Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và biện pháp phòng, trị bệnh cho đàn lợn con giai đoạn 1 đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp) - Pdf 50

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------

LÊ MINH TRANG

Tên chuyên đề:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG,
TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 ĐẾN 21 NGÀY TUỔI
TẠI TRẠI LỢN BÌNH MINH, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Khoa:
Khóa học:

Chính quy
Thú y
Chăn nuôi Thú y
2013 - 2017

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------------

LÊ MINH TRANG

Sau quá trình học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp tại cơ sở, đến
nay em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học. Em xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi Thú y, cùng các thầy giáo, cô giáo trong khoa, đã tận tình dìu
dắt, giúp đỡ em suốt thời gian qua. Đặc biệt là cô giáo Ths. Đỗ Thị Lan
Phương, người đã tận tâm chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành
Khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin gửi lời cảm ơn tới bác Nguyễn Sỹ Bình - chủ trại, các anh chị
công nhân và các cán bộ kỹ thuật của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam
tại trại lợn Bình Minh, huyện Mỹ Đức, Hà Nội đã tạo điều kiện tốt nhất cho
em trong thời gian thực tập tại trại.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả bạn bè, gia đình và người thân đã
động viên, cổ vũ để em hoàn thành khóa luận đúng thời gian quy định.
Em xin kính chúc thầy cô mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong công
tác giảng dạy và trong công tác nghiên cứu khoa học.
Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày

tháng 12 năm 2017

Sinh viên

LÊ MINH TRANG


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Nhà xuất bản

STT:

Số thứ tự

Ths:

Thạc sĩ

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn

TT:

Thể trọng


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC BẢNG ............................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT .............................................. iii
MỤC LỤC .................................................................................................... iv
Phần 1. MỞ ĐẦU ......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................. 2
1.2.1. Mục tiêu ............................................................................................... 2

4.4. Công tác phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin .......................................... 42
4.5. Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái tại trại ............................ 43
4.6. Kết quả một số chỉ tiêu về số lượng lợn con theo mẹ ............................. 45
4.7. Kết quả điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ ............................................. 46
4.8. Kết quả điều trị bệnh lợn nái.................................................................. 47
4.9. Kết quả thực hiện các thao tác khác ....................................................... 48
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................... 50
5.1. Kết luận ................................................................................................. 50
5.2. Đề nghị .................................................................................................. 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế thì hiện nay ngành chăn
nuôi chiếm một vị trí quan trọng, trong đó ngành chăn nuôi lợn đang rất
phổ biến và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế đất nước.
Để giải quyết nhu cầu tiêu thụ thịt lợn ngày càng lớn của con người,
ngành chăn nuôi lợn luôn được chú trọng và đầu tư phát triển cả về số
lượng và chất lượng sản phẩm. Tuy vậy cũng có những khó khăn nhất định
như vốn đầu tư lớn hay đòi hỏi phải nắm vững được trình độ công nghệ về
chăn nuôi thú y.
Đi cùng với lợi ích kinh tế thì dịch bệnh xảy ra là một vấn đề nan
giải, là thách thức lớn đối với ngành chăn nuôi. Trước tình hình đó yêu cầu
phải có công tác vệ sinh phòng bệnh, tiêm phòng bằng vắc xin kết hợp với
điều trị bệnh có hiệu quả.

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con theo mẹ
nuôi tại trại.
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn con theo mẹ và có biện
pháp phòng trị bệnh thích hợp.


3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1. Quá trình thành lập và phát triển trại chăn nuôi Bình Minh
Quá trình thành lập
Trang trại chăn nuôi lợn Bình Minh nằm trên địa phận xã Phù Lưu Tế,
huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Trại được thành lập năm 2008, là trại lợn
gia công của công ty chăn nuôi CP Việt Nam (Công ty TNHH Charoen
Pokphand Việt Nam). Trại lợn được hoạt động theo phương thức chủ trại xây
dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, Công ty đưa tới giống lợn, thức ăn,
thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Sỹ Bình làm
chủ trại, cán bộ kỹ thuật của công ty chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm
giám sát mọi hoạt động của trại.
Cơ sở vật chất
Trại lợn có khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà cho công
nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.
Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng
trại cho 5400 lợn hậu bị bao gồm: 9 chuồng mỗi chuồng có 9 ô, 8 ô kích
thước 7 m × 7 m/ô, 1 ô kích thứơc 3 m × 7 m. Hệ thống chuồng trại cho 1200
nái bao gồm: 6 chuồng đẻ mỗi chuồng có 56 ô kích thước 2,4 m × 1,6 m/ô, 2
chuồng bầu mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4 m × 0,65 m/ô, 3 chuồng cách
ly, 1 chuồng đực giống. Cùng một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi như:

và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao,
được công ty chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại.
• Công tác thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn
thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên công ty
chăn nuôi CP Việt Nam.


