh
nghiệp, Ban kiểm soát có thể giảm bớt việc sử dụng Đòn bẩy tài chính đưa rủi
ro tài chính về mức độ doanh nghiệp có thể chấp nhận. Bài nghiên cứu đề xuất
một giả thuyết như sau:
Giả thuyết 1.3: Quy mô Ban kiểm soát có mối tương quan âm với Đòn bẩy
tài chính.
3.3.1.4.

có thể gây ra xung đột lợi ích vì làm giảm tính độc lập của Hội đồng quản trị
hay nói cách khác chức năng giám sát của Hội đồng quản trị bị ảnh hưởng.
Một số nghiên cứu cho rằng Chủ tịch Hội đồng quản trị không nên nắm giữ
chức Giám đốc điều hành và Chủ tịch hội đồng quản trị không nên là thành
viên trong Ban điều hành của công ty. Giám đốc điều hành không kiêm Chủ
tịch Hội đồng quản trị cho phép tách biệt rõ ràng giữa việc hoạch định và thực
thi chính sách. Nghiên cứu của Dey và cộng sự (2011) cho thấy nếu Giám đốc
điều hành kiêm Chủ tịch hội đồng quản trị thì chi phí hoạt động của công ty sẽ
tăng lên nhiều hơn, do khả năng giám sát hoạt động của Giám đốc điều hành
giảm. Nghiên cứu của Simpson và Gleason (1999) cho thấy Giám đốc điều
hành kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị làm gia tăng tập trung quyền lực, do đó
làm giảm tính hiệu quả của cơ chế giám sát trong Quản trị công ty và dẫn đến
việc sử dụng đòn bẩy dưới mức hiệu quả hoặc quá cao, tùy thuộc vào mức độ
khẩu vị rủi ro của Giám đốc điều hành kiêm nhiệm. Giả sử một công ty có
Giám đốc điều hành kiêm Chủ tịch hội đồng quản trị và một công ty không tồn
tại vấn đề kiêm nhiệm và cả hai đều chấp nhận rủi ro tương đối cao, thì Đòn
bẩy tài chính có xu hướng cao hơn ở công ty có kiêm nhiệm. Ngược lại, khi
các Giám đốc điều hành e ngại rủi ro thì Đòn bẩy tài chính có xu hướng thấp
hơn đối với các doanh nghiệp có Giám đốc điều hành kiêm Chủ tịch Hội đồng
quản trị so với các công ty không có vấn đề kiêm nhiệm. Bài nghiên cứu đưa
ra giả thuyết rằng:
Giả thuyết 1.5: Giám đốc điều hành kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị có mối
tương quan âm đến Đòn bẩy tài chính.


15
3.3.1.6.

Cơ cấu sở hữu cổ phần và Đòn bẩy tài chính


16
3.3.2. Tác động của Quản trị công ty lên Hiệu quả hoạt động kinh doanh
Quản trị công ty là hoạt động giám sát và quản lý công ty, là quá trình xác lập
mục tiêu và thực hiện các biện pháp để đạt được các mục tiêu đó. Quản trị
công ty tốt khuyến khích các công ty tạo ra giá trị thông qua các hoạt động
nghiên cứu, phát triển, và đổi mới. Việc thiết lập và phát triển hệ thống Quản
trị công ty hiệu quả, nâng cao tính minh bạch của thông tin cung cấp giúp
nâng cao Hiệu quả hoạt động kinh doanh, tạo ra giá trị dài hạn cho công ty và
các cổ đông.
Các nghiên cứu trước đây của Connelly và cộng sự (2012), Mak và Kusnadi
(2005) cho rằng Quản trị công ty có mối tương quan đến Hiệu quả hoạt động
kinh doanh. Trong phần này, bài nghiên cứu đề xuất các giả thuyết về mối
quan hệ giữa Quản trị công ty và Hiệu quả hoạt động kinh doanh.
3.3.2.1.

Quy mô Hội đồng quản trị và Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Nghiên cứu của Anderson và cộng sự (2004) cho rằng số lượng người trong
Hội đồng quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và quản lý Ban
giám đốc. Số lượng người trong Hội đồng quản trị có tương quan dương với
khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính từ bên ngoài. Một Hội đồng quản trị
với kinh nghiệm và kiến thức đa dạng trong nhiều lĩnh vực là một động lực
phát triển quan trọng của doanh nghiệp. Yermack (1996) nghiên cứu trên mẫu
dữ liệu 452 tập đoàn kinh tế lớn của Mỹ trong giai đoạn từ năm 1984 đến năm
1991, kết quả bài nghiên cứu tìm thấy có mối tương quan âm giữa số lượng
người trong Hội đồng quản trị và Hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nghiên cứu
của Coles và các cộng sự (2008) cho thấy rằng Hiệu quả hoạt động của công
ty tăng lên cùng với quy mô Hội đồng quản trị ở các công ty lớn. Ngoài ra,
nghiên cứu của Jackling và Johl (2009) nhận thấy rằng số người trong hội
đồng quản trị có mối tương quan dương đến Hiệu quả hoạt động của các công

dữ liệu là các doanh nghiệp Ấn Độ, nghiên cứu của Jackling và Johl (2009)
nhận thấy rằng thành viên độc lập của Hội đồng quản trị có mối quan hệ tương
quan dương đến Hiệu quả hoạt động của công ty. Đối với các công ty tại
Malaysia, nghiên cứu của Haniffa và Hudaib (2006) cho thấy các thành viên
độc lập của Hội đồng quản trị không ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của
công ty. Bài nghiên cứu kì vọng số lượng thành viên độc lập của Hội đồng


18
quản trị sẽ thúc đẩy Hiệu quả hoạt động của công ty. Vì vậy, bài nghiên cứu
đưa ra giả thuyết rằng:
Giả thuyết 2.2: Số lượng thành viên độc lập của Hội đồng quản trị có mối
tương quan dương đối với Hiệu quả hoạt động kinh doanh.
3.3.2.3.

Quy mô Ban kiểm soát và Hiệu quả hoạt động kinh doanh

Ban kiểm soát thực hiện nhiệm vụ kiểm soát nội bộ, đảm bảo tính tin cậy,
chính xác của báo cáo tài chính, đảm bảo các quy trình, quy định nội bộ của
công ty, quy định của pháp luật được tuân thủ nghiêm ngặt. Thành viên của
một ban kiểm soát phải có đủ năng lực thực hiện hoạt động giám sát. Nghiên
cứu của Aldamen và cộng sự (2012) chỉ ra Ban kiểm soát làm giảm các vấn đề
như thông tin bất đối xứng và cải thiện việc quản lý. Nghiên cứu của Klein
(2002) thấy rằng Ban kiểm soát gặp gỡ với các nhà quản lý tài chính nội bộ
của công ty và kiểm toán viên độc lập để xem xét báo cáo tài chính của công
ty, kiểm soát kế toán nội bộ và tham gia vào quá trình kiểm toán nhằm đảm
bảo chất lượng báo cáo tài chính. Tuy nhiên, nghiên cứu của Beasley (1996)
chỉ ra sự hiện diện của một ủy ban kiểm soát không làm ảnh hưởng đáng kể tới
khả năng gian lận báo cáo tài chính. Bài nghiên cứu đề xuất:
Giả thuyết 2.3: Quy mô Ban kiểm soát có mối tương quan dương đối với Hiệu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status