5

- Công tác vệ sinh: Hệ thống chuồng trại luôn đảm bảo thoáng mát về
mùa hè, ấm áp về mùa đông. Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh
chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong
trại được quét dọn và rắc vôi theo quy định. Công nhân, kỹ sư, khách tham
quan khi vào khu chăn nuôi lợn đều phải sát trùng, tắm bằng nước sạch trước
khi thay quần áo bảo hộ lao động.
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hạn chế đi lại giữa
các chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi
bột, các phương tiện vào trại sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng
vào. Với phương châm “phòng bệnh là chính” nên tất cả lợn ở đây đều được
tiêm phòng vắc xin đầy đủ.
Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm
túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật. Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ
lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực, lợn con. Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe
mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bênh truyền nhiễm và
các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn.
Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100 %.
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật của trại có nhiệm vụ theo dõi, kiểm
tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trang trại luôn được

khỏe mạnh.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [12], so với khối lượng sơ sinh thì
khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm
này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm
và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm
sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của


7

lợn con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm. Do lợn
con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh.
Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh,
các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn
nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần.
Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu:
- Dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8
lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày
lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít).
- Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi
gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít).
- Dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh.
Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được
nhiều thức ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất. Mặc dù vậy, ở lợn con, các
cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc biệt là hệ thần kinh. Do đó, lợn
con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố tác động lên chúng. Do chưa

Theo Từ Quang Hiển và cs (2001) [5]: Ở lợn con, khả năng sinh trưởng
và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao. Trong khi đó
sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần cả
về chất và lượng. Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con và
khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ. Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn cho lợn
con thì lợn thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, lợn con gầy còm, nhiều
lợn con mắc bệnh. Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc phục
tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa.
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn
chỉnh nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa
cân bằng.


9

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau
thai, điều kiện sống tương đối ổn định. Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống
hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh còi cọc và chết.
Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự
trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện
tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn
con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn
thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng
tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào cuối mùa
đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị toả nhiệt theo phương
thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây là điều kiện
thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá.
Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể. Phần lớn các chất

Hiện tượng thiếu máu
Trong cơ thể lợn con chỉ dự trữ được khoảng 50 mg sắt. Sữa chỉ cung
cấp 1 mg/ngày nên bệnh thiếu máu có thể xảy ra rất sớm, từ ngày 3 - 5 sau đẻ
và mức huyết sắc tố không ngừng giảm.
Lợn con thường xuyên bị thiếu máu là do thiếu sắt nhưng sắt là một
trong những yếu tố bị hạn chế trong quá trình tạo sữa, dù ta có tăng hàm
lượng trong thức ăn cũng không làm tăng hàm lượng sắt trong sữa mẹ, do đó
phải bổ sung trực tiếp vào cơ thể lợn con.


11

2.2.2. Các thời kỳ quan trọng của lợn con
Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi
Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn
về môi trường sống, chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang
điều kiện tiếp xúc trực tiếp với bên ngoài. Ngoài ra, lợn con mới đẻ còn yếu,
chưa nhanh nhẹn. Lợn nái mới đẻ, còn mỏi mệt, đi đứng nặng nề do sức khỏe
chưa phục hồi, nên dễ đè chết lợn con. Do đó, cần nuôi dưỡng, chăm sóc chu
đáo cho lợn con trong giai đoạn này.
Thời kỳ 21 ngày tuổi
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn
mẹ gây nên. Sản lượng sữa của lợn nái sau đẻ tăng nhanh và cao nhất ở giai
đoạn lợn con 21 ngày tuổi, sau đó giảm nhanh trong khi nhu cầu dinh dưỡng
của lợn con ngày càng tăng do sự sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu
thuẫn giữa cung và cầu của lợn con. Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho
lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi.
Thời kỳ ngay sau cai sữa
Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi, do yếu tố
cai sữa gây nên. Thức ăn chuyển từ sữa lợn mẹ sang thức ăn do con người

loại thuốc có hiệu quả phù hợp với chủng ở cơ sở chăn nuôi.
- Giai đoạn 3 tuần tuổi đến cai sữa
Trước cai sữa 2 - 3 ngày giảm dần số lượng cho lợn con bú, sau khi
tách lợn mẹ ra thì hạn chế mức ăn những ngày đầu mới cai sữa, khi lợn con đã
thích nghi và không thấy rối loạn về tiêu hóa thì tăng dần lượng thức ăn theo
nhu cầu của lợn con.
Quy trình nuôi dưỡng
- Cho bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Thời gian tiết
sữa đầu của lợn nái là một tuần sau kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa nhất với lợn
con là trong 24 giờ đầu.


13

Việc cố định đầu vú nên cố định ngay từ khi cho chúng bú sữa đầu.
Theo quy luật tiết sữa thì lượng sữa ở những vú phần ngực sẽ nhiều hơn
những vú phần ngực. Nếu để lợn con bú tự do thì những con khỏe thường
tranh vú phần ngực, dẫn đến không đồng đều trong đàn và có con sẽ bị đói,
còi cọc hoặc chết. Do đó nên ưu tiên cho những con nhỏ bú phần vú ngực và
nhiều lần trong ngày. Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ
quen dần và tự bú ở các vú quy định cho nó.
- Bổ sung sắt cho lợn con
Trong như những ngày đầu, khi lợn con chưa được ăn, lượng sắt mà
lợn con tiếp nhận từ sữa mẹ không đủ cho nhu cầu cơ thể, vì vậy lợn con cần
bổ sung thêm sắt và thường tiêm 3 - 4 ngày sau sinh.
- Tập ăn sớm cho lợn con
Thường tập ăn sớm cho lợn con từ 7 - 10 ngày tuổi. Việc này có rất
nhiều tác dụng:
Đảm bảo sinh trưởng, phát dục bình thường, không bị thiếu hụt dinh

đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con. Chuồng trại phải được
vệ sinh sạch sẽ. Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ.
Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng
cho lợn con và lợn mẹ. Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ
ánh sáng. Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi
lợn nái vào đẻ. Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm
trong những ngày mùa đông giá rét. Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái
sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng
khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ. Làm như vậy tránh được
nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi
khuẩn gây bệnh. Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ
nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới.
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan


15

trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con. Ô úm rất quan trọng đối với
lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những
ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn
rất yếu chưa hồi phục. Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp
cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông. Ngoài ra, ô
úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô
úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức
ăn của lợn con.
Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân
nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt
sữa hoặc nhiễm trùng... để có biện pháp xử lý kịp thời.
Đối với lợn nái nuôi con
- Quy trình nuôi dưỡng

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100 kg, mức ăn trong 1 ngày
đêm được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg).
Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100 kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày
đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:
Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg).
- Quy trình chăm sóc
Vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức
khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ. Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể
cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần
số giờ vận động lên. Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con
đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến
thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin.


17

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo,
sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt. Do vậy hàng ngày phải vệ sinh
chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ. Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô
úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con. Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp
là 18oC - 20oC, độ ẩm 70 % - 75 %.
2.2.5. Hiểu biết về một số bệnh thường gặp ở lợn con và lợn nái sinh sản
Lợn con
- Suyễn lợn
• Nguyên nhân: Do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra.
• Triệu chứng: Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [4], bệnh xảy ra ở 2
thể, nhưng thường gặp ở thể mãn tính với tỷ lệ ốm cao nhưng tỷ lệ chết không
cao. Thời gian nung bệnh từ 7 - 14 ngày.
Thể cấp tính: Bệnh phát đột ngột, lợn ủ rũ, tách đàn hoặc nằm một chỗ,

Bên cạnh đó việc chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý đàn lợn không tốt
cũng ảnh hưởng lớn tới sự xuất hiện của bệnh như bú sữa đầu, cắt rốn, úm
lợn, bổ sung sắt... không được thực hiện đầy đủ và đúng kỹ thuật.
• Triệu chứng:
Lợn con khát nước, tính đàn hồi của da giảm, mắt lõm sâu, thở nhanh,
sâu, phân lỏng, có màu vàng hoặc hơi trắng đục dính ở hậu môn, có bọt và
chất nhầy, mùi tanh khắm. Con vật có bú hoặc bỏ bú, lông xù và dựng, da
nhăn nheo, nhợt nhạt, đuôi khoeo dính đầy phân, dáng đi siêu vẹo, thường
nằm chồng đống lên nhau.
• Điều trị:
MD Nor 100: 1 ml/10 kg TT/ngày.
Những trường hợp tiêu chảy nặng kết hợp tiêm Nova - atropin liều
1ml/con/ngày và orezol pha với 0,5 lít nước cho uống.
Liệu trình 3 - 5 ngày.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status